tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19011321
Những bài báo
30.09.2010
Nhiều tác giả
Hà Nội ta đẹp... khủng khiếp!

Nhà văn Nguyên Ngọc từng nói: Hà Nội của ta đẹp thật, đẹp khủng khiếp, đẹp đến mức người ta đã phá nó ghê gớm, phá nó riết ráo thế mà nó vẫn còn đẹp như vậy.


Kim Dung: Văn hóa bản chất của nó là sự kết tinh một cách tinh túy nhất, những giá trị vật thể và phi vật thể do con người tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử. Với ý nghĩa như thế, xin được hỏi nhà sử học Lê Văn Lan và nhà văn Hoàng Quốc Hải, ở Đại lễ 1000 năm này, cái gì là còn lại, với góc độ văn hóa của Thăng Long - Hà Nội?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Tôi vừa tham gia vào Ban tổ chức, thành viên Hội Đồng giám khảo và là Chủ tịch Hội đồng chấm thi của cuộc thi lớn với chủ đề "Tìm hiểu Thăng Long- Hà Nội 1000 năm văn hiến và anh hùng". Cuộc thi nhận được 3 triệu 200 ngàn bài thi, một kỉ lục chưa từng thấy bao giờ.


 


Xin nhắc lại chủ đề cuộc thi "Thăng Long- Hà Nội 1000 năm văn hiến và anh hùng", nghĩa là bản sắc đã được nâng lên thành bản lĩnh của Thăng Long - Hà Nội. Nó có 3 tiêu chí: Một là nghìn năm, hai là văn hiến, ba là anh hùng. Được giao trách nhiệm ra các câu hỏi cho bài thi, nhân có 3 tiêu chí bản sắc, bản lĩnh đó, chúng tôi nhớ đến bài hát của nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Thi.


 


Vừa rồi chúng ta đã có tuyển tập những bài hát về Hà Nội với 1000 bài hát và người làm tuyển tập đã nói, trong cả nghìn bài hát như thế, nếu chọn một bài, thì đó sẽ là bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi.


 


Đó là điểm gặp nhau của chúng tôi, của cuộc thi tìm hiểu Thăng Long - Hà Nội và tuyển tập 1000 bài hát về Hà Nội. Tôi nghĩ Nguyễn Đình Thi xuất thần trong Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa đó. Anh ấy đã tạo ra được một câu ca hay nhất của bài hát nổi tiếng này: "Đây lắng hồn núi sông ngàn năm".


 


Theo tôi cái còn lại của Hà Nội - Thăng Long sau ngàn năm chính là như vậy.


 


KD: Ca khúc "Người Hà Nội" là tác phẩm cụ thể nhưng lại "tóm" được hồn cốt của người Hà Nội nói chung. Nhưng đó vẫn là những giá trị phi vật thể dưới góc độ vật thể là một bản nhạc.


 


Vậy những giá trị vật thể như những công trình kiến trúc của Hà Nội sau 1000 năm ta có được sự bảo tồn và phát triển như thế nào để nó biến thành niềm tự hào của chúng ta nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Vâng, tôi có cảm giác mỗi khi nói gì về văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể để nhằm mục đích biểu dương ca ngợi hoặc nói đến mặt tích cực thì ta dễ nói hơn những gì cụ thể quá, "đụng chạm sờ mó" đến được, nhất là khi chỉ khuôn nó vào công trình kiến trúc thôi.


 


Bàn về kiến trúc Hà Nội, mới đây, KTS Hoàng Đạo Cung dẫn lại lời nhà văn Nguyên Ngọc: "Hà Nội của ta đẹp thật, đẹp khủng khiếp, đẹp đến mức người ta đã phá nó ghê gớm, phá nó riết ráo thế mà nó vẫn còn đẹp như vậy".


 


Tôi lấy làm tâm đắc về lời nhận xét này của nhà văn, nhà kiến trúc Hoàng Đạo Cung. Tôi xin mượn câu đó để trả lời nhà báo về giá trị vật thể của Thăng Long Hà Nội còn đến bây giờ.


 


Chúng ta vô tình phá gần hết


 


Tôi không hiểu tại sao chúng ta có lịch sử giữ nước oanh liệt thế mà chúng ta lại không có truyền thống giữ gìn những di sản vật thể. Cái này không biết lỗi tại ai?.


Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Xin được tiếp lời của nhà sử học Lê Văn Lan. Tôi rất đồng cảm với nhà văn Nguyên Ngọc. Đọc VietNamNet, tôi thấy tác giả cảnh báo, khéo chừng chúng ta lại kỉ niệm Thăng Long 1 tuổi, bởi chúng ta tôn tạo các di tích tốn không biết bao nhiêu tiền của, nhưng thực chất chúng ta lại phá nó đi một cách không thương tiếc, do sự vụng về của chúng ta (tôi không dám nói là dốt nát).


Nhiều cái quý báu chúng ta đập phá đi, làm cái mới để cho hoành tráng hơn, bắt mắt hơn, nhưng có biết đâu những giá trị của nghìn năm xưa kết tụ lại nói lên đủ thứ trong đó kể cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Tiếc rằng nhận thức của lớp con cháu sau này về tư tưởng cũng như kiến trúc không hiểu được ý tổ tiên.


