tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20516324
Những bài báo
29.09.2010
Tư liệu sưu tầm
Nguyễn Huy Tưởng - Danh sỹ Hà Nội

Nhà "Hà Nội học" trong văn chương


Giới nghiên cứu, phê bình tôn vinh Nguyễn Huy Tưởng là “nhà chép sử bằng văn chương” xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Nhưng theo chúng tôi,  bên cạnh danh hiệu cao quý và đích thực đó, có thể nói, Nguyễn Huy Tưởng còn là “nhà Hà Nội học” trong văn chương.


Nhà văn Nguyễn Tuân trong lời bạt cuốn tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô đã cảm nhận: “Đọc lại tiểu thuyết lịch sử, kể cả Sống mãi với thủ đô, người đọc vẫn thấy gây gây mùi khói vương vấn ngàn năm Thăng Long chốn cũ”(1).


Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng bị lôi cuốn bởi các sáng tác về Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng vì theo ông: “Những cái tên sách gợi lên hình ảnh một cái đài tưởng niệm bằng ngôn ngữ, một vòng nguyệt quế từ bàn tay nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đặt lên trán những trai thanh, gái lịch của Hà Nội rất giàu lòng yêu nước”(2).


Dù viết về lịch sử hay Hà Nội thì trong cảm quan sáng tạo của nhà văn, trong thực chất và chiều sâu của vấn đề, của nghệ thuật vẫn chỉ là “hai trong một”. Kinh thành Thăng Long, Thủ đô Hà Nội xưa và nay thấm trên từng trang văn Nguyễn Huy Tưởng. Và vì Thăng Long – Hà Nội là trái tim của Tổ quốc nên trong sáng tác của nhà văn, thánh địa Thăng Long – Hà Nội đã vượt qua biên độ của chính nó, hòa nhập vào hồn thiêng của dân tộc. Chính mạch ngầm của “những buổi ngày xưa vọng nói về” đã hun đúc nên hào khí và cốt cách người Hà Nội trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng.


Đó là Trần Văn của Sống mãi với Thủ đô. Anh là một trí thức yêu nước, hiểu biết sâu sắc truyền thống lịch sử của dân tộc, khinh bỉ giàu sang, tự nguyện ở lại Hà Nội tham gia chiến đấu nhưng “tự đáy lòng, anh ghét chiến tranh, ghét cả cái tên của nó”(3).


Cũng như Trần Văn, các học trò của anh trước giờ phút lâm nguy của Thủ đô đã quyết sống chết không rời Hà Nội. Nhưng trong thâm tâm Trần Văn “chợt thấy bất nhẫn không muốn để cho những người đang tuổi đi học kia phải xếp quyển vở lại để cầm một thứ vũ khí nào đó và không bao giờ trở lại dưới mái trường”(4). Với Trần Văn, những biến cố xảy ra trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến như một định mệnh khiến anh luôn xuất hiện đúng lúc bên Trinh – người yêu cũ trong những tình huống hiểm nghèo.


Khi xảy ra tác chiến ở nhà máy đèn, chồng Trinh bị một tên lính Pháp bắn chết, Trần Văn đã ngẫu nhiên cứu được mẹ con Trinh ra khỏi hầm trú ẩn. Rồi sau một trận đánh, Trần Văn lại tình cờ gặp Trinh đang bế đứa con nhỏ trên tay, mệt mỏi, tuyệt vọng trong đám người hỗn độn chưa kịp tản cư. Lúc này, trước mặt anh “Trinh chỉ là một người cơ nhỡ, một nạn nhân của chiến tranh. Nhìn Trinh nhỏ bé trong bóng tối, lảo đảo vì mệt mỏi, khuỵu luôn, trật giày luôn, anh thấy ngậm ngùi thương xót. Anh nghĩ phụ nữ và trẻ con là những người phải chịu cái gánh nặng của chiến tranh nặng nề hơn cả, vì là những người yếu đuối nhất đời, mỏng manh như cái bóng nước chỉ một giọt mưa nhẹ cũng đủ làm cho tan đi như đã không có. Trong lúc này, giúp họ cũng lớn như đánh giặc”(5). 


Khi ấp ủ dự định viết một trường thiên tiểu thuyết về Liên khu I, Nguyễn Huy Tưởng đã nghĩ đến cái tên: Thề với phố phường, rồi Sống mãi với phố phường và cuối cùng mới là Sống mãi với Thủ đô. Còn với truyện phim Lũy hoa, lấy từ cái “xương sườn” của Sống mãi với Thủ đô (theo cách nói của Nguyễn Tuân) đã bao quát toàn bộ Sống mãi với Thủ đô thể hiện trọn vẹn ý tưởng của nhà văn, với kết thúc ngày về chiến thắng của Trung đoàn Thủ đô, ban đầu có tên là Hoa trên chiến lũy.


Như vậy nhan đề Sống mãi với Thủ đô và Lũy hoa được đặt bởi sự nung nấu, nghiền ngẫm trong tư duy sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng để cuối cùng có được cái tên vừa ý đặt cho những đứa con tinh thần của mình. Đó là những nhan đề vừa khái quát vừa gợi cảm, vừa đa nghĩa, vừa ấn tượng và đặc biệt rất Hà Nội, mang đậm dấu ấn lịch lãm, hào hoa của chủ thể sáng tạo, của một cái tôi nghệ sĩ hòa quyện với ý thức công dân và thiên chức của người trí thức - nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thật sự ám ảnh và thuyết phục với người đọc.


Là một cây bút có kiến văn sâu rộng, am hiểu sâu sắc truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, Nguyễn Huy Tưởng đã tìm thấy chất liệu thẩm mỹ cho sáng tác của chính mình. Những liên tưởng, đối chiếu giữa kiến thức sách vở với những trải nghiệm trong cuộc đời, Hà Nội đã vào văn ông, làm nên “toàn bộ hồn cốt và đường nét trong văn ông”, khiến độc giả không chỉ thiện cảm với tác giả tiểu thuyết mà còn yêu quý hơn “Hà Nội – trung tâm tim óc của cả nước. Qua bao triều đại, chế độ, cái tim óc bền dẻo vĩ đại ấy đã đập đều trên chín thế kỷ rưỡi”(6) như cảm nhận của Nguyễn Tuân và đến bây giờ, “cái tim óc bền dẻo vĩ đại ấy” đã đập đều đến nghìn năm Thăng Long, đến chẵn 10 thế kỷ.