 


Tôi nghĩ rằng cái còn lại của Thăng Long- Hà Nội là những chân móng của kinh thành mà chúng ta khai phá được. Những kiến trúc của nước ta nếu còn lại, tôi chắc nó cũng không đồ sộ, không nguy nga nhưng nếu giữ được nó còn đến bây giờ nó cũng là quý giá đến vô cùng.


 


Trong sự mất mát của Thăng Long này phải nói kẻ thù, những kẻ xâm lược của ta từ phương Bắc, từ phương Tây... nhưng dù sao chúng phá cũng không hết. Đáng tiếc, những gì còn lại, chúng ta vô tình phá gần hết. Sở dĩ tôi nói gần hết vì thỉnh thoảng chúng ta vẫn tìm lại được một cái bia đá, chân tảng hoặc cột trụ, trong đó có chạm khắc rồng hoặc lá đề, hoặc hoa sen của thời Lý, Trần. Những cái đó không khiêng đi được, không đập vỡ được, không thủ tiêu được thì nó mới còn lại.


 


Tôi không hiểu tại sao chúng ta có lịch sử giữ nước oanh liệt thế mà chúng ta lại không có truyền thống giữ gìn những di sản vật thể. Cái này không biết lỗi tại ai?


 


Rõ ràng di sản vật thể của Thăng Long- Hà Nội bây giờ nghèo nàn một cách thảm hại, đến mức chúng ta chỉ còn một số chân móng của kinh thành khai quật lên mà Ủy ban Văn hóa Giáo dục UNESCO người ta trân trọng đến mức vinh danh đó là di sản văn hóa nhân loại.


 


Như thế đủ biết nhân loại đã thức tỉnh việc phải giữ gìn nền văn hóa vật thể và phi vật thể đến mức như thế nào, vì trong vật thể chưa đựng cả phi vật thể. Sự vinh danh của Ủy ban UNESCO của Liên Hiệp Quốc là sự thức tỉnh  mọi dân tộc, là lời cảnh báo cho nhân loại biết được, hãy giữ gìn lấy những gì về văn hóa mà ta đang có.


 


KD: Mới đây, chúng tôi có một may mắn là được đi thăm đất nước Italia. Đến thủ đô Roma của nước Ý, điều cực kỳ gây ấn tượng với chúng tôi là các quần thể kiến trúc từ thời La Mã cổ đại như Đấu trường Coloseum, Tòa thánh Vatican, Đài phun nước Trevi...các quần thể thành quách của thủ đô Roma cũ kĩ vẫn được bảo tồn gìn giữ cổ xưa một cách tuyệt vời.


 


Trong khi ở Việt Nam, Cổng thành Sơn Tây trước đây, rồi mới đây là Thành Tuyên (Tuyên Quang)...được tu bổ, phục chế lại một cách thô thiển, thô bạo, phá vỡ những nét đẹp kiến trúc cổ thuần Việt của nó. Thực chất, đó là sự phá bỏ cái cũ chứ không phải bảo tồn giá trị văn hóa và kiến trúc truyền thống.


 


Liệu đây là sự khác biệt về quan điểm bảo tồn, bảo tàng, hay do tư duy, lợi ích cá nhân, do sự dốt nát về văn hóa hay do tầm nhìn của chúng ta hạn hẹp?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Từng đến Thành Tuyên hay còn gọi là Thành nhà Mạc, giờ thăm lại, cảm nhận của tôi là cái cổng thành từ thời nhà Mạc, thế kỷ XVI đã thành một cái lò gạch của thế kỷ XXI.


 


Nhưng đó là chuyện của Tuyên Quang. Còn chuyện Cổng thành Sơn Tây bây giờ là chuyện của Hà Nội, một Hà Nội mở rộng.


 


Trong quá trình tôn tạo những công trình đã được xếp hạng di tích quốc gia hoặc của địa phương đều có bằng, có sắc, rồi có lễ lạt đầy đủ, nhưng quản lý nó sau đấy thì lại phân cấp.


 


Bản thân cơ quan bảo tồn của Bộ Văn hóa khi là "vụ bảo tồn, bảo tàng", "cục bảo tồn, bảo tàng", lúc là "cục di sản"...có nhiều chuyên gia. Thế nhưng, lực lượng có chuyên môn, có tri thức thực tế chỉ nằm ở cái chóp của "kim tự tháp" (Bộ VH). Cái chóp này có chuyên môn nhưng nó nhỏ quá, không với được tới tất cả những lĩnh vực và quần thể rộng lớn kia.


 


Càng xuống tới chân hình "kim tự tháp" càng mở rộng ra. Sự bất cập của đội ngũ có trách nhiệm quản lý cũng từ đó mà ra.


 


Do bất cập của bộ máy quản lý, trình độ quản lý, ý thức, tư tưởng quản lý mà gây nên chuyện. Nhà nước đã cố gắng, dành một số kinh phí nhất định trong tình trạng khó khăn để chi trả cho việc bảo tồn, tôn tạo, khai thác giá trị của các di tích ấy. Thế nhưng, chỉ riêng những di tích đã được thống kê, xếp hạng đã là một con số khổng lồ, vượt ra ngoài tầm của cái chóp nhỏ ở bên trên.


 


Và vì thế, người ta sinh ra chủ trương được gọi với cái tên "xã hội hóa". Chủ trương thì đúng, nhưng thực thi lại có nhiều vấn đề. Có người bảo, xã hội hóa trở thành chuyện ai bỏ tiền ra người ấy làm chủ, có quyền tác động vào di tích theo sở thích cá nhân.


 


"Xã hội hóa" hay ai bỏ tiền, người ấy làm chủ?


 


KD: Xã hội hóa và phân cấp quản lý theo cơ sở nhưng về mặt khoa học bảo tồn bảo tàng, thiết tưởng vẫn phải có tiêu chí chung?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Xin dẫn ra câu chuyện cụ thể về chùa Hòe Nhai. Chùa Hòe Nhai rất giàu giá trị về văn hóa, tín ngưỡng, lịch sử, nơi có bia đá ghi lại trận quyết chiến Đông Bộ Đầu năm 1258. Ở đấy còn có cả hệ thống tượng để cho biết phái Tào Động đã đến Thăng Long- Hà Nội, đến Việt Nam như thế nào. Một bên là tôn giáo của thiền phái Tào Động, thần quyền, một bên là vương quyền...Đó là những giá trị rất đẹp, rất quý của chùa Hòe Nhai.


 


 


Bàn về kiến trúc Hà Nội, mới đây, KTS Hoàng Đạo Cung dẫn lại lời nhà văn Nguyên Ngọc: "Hà Nội của ta đẹp thật, đẹp khủng khiếp, đẹp đến mức người ta đã phá nó ghê gớm, phá nó riết ráo thế mà nó vẫn còn đẹp như vậy". Ảnh: Phạm Hải


 


Ngôi chùa được tôn tạo trong chương trình 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, với kinh phí 10-12 tỷ đồng từ ngân sách. Thực tế, việc tôn tạo hết hơn 20 tỷ. Vậy số tiền hơn 10 tỷ đồng thêm vào này ở đâu ra? Đó là xã hội hóa.


 


Khi bỏ 1 tỷ đồng công đức, người ta muốn cái mái phải cong thế này, cái tượng phải vàng chóe thế kia, con rồng phải đắp thế khác... Ở đây lại là vấn đề thị hiếu của người có tiền và có tâm công đức. Vấn đề là, thị hiếu của họ chưa được đào luyện, sàng lọc, để có thể tôn tạo đúng đắn.


 


Tâm lí thích làm to trở thành lấn át. Chúng ta quên mất truyền thống của dân tộc này về mặt văn hóa là chuộng cái tinh tế, cái nhỏ nhắn xinh xắn chứ không phải chuộng to.


 


KD: Các nhà nghiên cứu văn hóa, các cán bộ Sở văn hóa ở đâu khi để tình trạng xã hội hóa dẫn tới cái sở thích của một vài cá nhân hoặc "Mạnh thường quân" chỉ đạo việc tôn tạo?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Các nhà nghiên cứu văn hóa hôm nay còn bận viết bài về lịch sử phật giáo, ngày mai lại viết quan họ cần phải được xếp hạng như thế nào, hôm sau nữa lại bàn đầu tư vào hát xoan ra sao... Họ bận rộn, nhiều việc phải làm (!)


 


Vấn đề ở đây là những người trực tiếp quản lý. Mỗi ban quản lý cấp bộ, cấp cục có 15 người xuống đến thành phố. Trong khi đó di tích hàng vạn mà hàng vạn trong cái xu thế xã hội hóa.


 


Cái chữ "xã hội hóa" ở đây nó giết chết người ta. Thực chất xã hội ở đây là ai? Là một nhóm người có tâm đấy, và có tiền đấy, nhưng cái thị hiếu, giá trị của trí tuệ, của văn hóa đích thực, của mỹ học lại thiếu.


 


Chỉ có cái tâm, có tiền là người ta làm, nên mới sinh ra ngôi chùa 2-3 tầng. Màu nâu sồng dân dã, hòa đồng với số phận những người khó khăn tìm đến sự an ủi cũng bị thay thế. Nào vàng, nào ngọc, nào ánh sáng lập lòe.


 


Đó là thứ thị hiếu thị dân non kém. Từ thị hiếu đó đẻ ra những sản phẩm lai căng như bây giờ.


 


Có hàng nghìn những thành nhà Mạc, thành Sơn Tây, chùa Hòe Nhai như thế ở Việt Nam này.


 


Không thể đổ lỗi!


 


Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Tôi cho rằng GS Lê Văn Lan giải thích rất có lý. Nhưng nếu ta cứ thế công nhận cái "xã hội hóa", ta sẽ phải chịu trách nhiệm về xã hội này.


 


Theo tôi, cái lỗi chính nằm ở quy chế, luật về bảo tồn tôn tạo của chúng ta không rõ ràng. Hai là, chúng ta không đào tạo những cán bộ kỹ thuật có tay nghề để tu bổ các di tích lịch sử. Họ không có kiến thức lịch sử về xây dựng những công trình cổ đại. Không hiểu biết nên họ phá là dễ hiểu.