 


Định mệnh đã không cho phép Nguyễn Huy Tưởng đi hết hành trình sáng tạo nhưng tác phẩm của ông không bị phủ bụi thời gian. Văn Cao đã dành cho ông những câu thơ như sau: “Cái chết của anh, cái chết của một nhà văn – không bao giờ là cái chết” bởi tác phẩm của ông đã lưu giữ hình bóng con người và không khí đặc biệt của một thời điểm lịch sử, sẽ còn Sống mãi với Thủ đô, với Thăng Long, Hà Nội.


 


(1) Nguyễn Huy Tưởng về tác gia và tác phẩm. Nxb. Giáo dục, H, 2007; tr.246.


(2) Nguyễn Huy Tưởng về tác gia và tác phẩm. Nxb. Giáo dục, H, 2007; tr.582.


(3) Sống mãi với Thủ đô, in trong Nguyễn Huy Tưởng toàn tập, Tập IV. Nxb. Văn học, H, 1996; tr.33.


(4), (5) Sống mãi với Thủ đô, in trong Nguyễn Huy Tưởng toàn tập, Tập IV. Nxb. Văn học, H, 1996; tr.39; tr.452.


(6) Nguyễn Huy Tưởng về tác gia và tác phẩm. Nxb. Giáo dục, H, 2007; tr.245.


 


Bích Thu


 


Nhà văn Đặng Thai Mai với cha tôi - Nguyễn Huy Tưởng


Cha tôi sinh năm Nhâm Tý 1912. Nhà văn Đặng Thai Mai sinh năm 1902, hơn cha tôi vừa tròn chục tuổi. Sự chênh lệch tuổi tác này không phải là nhỏ, nhưng cũng không là quá lớn. Nếu so với một số người được coi là “cùng trang lứa”, như nhà văn Nguyễn Đình Thi, họa sĩ Dương Bích Liên, cha tôi còn chênh tuổi hơn.


Hai ông nghệ sĩ này cũng sinh năm Tý, nhưng kém cha tôi vừa tròn một giáp. Vậy mà giữa cha tôi với các ông, hầu như không hề có sự cách biệt về tuổi tác. Cha tôi luôn xưng với các ông là anh-tôi, ngược lại cũng vậy.


Thậm chí nhiều khi họ còn xưng tên với nhau nữa, như giữa những người bạn đồng niên. Họa sĩ Dương Bích Liên trong một bức thư gửi cha tôi, sau khi ký tên, còn kèm theo mấy chữ “Bạn yêu Tưởng”. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng trong một bức thư đã gọi cha tôi là Hòa và xưng là Học (bí danh của hai ông hồi kháng chiến)...


Với nhà văn Đặng Thai Mai thì lại khác. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ cuối những năm 1930, khi cha tôi đến với phong trào Truyền bá quốc ngữ, bắt đầu bằng việc uốn nắn cho những người thất học tập viết chữ i chữ t, thì nhà văn Đặng Thai Mai chính là một trong những người sáng lập ra phong trào này; khi cha tôi mới kiếm được chân thư ký sở Đoan (sở thuế quan) của chính quyền bảo hộ, còn đang lo lập thân, tìm con đường đi cho mình, thì ông Đặng Thai Mai là người được Đảng Cộng sản giới thiệu tranh cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ...


Nhưng chính sự cách biệt về danh phận mới là điều đáng nói. Khi ấy ông Đặng Thai Mai đã là người có uy tín lớn trong xã hội, là một cây bút có tên tuổi, một học giả uyên thâm, vị giáo sư đáng kính của trường Thăng Long được quốc dân trông cậy. Còn cha tôi mới đang âm thầm đến với văn chương, thậm chí còn chưa có sách. Những bài tiểu luận, những tiểu thuyết lịch sử ông đăng nhiều kỳ trên Tri Tân, thực ra mới chỉ được biết đến trong giới khảo cứu hơn là văn chương.


Dẫu sao cha tôi vẫn kiên trì con đường đi của mình và, cái gì đến đã đến, cuối năm 1943 ông gia nhập tổ chức Văn hóa cứu quốc. Chắc chắn giờ đây, giữa cha tôi và nhà văn Đặng Thai Mai đã có những mối liên hệ mật thiết, vì cả hai ông đều chịu sự lãnh đạo của đoàn thể và đều có chung một mục đích: phấn đấu cho nền văn hóa mới, nền văn hóa “dân tộc, đại chúng, khoa học” của nước Việt Nam tự do tương lai...


Tháng 1/1945, cha tôi đi các tỉnh Nam Định, Hải Phòng tham gia các hoạt động của Hội Truyền bá quốc ngữ và phổ biến bản Đề cương văn hóa của Đảng. Tại một trong những hoạt động ấy, ông được nhà văn Đặng Thai Mai tặng cho một cuốn Lỗ Tấn mới xuất bản.


Cha tôi đã rất cảm kích và không quên ghi trong nhật ký rằng ông “lấy làm vinh hạnh lắm” (27/1/1945). Cũng khoảng thời gian này, cha tôi có cuốn Đêm hội Long Trì vừa in ra – cuốn sách đầu tiên của ông. Sách in đã xấu, bìa lại quê mùa, khiến ông phẫn uất định không biếu các bạn bè cuốn truyện “thảm thương” ấy (chữ dùng của cha tôi trong nhật ký). Không biết về sau cha tôi có đổi ý hay không, song tôi nghĩ, việc nhận cuốn sách tặng của một bậc tiền bối như nhà văn Đặng Thai Mai, chắc chắn đã đem lại cho ông cảm giác tự tin hơn.