 


Chúng ta không thể đổ lỗi cho những người bỏ tiền ra. Họ có tâm, và họ có tiền. Nếu chúng ta có những quy chế rõ ràng thì họ không thể ngạo mạn, áp đặt bất cứ cái gì vào văn hóa công cộng của xã hội, của quốc gia được.


 


Văn hóa là bộ mặt của quốc gia. Không phải bất kỳ kẻ có tiền nào cũng có thể áp đặt cái xu hướng riêng của mình vào đó được. Cho nên ở đây, lỗi ở đây là ở quy chế chưa luật hóa được. Và nhìn rộng ra, chúng ta chưa nghĩ đến việc đào tạo đội ngũ cho các tỉnh, các địa phương để người ta biết cách quản lý. Và chúng ta cũng chưa phục chế, tu bổ được những di tích nào làm mẫu để cho các nơi người ta về đó học.


 


Tôi lấy ví dụ như Tháp Chàm ngay Phan Rang (Ninh Thuận). Chúng ta nhờ các chuyên gia của Ba Lan tu bổ cho. Sau khi tu bổ xong thì bất cứ một người Chăm nào cũng nói: "Đây đúng là tháp Chàm của chúng tôi". Nó đẹp vô cùng. Còn chúng ta, chúng ta chưa làm được cái nào được gọi là mẫu.


 


Tôi lấy ví dụ như chùa Kim Liên vốn xưa xây dựng y hệt như chùa Tây Phương. Chùa bị đổ nát, chúng ta chở về đấy không biết bao nhiêu gạch gỗ để phục dựng lại một chùa Kim Liên.


 


Không thiếu gạch, không thiếu gỗ, không thiếu tiền, không thiếu công nhân, không thiếu bất cứ một thứ gì nhưng sau khi chùa Kim Liên xây dựng xong thì tôi thấy nó là một công trình u tối. Tôi đã phải nói rằng đây là một công trình "kim cổ kỳ quặc".


Chùa Tây Phương hoàn toàn dùng ánh sáng trời, ở đấy cấu tạo, xây dựng theo hình chữ tam. Giữa ngôi nhà thứ nhất và ngôi nhà thứ hai có khoảng cách 2-3m để lấy ánh sáng trời thì ở đây người ta lại xây dựng sát vào nhau làm một cái máng để cho nước chảy ra ngoài. Cột thì làm rất thấp, cho nên chiều cao của ngôi chùa thấp đến nỗi tượng phải đặt xuống đất. Bệ tượng cuối cùng ngang với thắt lưng người. Mà đó là công trình do Bộ Văn hóa chỉ đạo xây dựng, tu bổ.


Nếu đổ lỗi chính là do quy chế quản lý và tầm nhìn của chúng ta đối với việc trùng tu, tôn tạo như thế nào. Chúng ta không thể đổi lỗi cho việc "xã hội hóa" được.


Người ta bỏ tiền ra người ta cũng muốn làm cho nó đẹp. Không có người hướng dẫn làm cho đẹp thì người ta cứ làm theo ý mình.


Nếu chúng ta có quy chế chặt chẽ thì anh không thể ngạo mạn áp đặt bất cứ một ý muốn nào của anh vào đấy được. Công trình là bộ mặt văn hóa quốc gia, không ai được phép làm xấu nó.


Cho nên, xã hội hóa là rất cần thiết nhưng nó phải có một tư tưởng chủ đạo về mặt văn hóa, chứ không phải để cho bất cứ một kẻ có tiền nào muốn làm gì thì làm. Với cách làm hiện nay, không biết kiến trúc của chúng ta sẽ nhếch nhác như thế nào.


Bộ Văn hóa phải nhận lãnh trách nhiệm, không thể đổ lỗi cho ai khác. Chúng ta phải có trách nhiệm quản lý về mặt văn hóa, chứ không thể thả lỏng như thế được.


Nếu không nhìn cho ra, cho rõ nguyên nhân, thì chính nó sẽ phá hủy toàn bộ những gì chúng ta cần gìn giữ. Đến lúc ấy chúng ta không biết chê trách ai cả. Tôi nghĩ, đã đến lúc các kiến trúc di tích lịch sử xây dựng mới hoặc phục dựng, trùng tu, tôn tạo phải đi vào quy chuẩn chặt chẽ.


Tôi lấy ví dụ, muốn phá bỏ, dỡ bỏ nó cần chụp ảnh, quay phim tất cả chi tiết của nó như thế nào, phải vẽ nó ra rồi đến khi phục dựng lại làm giống hệt như thế. Với tháp Chàm, người ta đã làm như vậy. Còn nếu ta cứ mặc sức để cho mấy người thợ mới vào nghề, do mấy anh cai thầu chỉ huy cho họ làm, thì văn hóa sẽ tàn lụi đi.