 


Cách mạng tháng Tám thành công, nhà văn Đặng Thai Mai và cha tôi cùng được giao phó nhiều trọng trách của Hội Văn hóa cứu quốc. Nhưng cũng như trước đấy, nhà văn Đặng Thai Mai, với uy tín trước quốc dân của mình, được bầu vào nhiều cương vị quan trọng, còn cha tôi thường là đứng đằng sau, với cương vị khiêm tốn hơn, lo tổ chức, triển khai các hoạt động văn hóa nói chung và của Hội Văn hóa cứu quốc nói riêng.


Hai ông đã có nhiều dịp làm việc với nhau, khi tại Đại hội Văn hóa toàn quốc, khi trong thành phần Việt Minh đoàn của Quốc hội, khi thì cha tôi cùng nhà thơ Tố Hữu mới ở miền Trung ra, đến nhà ông Đặng Thai Mai bàn bạc công việc... Một sự kiện lớn đến với cha tôi vào giữa năm 1946 – năm Dân quốc đầu tiên. Đầu tháng Tư, vở kịch Bắc Sơn của ông được công diễn tại Nhà hát lớn Thủ đô.


Vở kịch đã gây tiếng vang lớn, được công chúng tán thưởng, báo chí quan tâm, ý kiến khen chê có đủ. Có báo khẳng định “Bắc Sơn xứng đáng là vở kịch cách mạng thành công nhất từ trước tới nay”, có báo thậm chí còn cho rằng “Bắc Sơn mở ra một nền kịch mới”, có báo thì lại chê thậm tệ, rằng “tác giả có vẻ cẩu thả vội vàng trong khi cấu tạo hai vai chính của vở kịch” (hai nhân vật Thái và Ngọc), rằng “kỹ thuật cấu tạo của tác giả thô sơ quá”...


Một tháng rưỡi sau, nhà văn Đặng Thai Mai gặp cha tôi tỏ ý khen Bắc Sơn và cho rằng vở kịch cũng có những cái mới. Sau đó, trong một bài viết có tính tổng kết – Tình hình văn học Việt Nam sau cuộc Cách mạng tháng Tám, ông có dành cho tác phẩm của cha tôi vài dòng đánh giá: “Người ta đã nói nhiều đến tập kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng. Ý kiến các nhà phê bình cũng khá phân vân. Sự trái ngược giữa các lời bình phẩm về giá trị tập Bắc Sơn theo ý tôi, chỉ tố cáo một sự thực: ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng còn tiềm tàng những khả năng hiện còn chưa khai phá hết” (Tiên phong, số đặc biệt ra ngày 19/8/1946).


Ý kiến này của nhà văn Đặng Thai Mai cũng khá đồng nhất với cách nhận định của nhà văn Nguyễn Đình Thi, người viết lời Tựa cho cuốn sách được in ít lâu sau đó: “Bắc Sơn là một bước đầu, một sự tìm tòi và một thí nghiệm... Cuộc tìm tòi của Nguyễn Huy Tưởng đã làm vững thêm lòng tin chung của chúng tôi và của những người rất đông, với chúng tôi hiện đang cùng cảnh ngộ”.


Có thể nhận thấy tính khách quan và sự cẩn trọng ở những lời nhận xét nói trên. Nhà văn Đặng Thai Mai và nhà văn Nguyễn Đình Thi, với cha tôi, cùng là chỗ đồng chí với nhau. Thành công của bạn cũng có thể xem là thành công của mình. Song các ông lại là những người mang trọng trách dẫn đạo trong công cuộc xây dựng nền văn hóa mới.


Một sự bất cẩn trong khen chê, nhất là khen nhau, rất dễ gây cảm giác là vơ vào, là các ông muốn nói gì cũng được. Tuy nhiên, sự nỗ lực của bạn thì rất đáng ghi nhận; bên cạnh nhiều đóng góp tích cực khác nó còn khích lệ, động viên chính các ông nữa.


Những năm kháng chiến, cha tôi và nhà văn Đặng Thai Mai ít có dịp gặp nhau. Nhật ký của cha tôi hầu như không có dòng nào nói đến ông Mai. Điều này có thể là do địa bàn công tác. Cha tôi đi kháng chiến ở Việt Bắc.


Nhà văn Đặng Thai Mai làm Chủ tịch Ủy ban hành chính và kháng chiến Thanh Hóa. Mùa thu năm 1951, cha tôi đại diện cho Hội Văn nghệ Việt Nam vào dự Hội nghị Văn nghệ Liên khu 3, cũng không có dịp gặp ông Mai. Có thể lúc này, nhà văn Đặng Thai Mai đã chuyển hẳn sang công tác giáo dục nên giữa hai ông lại thêm sự cách biệt về lĩnh vực công tác.


Hòa bình lập lại, trở về Thủ đô giải phóng, hai ông dường như cũng ít có dịp gặp gỡ nhau. Sau khi các hội văn học nghệ thuật chuyên ngành được thành lập, cha tôi tuy vẫn còn trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng thực tế đã thôi công tác lãnh đạo, để được chuyên tâm sáng tác. Nhà văn Đặng Thai Mai thì đảm đương trọng trách Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Công việc bộn bề, mỗi người mỗi khoảnh, nếu hai ông ít có điều kiện giao thiệp âu cũng là điều dễ hiểu.


Cuối năm 1958, nhà văn Đặng Thai Mai cho ra chuyên luận Văn thơ Phan Bội Châu. Đây được coi là một trong những trước tác quan trọng nhất của nhà nghiên cứu giai đoạn sau Cách mạng. Sách ra, ông có tặng cha tôi một cuốn. Việc tặng sách giữa các nhà văn, xem ra cũng là chuyện bình thường. Việc đề tặng bên trong mới là điều đáng nói. Và đây là những lời nhà văn Đặng Thai Mai gửi tới cha tôi. Cũng không nhiều nhặn gì, tất cả chỉ vẻn vẹn mấy chữ: “Tặng Huy Tưởng - Thân ái - 12/58 - ký Đặng Thai Mai”.