 


 


"Hà Nội đâu phải nơi tá túc để kiếm chác"


Đô thị hóa vuột khỏi sự kiểm soát


 


KD: Cá nhân tôi bằng sự trải nghiệm một đời làm báo, tôi thấy với bất cứ quốc gia nào nói chung và thủ đô nói riêng, thì văn hóa vẫn là một trong bốn ngọn cờ: Kinh tế, Đối ngoại, Văn hóa, Giáo dục. Nếu nhìn nửa cuối thế kỉ 20 vắt sang thế kỉ 21, về kinh tế Việt Nam có sự chuyển động, từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, có những thành quả nhất định về tăng trưởng kinh tế hàng năm. Về đối ngoại, Việt Nam đã tham gia và đóng góp tích cực trong các tổ chức khu vực và quốc tế. Về giáo dục, cho dù có những sự chê bai thì cũng đã có những cuộc cải cách hay  đổi mới, tìm tòi để cứu vãn những  bất cập, khủng hoảng của giáo dục.


Thế nhưng, về văn hóa, trong  khi ở các nước tiên tiến, văn minh,  văn hóa được coi là một thứ " tôn giáo" cao sang nhất, được sùng bái và tôn vinh nhất, thì ở ta lại ngược lại... Những giá trị vật thể, phi vật thể càng  ngày càng xuống cấp...


Lí do đằng sau sự suy tàn đó là gì? Do chúng ta dốt nát, do tư duy, tầm nhìn  hạn hẹp hay do ta trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh đói khổ chỉ lo ăn mặc nên không lo văn hóa?


Cái truyền thống từ xa xưa vốn đã có sự níu kéo giữa mấy hòn cù lao lác đác đô thị với "biển cả" nông thôn như thế, thì giờ ta đã và đang làm một quy trình ngược suốt mấy nghìn năm: "Nông thôn hóa" đô thị.


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Tôi cũng đã có nhiều suy nghĩ và cũng trên đôi lần thử giải đáp câu hỏi này.


Ta nói về chuyện này cho có thứ tự, có lớp lang  theo mấy mệnh đề, phạm trù khác nhau.


Một là, truyền thống Thăng Long- Hà Nội có đúng là truyền thống văn hiến như chúng ta đang hô hào cổ vũ? Điều này cũng giống việc cứ nói đến gì tốt đẹp thì nhắc đến thời hoàng kim Nghiêu Thuấn, vườn địa đàng Eden mà quên mất ở đó có nhiều yếu tố hư ảo, không có thực.


Vậy ở đây vấn đề là gì khi người ta thiếu vắng thực tế ở một lát cắt thời gian lịch sử nào đó?


Nghìn năm văn hiến của Thăng Long Hà Nội dù có yếu tố mơ ước nhưng dưới góc độ một người nghiên cứu cổ sử, tôi có thể khẳng định, nghìn năm văn hiến ấy vẫn là chuyện có thực, dù không phải là toàn bộ sự thực.


KD: Cụ thể thế nào, thưa ông?


Nhà sử học Lê Van Lan: Đơn cử như chuyện học hành, sự trưởng thành lên, đẹp đẽ lên của phẩm chất, trí tuệ, con người Thăng Long- Hà Nội, hay nói cách khác, bàn về sự học của đất kinh kì.


Liên quan đến sự học và nói đến sự học, chúng ta cũng còn nhiều điều không hài lòng. Có phải vì không hài lòng nhiều điều về sự học thời bây giờ mà chúng ta hay nói về thời hoàng kim Nghiêu Thuấn, về một vườn địa đàng Eden, chỉ quanh sự học của Thăng Long- Hà Nội nghìn năm hay không? Thực tế điểm này hoàn toàn có thể chứng minh được.


Chúng ta có Văn Miếu Quốc Tử Giám, có 82 bia tiến sĩ được thế giới nhân loại thừa nhận là di sản trong ký ức của nhân loại. Chúng ta cũng có hàng nghìn câu chuyện về đức tính hiếu học, phương pháp học hành, việc vận dụng những tri thức mà người Thăng Long- Hà Nội đã rèn tạo nên, để rồi cuối cùng giúp ích cho đời, tạo ra một Thăng Long- Hà Nội nghìn năm văn hiến.


Như nhà văn Hoàng Quốc Hải nói, chúng ta còn lại những bia đá. Số lượng bia đá còn lại quả là một vấn đề, nhưng chất lượng còn quan trọng hơn. Chỉ một bia tiến sĩ khoa thi năm Đại Bảo 1442 do vua Lê Thánh Tông chủ trì, chỉ đạo tư tưởng, và Thân Nhân Chung chấp bút mà nói cho kĩ cũng thấy nhiều điều. Trên văn bia ấy có câu: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Đó là cái chất của 82 bia tiến sĩ ấy. Đây là bằng chứng cho chuyện văn hiến thi thư là có thật, không phải toàn bộ là hoàng kim Nghiêu Thuấn, địa đàng Eden.


Cái gọi là thanh lịch của người Tràng An cũng ở chỗ này. Thăng Long - Hà Nội là trung tâm quyền lực quốc gia, nó đồng thời cũng là trung tâm văn hóa bác học, văn hóa cung đình, nơi tập hợp đội ngũ tri thức để thực hiện quyền lực đó. Đó là điều kiện, là nguyên nhân làm xuất hiện truyền thống, xu thế, nhu cầu học hành chữ nghĩa để rồi đi thi đỗ đạt. Để một mặt được vào bia tiến sĩ, một mặt vào viện hàn lâm, vào Đông Các, nơi làm ra các sản phẩm trí tuệ. Tôi cho đó là một cách cắt nghĩa để nói về điều kiện, hoàn cảnh và cả nguyên nhân của cái gọi là thi thư văn hiến 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.