Dẫu đã biết sự quý trọng nhau giữa các nhà văn trước đây, tôi vẫn rất cảm động trước hai chữ “Thân ái” ông Đặng Thai Mai dành cho cha tôi. Nhưng điều còn bất ngờ hơn lại là ở cách gọi. Ông không gọi cha tôi là đồng chí, là anh, là bạn, cũng không viết trang trọng đầy đủ cả họ tên. Mà đơn giản là “Huy Tưởng” như những người bạn thân thiết nhất của cha tôi vẫn nói, vẫn gọi, vẫn muốn biểu hiện sự quý mến đối với ông.


Ngược dòng thời gian, tôi nhớ tới một đoạn nhật ký, cũng không dài dòng gì, cha tôi ghi lại cuộc nói chuyện với nhà văn Đặng Thai Mai. Có thể nói mà không sợ sai rằng, nhà văn Đặng Thai Mai và cha tôi là những người đặc biệt quan tâm đến vấn đề văn hóa, hai ông mang trong mình vốn hiểu biết sâu sắc về cả hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, với các nét phổ quát, đặc trưng và khu biệt.


Ngày 10/7/1956, nhân bàn về tính cách các dân tộc, trong đó có Nhật Bản, một đất nước luôn luôn có suy nghĩ và người dân có đời sống trí thức dồi dào, nhà văn Đặng Thai Mai đã có một nhận xét đáng chú ý như cha tôi đã ghi lại: “dân tộc Việt Nam là một dân tộc trẻ con”, vì “động cái gì cũng ngạc nhiên, cũng cười”.


Có thể trước đó nhiều chục năm, thi sĩ Tản Đà đã có lúc thốt lên: “Dân hai mươi triệu ai người lớn – Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”; câu thơ đó quá nổi tiếng khiến cho một người đọc nhiều như cha tôi khó mà không biết cho được.


Song điều nhận xét nói trên của một bậc học giả như nhà văn Đặng Thai Mai rõ ràng vẫn đặt ra cho cha tôi nhiều sự phân vân, như ông sẽ còn trở đi trở lại vấn đề này trong nhật ký. Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói ở đây là vì sao nhà văn Đặng Thai Mai lại chia sẻ những suy nghĩ có thể nói là khá nhạy cảm ấy với cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng?


Thiết nghĩ, câu chuyện giữa hai ông hoàn toàn có nguyên do của nó. Nhà văn Đặng Thai Mai là nhà nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam về tác gia Lỗ Tấn của Trung Quốc, người cả đời cầm bút không khen dân mình lấy một lời, nhưng luôn là nhà văn được nhân dân Trung Quốc yêu quý nhất.


Là người am hiểu Lỗ Tấn đến chân tơ kẽ tóc, nhà văn Đặng Thai Mai hiểu rằng, Lỗ Tấn phải yêu nước đến chừng nào mới đau đớn đến thế trước những cái kém, cái dở của dân tộc mình. Và tiên sinh đã kiên quyết vạch trần những cái yếu kém ấy trên cái cơ thể đang cần được uốn nắn hơn là vuốt ve, theo kiểu “thuốc đắng dã tật”!


Cha tôi, như giờ đây chúng ta được biết qua nhật ký của ông, cũng suốt đời băn khoăn về dân tộc mình. Ngay ở tuổi mười tám đôi mươi, ông đã viết: “Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được” (Nhật ký 13/1/1932).


Nhà văn Đặng Thai Mai gắn bó với cha tôi có thể không nhiều, nhưng tâm huyết của bạn đối với lịch sử, văn hóa dân tộc thì chắc chắn ông quá biết. Nếu như ông có chọn cha tôi để giãi bày suy nghĩ của mình, âu cũng là sự tự nhiên thôi.


Tuy vậy, dường như cha tôi đã không tán đồng ông Mai hoàn toàn. Nhật ký cha tôi ghi lại chuyện ấy sau đó có viết: “Chưa chắc dân tộc ta là một dân tộc trẻ con, như Đặng Thai Mai nói”.


Song ngay ở sự không tán đồng này vẫn chỉ là “chưa chắc” thôi. Bởi bản thân cha tôi cũng nhận thấy ở dân ta thực tế có những biểu hiện “trẻ con” thật, như ông sẽ viết tiếp: “Chúng ta còn thấp kém về trình độ văn hóa. Những vấn đề trí thức chưa làm cho ta suy nghĩ. Cho nên còn sốc nổi. Và tài bắt chước.


Chúng ta chưa suy nghĩ sâu, thâu thái mau, nhưng vì cái vốn còn ít, nên cái gì ở ngoài là ta theo cả”. (Liệu có cần phải kể ra đây những cái của nước ngoài được du nhập một cách thiếu chọn lọc vào nước ta những năm gần đây – từ thời trang đến lối sống, thậm chí cả cách nói vay mượn từ ngữ nước ngoài – để minh họa cho điều nhận xét có tính dự báo của hai ông khi ấy?).


Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, vấn đề nhà văn Đặng Thai Mai nêu ra trong câu chuyện với cha tôi cũng là những điều ông không thôi suy nghĩ về chính bản thân mình, hay những người có trách nhiệm như mình.


Ông từng tự nhủ: “Ta chẳng ở trong cái mớ người Việt Nam còn thấp kém hay sao?” (Nhật ký 7/7/1956). Với trách nhiệm của người cầm bút, ông không dám có tham vọng quá to tát kiểu như cải tạo xã hội, cải tạo con người – điều mà người ta vẫn hay nêu thành sứ mệnh của nhà văn.


Mấu chốt của vấn đề đặt ra với nhà văn, theo ông, chỉ đơn giản là bày tỏ thái độ: “Vấn đề là ở thái độ. Thái độ của người bảo vệ chế độ. Cholokhov nói biết bao nhiêu cái xấu, mà cả tác phẩm nói lên bao nhiêu cái tinh thần Xô viết mà ai cũng yêu”.


Với suy nghĩ ấy, ít ngày sau ông đặt bút viết tùy bút Một ngày chủ nhật, nêu những sai lầm trong cải cách ruộng đất với thái độ xây dựng chân thành, mong sao góp một tiếng nói phản biện xã hội để cùng nhau suy nghĩ sửa sai, chấn chỉnh lại cuộc đời.