Bây giờ chúng ta ứng xử với truyền thống có thực đó như thế nào? Vô cùng nhiều vấn đề, nhưng với góc độ nghiên cứu sử học, có "đá" một chút sang phương diện xã hội học, tôi muốn nêu một chuyện thôi: Đô thị kinh kỳ Thăng Long - Hà Nội nghìn năm là một đô thị hiếm.


Có thể dùng hình tượng này để diễn giải: Chính đất nước này, dân tộc hình chữ S này là đại dương của 3 chữ Nông: Nông thôn, nông dân và nông nghiệp. Ba chữ nông ấy là bản chất của dân tộc này, của văn minh văn hóa này. GS Trần Quốc Vượng còn gọi 3 chữ Nông này là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam. Trên cái mênh mông như thế, trong lịch sử có thực nổi lên lác đác những hòn cù lao, lác đác, hiếm ít và nổi lên cũng không được cao lắm, đó chính là những đô thị. Trong số đó, hòn cù lao lớn nhất là Thăng Long- Hà Nội.


Chúng ta đang nói đến việc hình dung, phân loại cấu trúc của xã hội lịch sử dân tộc này trên nền tảng của 3 chữ Nông, thì có một số đô thị hiếm ít nhưng vô cùng quý giá bởi tính cách nó là đô thị chứ không phải nông thôn. Đó là sản phẩm nghìn năm mới tích lũy được, mới xây dựng được, trong đó sản phẩm sáng giá nhất là Thăng Long- Hà Nội.


Từ đô thị đó đẻ ra nền văn hóa bác học, cung đình. Còn ở vùng nông thôn, có nhiều lắm tinh thần yêu nước, cần cù dũng cảm, còn về mặt đích thực văn chương văn hóa thì quá hiếm hoi. Văn hóa dân gian ở vùng 3 chữ Nông, còn văn hóa bác học, cung đình thì ở đô thị.


Bây giờ chúng ta đang tiến hành đô thị hóa, nhưng chưa kiểm soát được quá trình đô thị hóa này. Lỗi của chúng ta là để cho nó vượt ra khỏi tầm tay của sự kiểm soát nhân danh đô thị hóa.


Cái truyền thống từ xa xưa vốn đã có sự níu kéo giữa mấy hòn cù lao lác đác đô thị với "biển cả" nông thôn như thế, thì giờ ta đã và đang làm một quy trình ngược suốt mấy nghìn năm: "Nông thôn hóa" đô thị. Chúng ta đang để việc nông thôn hóa đô thị này diễn ra xô bồ, gấp gáp.


Lãng quên văn hóa ngàn năm...


 


KD: Quá trình đô thị hóa nông thôn trước đây có thể kéo dài hàng nghìn năm nhưng tốc độ chậm do đặt trên một nền tảng khoa học kỹ thuật, kinh tế, triết học lạc hậu, cổ xưa... nhưng nông thôn hóa đô thị hiện nay tốc độ lại nhanh hơn, bởi nó là thời hiện đại? "Chúng ta cần phải mở trường để dạy những người Hà Nội bây giờ sao cho đúng là người Hà Nội. Những người có cốt cách, phẩm chất Hà Nội bây giờ chỉ còn lại con số vài vạn. Bên cạnh họ và tác động đến họ hằng ngày lại là số dân lớn hơn gấp nhiều lần"- Nhà sử học Lê Văn Lan


Nhà sử học Lê Văn Lan: Nhanh, gấp gáp và xô bồ. Tôi cho đó là mấy thuộc tính của đô thị hóa bây giờ.


Và một quá trình đang diễn ra và lại diễn ra gấp gáp, xô bồ thì nó sẽ làm cái tinh túy, tinh hoa vốn đã có sẽ bị gấp gáp hóa, xô bồ hóa nhân danh cái văn hóa nông thôn. Chúng ta không báng bổ gọi văn hóa ở vùng 3 chữ Nông này là phần lớn có nhiều vấn đề, nhưng khi nó nguyên vẹn như thế vào đô thị thì chắc chắn có vấn đề.


KD: Tuy nhiên, mỗi xã hội có một thể chế, một cơ chế quản lý riêng. Vậy các chủ trương chính sách của nhà nước về mặt văn hóa lâu này chẳng nhẽ không đủ sức tác động, hay bản thân các chính sách quản lý văn hóa ấy cũng có vấn đề, không kiểm soát nổi quá trình nông thôn hóa đô thị?


Nhà sử học Lê Văn Lan: Chính sách văn hóa này nằm trên nền tảng của một hệ thống chính sách khác - những chính sách chúng ta chưa thật sự làm chủ được. Chúng ta để vượt ra khỏi tầm tay. Bây giờ chỉ nhìn vào một tế bào, một kênh dẫn của quá trình đang diễn ra, chúng ta sẽ thấy ngay.