Ở thời điểm đó bài tùy bút đã bị phê phán rất nặng, rằng tác giả nhìn đâu cũng chỉ thấy có rác rưởi. Đấy cũng là thời kỳ diễn ra vụ việc “Nhân văn Giai phẩm” và nhiều vấn đề phức tạp khác nữa trong đời sống đất nước. Sau một đợt đấu tranh tư tưởng kéo dài trong giới văn nghệ, quãng giữa năm 1958, cha tôi đi thực tế lao động ở Điện Biên...


Sau hơn bốn tháng trở lại sống với những cán bộ, chiến sĩ như ngày nào ông từng lăn lộn, gắn bó trong kháng chiến, cha tôi đi thực tế về, trong lòng có thanh thản hơn. Chắc chắn ông đã rất vui khi nhận cuốn sách tặng từ nhà văn Đặng Thai Mai, cuốn Văn thơ Phan Bội Châu với lời đề “Tặng Huy Tưởng – Thân ái” như trên đã nói. Cuốn sách đã sờn mòn, có lẽ đã được người nhận đọc không chỉ một lần...


Kết thúc bài viết này về Giáo sư Đặng Thai Mai với cha tôi, tôi xin được bày tỏ lời cám ơn với những người con của Giáo sư; các anh chị là những người lớn tuổi hơn tôi nhiều và cũng đi trước tôi nhiều trong những công việc như thế này, nhưng đã tỏ ra đặc biệt quan tâm đến bài viết của tôi.


Bài viết này, thoạt đầu tôi vẫn nghĩ chỉ là đề cập một phần rất nhỏ trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đặng Thai Mai cũng như cha tôi – đó là mối quan hệ trực tiếp giữa hai ông trong những năm tháng cùng hoạt động văn hóa và cách mạng, và qua đó, phần nào cho thấy sự gắn bó về tinh thần giữa hai nhân cách có nhiều sự đồng cảm hơn là người ta vẫn nghĩ.


Và như vậy, hi vọng nó sẽ góp phần bổ sung được chút gì đấy cho bức chân dung vốn đã quá phong phú của mỗi ông, được dựng nên bởi rất nhiều cây bút có uy tín suốt nhiều chục năm qua. Không ngờ, các anh chị đã rất chú ý đến bài viết của tôi, hơn thế nữa, còn giúp cho nhiều ý kiến cũng như thông tin thêm về các ông, dù tôi đã có biết hay chưa, dù tôi có thể sử dụng, tham khảo cho bài viết của mình hay không...


Phải chăng đây chính là thái độ nghiêm túc, tác phong cẩn trọng trong công việc mà các anh chị đã thừa hưởng được từ cha mình, Giáo sư Đặng Thai Mai. Phải chăng tôi cũng như một trong không ít trường hợp được các anh chị chia sẻ mối quan tâm thật đáng trân trọng về người cha đáng kính của mình, dẫu rằng bài viết của tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh rất nhỏ về ông và cha tôi.


Về phần mình tôi chỉ xin thổ lộ một điều rằng, đã lâu lắm rồi kể từ khi theo đuổi công việc tìm hiểu về cha mình từ góc độ một người con, ngõ hầu hiến cho bạn đọc được đôi điều ít biết hoặc chưa biết về ông như một con người bình thường trong mối quan hệ với vợ con, bạn bè..., ít có khi nào tôi nhận được sự quan tâm nhiều đến như thế cho một công việc tự thấy là rất khiêm tốn như bài viết này – bài viết chủ yếu dựa trên sự hiểu biết gián tiếp về hai ông, thông qua các trang tư liệu có được và nhiều hơn, thông qua cách hiểu chủ quan của một kẻ hậu sinh.


Mặc dù đã hết sức cố gắng, tôi biết nó còn xa mới đáp ứng được mong muốn của nhiều người. Dẫu sao, tôi cũng xin được một lần nữa cám ơn sự quan tâm của gia đình Giáo sư Đặng Thai Mai dành cho bài viết của tôi, và, đặc biệt, xin được thay mặt cha tôi cám ơn bác Mai về những tình cảm thâm trầm của bác dành cho cha tôi lúc sinh thời – những tình cảm đã thôi thúc tôi mạnh dạn viết bài này...


Nguyễn Huy Thắng - Nhà xuất bản Kim Đồng


Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 5/2008 


 


 


Bộ ba Thế Lữ - Song Kim - Nguyễn Huy Tưởng


Trong số các cựu học sinh trường Bonnal, Hải Phòng hồi những năm 20 của thế kỷ trước, có lẽ Thế Lữ là người thành danh sớm nhất. Tốt nghiệp bậc Thành chung năm 1928 khi vừa tròn 21 tuổi, chàng bạch diện thư sinh thi tiếp vào trường Cao đẳng Mỹ thuật nhưng chỉ học một năm thì bỏ. Để rồi tìm đến thi ca với những thi phẩm không vương bụi trần làm mê lòng bao người yêu cái đẹp thoát tục. Để rồi đến năm 1934, khi mới 27 tuổi, đã tự lập cho mình một thương hiệu trên báo giới: Lê Ta, người giữ chuyên mục thơ nổi tiếng sành sỏi trên Phong hóa, cơ quan của Tự lực Văn đoàn…


Dễ hiểu vì sao thầy giáo Nguyễn Hữu Tảo lại tự hào về người trò cưng này của mình đến thế. Một ngày cuối năm 1934, khi lứa học trò đàn em hỏi chuyện thầy về bậc đàn anh Nguyễn Thứ Lễ, tức Thế Lữ, rằng trước đấy thầy có đoán được tương lai sán lạn của chàng không, thì thầy đã chẳng ngại ngần trả lời: Có chứ, thầy đã nhận thấy ngay thiên bẩm của trò Lễ, cũng như trò Hiền, các anh ấy chịu học lắm, học giỏi lắm (Hiền là Vũ Văn Hiền, cũng là cựu học trò Bonnal, về sau trở thành luật sư nổi tiếng, có chân trong nội các Trần Trọng Kim).


Trong số những trò đến hầu chuyện thầy Tảo hôm ấy, có cha tôi – nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tương lai. Cha tôi sinh năm 1912, thua Thế Lữ năm tuổi; tốt nghiệp Thành chung năm 1932, sau Thế Lữ bốn năm. Bốn, năm năm trong cuộc đời người ta không phải là nhiều, nhưng vào thời điểm đó, cha tôi còn kém ông Thế Lữ về nhiều phương diện.


Năm 1934, khi Thế Lữ đã là một nhà thơ, một nhà báo có tên tuổi, thì cha tôi còn là một người vô danh “trong bóng tối” (chữ dùng của chính ông); khi Thế Lữ đã là người cầm cân nảy  mực trên thi đàn, thì cha tôi còn đang tập làm thơ hòng dự thi báo Phong hóa nơi thi sĩ là một chủ soái.


Từ đó đến đầu những năm 40, cha tôi vẫn thường hay trở đi trở lại ý định tìm đến Thế Lữ để nhờ ông này đọc thơ chỉ bảo cho, hoặc, nếu được, nhờ thi sĩ viết đề tựa cho tập thơ Nhất điểm linh đài ông đang khao khát xuất bản. Chỉ đến khi chuyển hẳn sang viết kịch và tiểu thuyết, cha tôi mới quên đi được nỗi ám ảnh Thế Lữ.


Thế rồi ông gia nhập Văn hóa cứu quốc, quyết đem ngòi bút phụng sự cho lý tưởng mà ông giác ngộ, với một định hướng dứt khoát “dân tộc, đại chúng, khoa học”. Ông chẳng còn vướng bận với những vần thơ thoát tục, của mình cũng như của người, dù chúng có sức cám dỗ đến thế nào...


Cách mạng tháng Tám thành công. Sau những mày mò lúng túng ban đầu, chỉ ít tháng sau cha tôi đã có vở kịch Bắc Sơn, được công diễn trên sân khấu Nhà hát lớn thủ đô đầu tháng 4/1946.


Thành công của đêm diễn đã có giá trị khích lệ rất nhiều, không những cho công chúng đang đòi hỏi những tác phẩm sân khấu xứng đáng với nền độc lập đã giành được, mà trước hết là cho chính cha tôi, người có trách nhiệm cùng các đồng chí của mình xây dựng một nền văn học nghệ thuật mới.


Chắc chắn ông đã rất tự hào khi đọc những lời khen của công luận, đại loại như “vở kịch Bắc Sơn có thể xứng đáng là một chấm mạnh, cảnh tỉnh cho những ai còn nghi ngờ kịch cách mạng”, hay “Kịch Bắc Sơn là một vở sáng tác... Bắc Sơn là một vở kịch cách mạng mà không có tính cách tuyên truyền”...


Tuy nhiên, cha tôi là một nhà văn có đủ tố chất nghệ sĩ để biết nghi ngờ mọi hào quang; ông đặc biệt chú trọng ý kiến của giới chuyên môn, hoặc chí ít, của những người thực sự có tri thức và óc phê phán. Nhật ký những ngày này của ông còn ghi lại câu nói kháy rất đau của một trí thức bạn ông, bác sĩ Phạm Ngọc Khuê: “Một thằng bị giam muốn cho nó chết chỉ việc cho nó đọc báo mặt trận” (nhật ký 24/5/1946).


Thế nên, dù đã có Bắc Sơn nổi đình đám, ông vẫn cảm thấy trợn trợn khi chưa rõ thái độ của những nhà văn, nhà hoạt động sân khấu ngoài đoàn thể. Không biết có phải do “tự kỷ ám thị” không, nhưng rõ ràng nhật ký của ông ngày 17/7/1946 có một câu khá tự ti: “Cảm thấy sự khinh bỉ ngấm ngầm trong những phe: Tuân, Thế Lữ, Chu Ngọc”.


Lúc này, Thế Lữ vừa cùng ban kịch Anh Vũ với những người bạn chí cốt Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Văn Chung... và người bạn đời Song Kim trở về Hà Nội sau chuyến lưu diễn khắp các tỉnh từ Hà Nội đến Quy Nhơn. Nhập vào không khí cách mạng tưng bừng ở thủ đô, đoàn kịch đã mau chóng xây dựng kịch mục cho những tháng ngày tới.


Trong số đó có vở Đề Thám của Lưu Quang Thuận. Một ngày cuối tháng 7, cha tôi được đạo diễn Thế Lữ mời đến nhà Minh Đức để họp bàn về việc diễn vở này. Trái với e ngại ban đầu của cha tôi, ông đã gây được cảm tình; thậm chí có người còn cho rằng ông đã “hoàn toàn dám bỏ cái cũ”, ý nói về vở Bắc Sơn của ông. Có thể nói từ đây bắt đầu sự cộng tác cảm động giữa hai gương mặt của sân khấu kịch nói Việt Nam hồi đầu những năm cách mạng và kháng chiến: Thế Lữ và Nguyễn Huy Tưởng...


Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, cặp vợ chồng Thế Lữ - Song Kim tản cư về Hà Đông, đến sau Tết Đinh Hợi 1947 thì được liên lạc Nguyễn Văn Mãi đón lên Xuân Áng thuộc huyện Hạ Hòa, Phú Thọ.


Nữ nghệ sĩ Song Kim nhớ lại: “Tới Xuân Áng, đã thấy nhiều anh chị em văn nghệ từ nhiều ngả đường vui vẻ tập trung về: Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân, Hoài Thanh, Ngô Huy Quỳnh, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Khang, Mai Văn Hiến, Thanh Tịnh, Trần Huyền Trân...