Đơn cử, nói về văn hóa giao thông. Ở đô thị, ta đang chứng kiến văn hóa giao thông nông thôn: Đường ta ta cứ đi, cứ xông lên phía trước, hăng hái vượt trên một con đường tắc nghẽn. Cái gọi là văn hóa nông thôn đó hiện hình ngay giữa đô thị.


Lấy ví dụ khác, là văn hóa ẩm thực. Thăng Long- Hà Nội là trung tâm quyền lực quốc gia, có Hoàng Thành, hoàng cung, rồi giới quan lại sĩ phu hàng ngày từ chỗ kinh thành đi về. Văn hóa ẩm thực cũng theo đó mà hình thành. Đơn cử cụ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi từ phường Bích Câu vào hoàng cung, cụ làm Tể tướng, rồi lại về phường Bích Câu sống với cháu là Nguyễn Trãi. Cái ăn của cụ thanh cảnh, tinh tế. Một bát bún thang cũng phải bày biện sao cho màu sắc hài hòa, đẹp mắt...Sự tinh tế của cụ Trần Nguyên Đán chính là nhân danh văn hóa bác học, văn hóa cung đình, cái làm nên một Thăng Long- Hà Nội.


Còn bây giờ, người ta lãng quên văn hóa. Người ta có thể ngồi vỉa hè, ngay bên cạnh các cống rãnh, nâng những cốc bia ngầu bọt, mà "dzô, dzô"... Còn đâu văn hóa Thăng Long - Hà Nội?! Những người đó không cần biết đến sự tinh tế của văn hóa ẩm thực ở Thăng Long - Hà Nội.


Đó là một hình ảnh nữa về văn hóa nông thôn khi vào đô thị, mà lại làm chủ đô thị, hay chí ít là lan tràn đến mức không kiểm soát được, không "khuyên giải" nổi. Không ai còn muốn bàn đến nó, chứ đừng nói chuyện ra chính sách, điều lệ văn hóa ở đô thị...


 


Mở trường dạy làm người Hà Nội?


KD: Nhiều bạn đọc gửi thư về Tuần Việt Nam nêu hai vấn đề quan ngại: Các giá trị vật thể được tu tạo và phát triển như thế nào và thứ hai là vấn đề về những giá trị phi vật thể. Đặc biệt những vấn đề phi vật thể, những giá trị về đạo lý, văn hóa, ứng xử của người Hà Nội đã  thu hút khá nhiều  sự quan tâm, lo lắng của bạn đọc.


Bạn Phạm Vinh nói rõ là: Hiện nay, phần lớn những cư dân Hà Nội là dân nhập cư thế hệ thứ nhất đã có những cách cư xử không đúng với nét thanh lịch của người Hà Nội. Theo bạn, để có những công dân Hà Nội thanh lịch thì có lẽ cần mở những ngôi trường dạy làm người Hà Nội. Theo ông Lê Văn Lan, vì sao mà văn hóa người Hà Nội bây giờ cũng bị suy tàn?


Nhà sử học Lê Văn Lan: Tôi hoàn toàn tán đồng với đề xuất của bạn Phạm Vinh. Chúng ta cần phải mở trường để dạy những người Hà Nội bây giờ sao cho đúng là người Hà Nội.


Tôi chỉ thêm một điều nữa, muốn vậy, chúng ta phải mở một ngôi trường mà nếu lấy mô hình Trường Phương Đình của cụ Nguyễn Văn Siêu- bây giờ còn di tích ở phố Ngõ Gạch, phố Nguyễn Siêu. Nhưng thay vì mỗi cạnh của ngôi trường vuông ấy là 20 mét, thì chúng ta cần ngôi trường có chiều dài mỗi cạnh là 20 km.


 


KD: Vì sao mà ngôi trường lại mở rộng về quy mô như thế, thưa ông?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Từ chỗ theo ông Alexander de Rhodes, thế kỉ 17-18, dân số Hà Nội có 5 vạn người, nên không gian tương ứng chỉ cho 5 vạn người ấy ở nội thành Hà Nội. Bây giờ dân số Việt Nam đã lên 6 triệu người. Với dân số vài vạn dân, một ngôi trường đào tạo có cạnh vuông 20 mét của cụ Nguyễn Siêu là thích hợp cho những người vốn có nguồn gốc, phẩm chất của người Thăng Long- Hà Nội.


Những người có cốt cách, phẩm chất Hà Nội bây giờ chỉ còn lại con số vài vạn. Bên cạnh họ và tác động đến họ hằng ngày lại là số dân lớn hơn gấp nhiều lần. Và vì thế, đương nhiên, đòi hỏi sẽ lớn hơn. Phải mở một ngôi trường khổng lồ như thế mới may đáp ứng được yêu cầu (!)


KD: Tức là cả Hà Nội cần phải biến thành trường học?


Nhà sử học Lê Văn Lan: Hoàn toàn chính xác.


KD: Cốt cách người Hà Nội đã từng vào thơ ca, nhạc họa, làm say đắm lòng người. Theo ông, những nét biểu trưng nhất, hay nhất, đẹp nhất, mang tính mỹ cảm nhất của người Hà Nội là gì? Liệu có gì đáng lo ngại trong người Hà Nội hôm nay? Và làm sao để sức lan tỏa của những giá trị tinh túy, tài hoa của người Hà Nội có thể trở thành số đông?