Chúng tôi ở rải rác trong các nhà đồng bào, nhưng vẫn quây quần gần nhau làm thành một “trại văn hóa kháng chiến” (Cuộc đời sân khấu của chúng tôi; Nxb Văn hóa; 1983). Cũng theo cuốn hồi ký của Song Kim, bấy giờ đời sống của hai vợ chồng bà gặp rất nhiều khó khăn, có thể nói thuộc dạng nghèo nhất trong nhóm anh em văn nghệ sĩ cùng đi.


 


Hàng tháng, Thế Lữ được trợ cấp một món tiền nhỏ, nhưng không đủ. Nữ nghệ sĩ phải cùng cô con gái nuôi đi đong lúa của đồng bào rồi giã, dần, sàng thành gạo làm bánh cuốn, bánh nếp bán cho đồng bào tản cư và anh em trong trại văn hóa. Nhưng ông bà không lúc nào nguôi dự định làm kịch trong kháng chiến, cũng như cha tôi không lúc nào buông lơi cây bút. Thế Lữ còn nhớ một kỷ niệm rất cảm động.


Hôm ấy, nhà thơ dậy sớm, ra suối rửa mặt thì đã thấy cha tôi ở đấy từ lúc nào. Tóc ông bù xù, râu ria tua tủa, nhưng trông tươi tỉnh như vẫn còn nguyên sự hưng phấn. Ông cho bạn biết đêm qua vừa viết xong một màn kịch, và rủ lát nữa sang đọc cho hai vợ chồng nghệ sĩ cùng nghe...


Vở kịch Những người ở lại, tác phẩm tâm đắc nhất của cha tôi trong những năm kháng chiến, cũng chính là sự cộng tác đầu tiên giữa ông và Thế Lữ với tư cách là hai khâu quan trọng nhất của một vở diễn: tác giả và đạo diễn.


Có điều, đây là một vở kịch có quy mô lớn, nhất là trong hoàn cảnh kháng chiến, vì vậy chỉ có thể dựng được một màn thôi – màn bốn. Nhưng chỉ chừng ấy thôi cũng đã làm vơi đi biết mấy nỗi nhớ Hà Nội của người Hà Nội ra đi kháng chiến.


Một lần, ở Đại Từ, Thái Nguyên có cuộc diễn cho chiến sĩ Trung đoàn thủ đô. Lúc tan về, các chàng trai Hà Nội năm xưa vẫn quen thói cũ, gọi xe tay ầm cả lên. Lần khác, nhân kỷ niệm hai năm kháng chiến, cũng diễn Những người ở lại ở Gia Điền (một địa điểm khác thuộc huyện Hạ Hòa, nơi các văn nghệ sĩ ra số báo Văn nghệ đầu tiên).


Nhật ký Thế Lữ ngày 20/12/1948 thuật lại: “Kỳ Ngung vai Kính, Sỹ vai Quảng, Khoa vai Sơn, Thế Lữ vai bác sĩ Thành, Kiều Hạnh vai Lan... Đứng sau cánh gà xem Những người ở lại, Song Kim khóc. Song Kim nhớ Hà Nội”...


Đấy là ở sau cánh gà. Còn trên sân khấu, nữ nghệ sĩ Song Kim cũng có những gắn bó sâu sắc và cảm động với nhiều tác phẩm của cha tôi. Sau Những người ở lại, cha tôi chuyển sang sáng tác các vở kịch ngắn, phù hợp với điều kiện kháng chiến cần phải gọn nhẹ. Đó là các vở Giác ngộ, Người vợ, Anh Sơ đầu quân...


Vở Người vợ dựng câu chuyện về chị Đơ, một người vợ đi thăm chồng là thương binh, khi thấy chồng bị thương tật nặng chị chỉ càng thương mà không hề có một suy nghĩ nào khác, khiến cho người nữ y tá ở quân y viện đã phải xem lại thái độ của mình khi được tin chồng bị thương nặng...


Viết xong, cha tôi gửi bản thảo cho Thế Lữ, người chỉ huy Đoàn kịch Chiến thắng bấy giờ đang đói kịch bản. Một ngày tháng 6/1949, Thế Lữ viết thư hồi âm cho cha tôi, tỏ ý hoan nghênh vở kịch và đề nghị tác giả để cho đoàn kịch của ông được dựng vở: “Nhận được kịch bản của anh, vừa sung sướng như vớ được của lại vừa được phấn khởi như có lời bạn úy lạo”.


Ngoài lý do thiếu vở mới, đạo diễn còn hình dung, với vai người vợ thương binh, “Song Kim sẽ có dịp tạo được một chị Đơ cũng hay hay” (thư Thế Lữ gửi Nguyễn Huy Tưởng, in trong Với Nguyễn Huy Tưởng; Nxb Hội Nhà văn; 1998).


Theo hồi ký Song Kim, vai chị Đơ cũng như nhiều nhân vật khác trong mấy vở kịch ngắn cha tôi viết vào thời gian này đã trở thành những vai diễn chính của bà. Những vở kịch ấy còn đơn giản, nhân vật còn sơ lược, nhưng tấm lòng của người viết đặt vào nhân vật và nhiệt tình của diễn viên dồn vào vai diễn đã khiến người xem, dù là cán bộ, nhân dân hay chiến sĩ đều thấy xúc động.


Bà còn nhớ, có lần, đoàn diễn vở Người vợ cho anh em thương binh trong một cái hang. Nhìn những khuôn mặt xanh xao nhưng háo hức của anh em, phần nhiều trẻ măng, dõi lên sân khấu như nuốt lấy từng hình ảnh, từng lời thoại, bà cảm thấy thương anh em hết mực.


Đến lúc diễn xong, cúi chào khán giả đang reo hò vỗ tay, bà chợt thấy ở một góc hang, dưới ánh ngọn lửa đuốc bập bùng, có hai thương binh cũng đang ra sức hoan hô.


Hai anh, người đeo nẹp tay phải, người bó bột tay trái, đã dùng bên tay còn lại của mỗi người chập vào nhau mà vỗ. Đó là một kỷ niệm khó quên bà kể lại với tôi khi tôi đến đề nghị bà viết cho một bài về cha tôi, in trong một cuốn sách ở một nhà xuất bản nọ...


Nguyễn Huy Tưởng - Thế Lữ - Song Kim, nhà văn - nhà thơ - nghệ sĩ... hoặc, nếu muốn, còn có thể kể thêm nhiều thứ “nhà” khác nữa ở mỗi người trong họ, bởi đó là những gương mặt hết sức đa dạng của nền văn học nghệ thuật nước nhà.


Nhưng tôi nghĩ, có lẽ, ở họ, cái chung nhất chính là tình yêu với kịch. Tình yêu khiến cho mỗi người dù ở vào vị trí nào, tác giả, đạo diễn hay diễn viên, đều thiết tha đem đến cho vở kịch những gì tốt đẹp nhất hiến cho khán giả. Như cha tôi đã biết ơn Thế Lữ khi dựng vở Người vợ: “Thế Lữ chữa nhiều đoạn hay...Cô Thơm trong vai Thủy thật là tươi mát”.


 


Như Thế Lữ, vì sự sống còn của ban kịch trong lúc neo người, phải lo làm đủ mọi việc: soạn hài kịch (để bổ khuyết cho đoàn sự thiếu thốn hài kịch), đạo diễn kiêm họa sĩ bất đắc dĩ để trang trí các buổi diễn, tóm lại, làm một “tên bếp đủ các món” như trong bức thư ông viết cho cha tôi với câu kết đầy chua chát nhưng vẫn đủ hài hước: “Một bi kịch đấy, kịch tác gia Huy Tưởng ạ”.


Như Song Kim đã dồn chứa tình yêu sân khấu của mình trong câu lẩy Kiều như một tuyên ngôn nghề nghiệp thật là dứt khoát trong cuốn hồi ký của bà:


Kiếp sau nếu được làm người


Tôi xin trở lại cuộc đời diễn viên


Nhưng tôi nghĩ, ở bộ ba này còn có một phẩm chất đặc biệt khác nữa gắn bó họ với nhau. Đó là sự giản dị, chân thành đối với bạn bè, đồng nghiệp. Là sự trân trọng đối với mọi nỗ lực của nhau. Một ngày tháng 10 năm 1950, nghệ sĩ Song Kim gặp cha tôi ở Cao Bình, khi ông cùng nhà văn Nguyên Hồng từ mặt trận Đông Khê trở về.


Trông thấy nữ nghệ sĩ, cha tôi vui vẻ nói một câu mà bà nhớ mãi, nhắc mãi: “Chị mà đi được lên đây thì Tây thua là phải!” Không, đây không phải là một câu bông phèng nói cho vui, cũng không phải một lời “mị dân” của một người lãnh đạo văn nghệ. Mà đây chính là một cách thể hiện sự quý trọng của cha tôi đối với nữ nghệ sĩ, vì ông rất biết bà bị một “cố tật” ở chân...


Sau Hội nghị tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc, với chủ trương “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”, nhiều văn nghệ sĩ đầu quân. Trong số đó có Thế Lữ. Bấy giờ, nhà thơ không chỉ yếu mà còn bị mắc một thứ khó bỏ từ trước Cách mạng. Cha tôi rất thông cảm với bạn, và càng thông cảm, ông càng trân trọng bạn.


Xin được trích một đoạn trong bài Văn nghệ sĩ đầu quân (Văn nghệ, tháng 5/1949) của cha tôi về Thế Lữ: “Không ai lạ Thế Lữ yếu, Thế Lữ bị một “thói quen” đòi hỏi, gay gắt, Thế Lữ cần phải có những săn sóc hàng ngày, tỉ mỉ và đầm ấm mà đời sống bộ đội không thể bảo đảm. Nhưng anh đã xông xáo đi, điều khiển ban kịch của đoàn Sân khấu, băng đèo lội suối, chia sẻ với anh em những nỗi vất vả dọc đường. Mũ dạ trên đầu để lộ mái tóc hoa râm, một bên thắt lưng thây lẩy chiếc mặt nạ nhỏ xíu, tượng trưng cho sân khấu, hành lý kịch trong cặp và trong người. Thế Lữ vẫn còn ồ à, nhưng bước đi đã lính”...


Không biết có phải trong một lần chia tay nhau lên đường như thế, ông bà Thế Lữ - Song Kim đã chụp cùng cha tôi một bức ảnh kỷ niệm.


Bên cạnh những cái làm nên giá trị của một bức ảnh quý hiếm, chụp ba gương mặt của sân khấu cách nay đã tới sáu thập niên, có điều này tôi thấy cũng lạ: Cha tôi đứng ở giữa, chứ không phải Song Kim hay Thế Lữ. Tại sao lại như vậy, tôi không biết. Song tôi muốn được thay mặt cha tôi cám ơn hai ông bà đã dành cho người bạn thân của mình sự ưu ái ấy. Phải, vợ chồng Thế Lữ - Song Kim phải quý cha tôi thế nào mới đặt ông vào vị trí trung tâm giữa ba con người của một thời  sân khấu như thế chứ!


 


Nguyễn Huy Thắng


Tạp chí nghiên cứu Văn học số 10/2008

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ở Sài Gòn, không nói hủ tíu cơm tấm mà bàn chuyện PHỞ - Lê Văn Nghĩa 18.09.2017
Thanh Tùng - Nhà thơ của Thời hoa đỏ - Vũ Từ Trang 14.09.2017
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4) - Nguyễn Cung Thông 14.09.2017
Đi tìm những tác giả của bộ phim Ngày độc lập - Tư liệu 03.09.2017
Một người già gầy gò mà có nụ cười sao thương thế... - Kiều Mai Sơn 03.09.2017
Góp thêm tư liệu về cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch" & tác giả Trần Dân Tiên - Kiều Mai Sơn 01.09.2017
Trung Quốc ngửa bài với ASEAN và Việt Nam? - Nguyễn Hải Hoành 31.08.2017
Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng - Nhiều tác giả 30.08.2017
Hàng loạt sai phạm tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam - Tư liệu 29.08.2017
Các sai lầm của thuyết ‘Chữ Hán ưu việt’ - Mễ A Luân 28.08.2017
xem thêm »