 


Nhà sử học Lê Văn Lan: Đây là cả một vấn đề lớn và gây nhiều xúc cảm. Và cảm xúc thường là nỗi buồn chứ không phải là niềm vui, thậm chí còn là nỗi đau...


 


Đừng là những "thị dân non"


KD: Liệu nỗi đau đấy có mang tính chất riêng tư nhiều không, bởi vì sự quan tâm tới người Hà Nội, tới phong cách người Hà Nội, tới "Người Hà Nội" như ca khúc của Nguyễn Đình Thi, nó là điều có thể khiến mọi người phải lưu giữ mãi trong lòng và cũng khơi gợi cảm xúc. Hay đó chính là điều số đông mọi người phải cùng quan tâm? Theo ông giờ đây phong cách người Hà Nội mất đi ở những điểm nào?


Nhà sử học Lê Văn Lan: Trong phần thi tự luận của cuộc thi "Tìm hiểu Thăng Long- Hà Nội văn hiến và anh hùng", ban tổ chức đã quy định không quá 1000 chữ. Thế nhưng, ai cũng viết thành một công trình dày vượt quy định. Và mỗi bài là cả một niềm tin cậy, mong ước của cả nước với Hà Nội. Thực tế cuộc sống khiến ta không đau không được. Họ đặt niềm kì vọng, trông đợi qua những cuộc thi như thế.


Để Hà Nội thực sự là nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm" thì phải hỏi ngay những công dân Hà Nội, gọi đúng vị trí của họ: Những thị dân. Chúng ta lâu nay quên nhắc người Hà Nội điều đó. Có là thị dân thì anh mới có lối sống, ý thức của người dân ở đô thị... mà ứng xử cho đúng đắn.


KD: Tuy nhiên, người ta hay nói đến khái niệm thị dân mang nghĩa ích kỉ, nhỏ nhen, ghen tị, giả dối...?


Nhà sử học Lê Văn Lan: Thực ra thị dân vốn do dịch thuật mà ra, theo nghĩa là người ở đô thị. Thế nhưng một thời, chữ ấy bị biến thành tư sản. Phong trào phản phong, phản đế, chống tư sản đã giết danh thị dân.


Vì thế, việc đầu tiên ta phải giảng giải để hiểu thực chất hai chữ "thị dân", nguồn gốc, và biến thiên của nó. Từ đó, mới đặt ra yêu cầu về phẩm chất, tinh thần, ý thức, tình cảm của người thị dân, tức là người sống ở đô thị. Anh sống ở đô thị thì anh là thị dân, thế thôi, đừng kèm cho nó cái gì xấu vào đấy. Ý thức được điều đó, anh sẽ trở thành thị dân chân chính chứ không phải là "thị dân non", càng không phải là những người tá túc đến đô thị này để kiếm chác. Nói như câu lưu truyền: Hà Nội là bầu vú nhiều sữa, người ta bám vào để hốt, hút, rồi bay về tổ...


Với cách hành xử như vậy, làm sao có thể xây dựng được đô thị này thành nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm".Vì thế, nếu có gì để nhắn nhủ với "Người Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi, thì tôi chỉ có một điều: Hãy cố gắng làm người thị dân chân chính cái đã.


Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Có một trường dạy để làm người Hà Nội chỉ là một khát vọng của GS Lê Văn Lan thôi. Chứ tôi sợ rằng, nếu nhà nước có bỏ kinh phí ra lập một ngôi trường như thế, thì học viên có thể có, nhưng anh sẽ không tìm thấy thầy đâu. Lấy ai ra mà dạy?


Nhà sử học Lê Văn Lan: Chính vì thế mà tôi đang nói tới nỗi buồn và cả nỗi đau.


(còn tiếp)


tuanvietnam.vietnamnet.vn


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sát cánh chống xâm lăng: Phi công VN cộng hoà và phi công VN dân chủ cộng hoà - Mai Thanh Hải 29.04.2017
Nào ai có lòng với nước hơn ai? Nước ơi! - Lưu Trọng Văn 29.04.2017
Nói một chút về chính trị: Việc anh Thăng sẽ bị kỷ luật! - Triệu Xuân 28.04.2017
Bà con vùng sạt lở sông Vàm Nao thoát nạn nhờ một người tắm sông - Nhiều tác giả 26.04.2017
Cuộc đời và văn nghiệp của cha tôi: Bình Nguyên Lộc - Tống Diên 26.04.2017
Khi tờ báo gia đình đối đầu các ông lớn - James Warren 25.04.2017
Tranh cãi về 'tượng Đức Ông' ở đền Quán Thánh - Tư liệu 24.04.2017
Ngáo đá, lộ hàng, chảnh chó... sáng tạo hay méo mó tiếng Việt? - Vũ Viết Tuân 23.04.2017
Về thị trường sách và việc xuất bản - Hà Thủy Nguyên 18.04.2017
Cảm nhận của một bạn trẻ Ba Lan lần đầu đến Sài Gòn - Szymon Siudak 14.04.2017
xem thêm »