tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18528782
Thơ
16.09.2010
Nguyễn Nguyên Bẩy
Thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, khá lạ!

NƠI ẤY


Nơi ấy các cô gái đều là tiên nữ


Áo quần mớ bẩy, mớ ba


Yêu nhau bắc cầu giải yếm


Nơi ấy cốm Vòng gói lá sen xanh


Chuối đổ màu trứng cuốc


Heo may thu vào từ năm cửa ô


Nơi ấy


Tôi là đứa trẻ đẻ rơi


Mẹ trảy hội trên cầu giải yếm


Các bà tiên chuyền tay nhau bú, mớm


Chuyền tay nhau hát hò


Chày Yên Thái tôi nghe


Trái bàng rơi tôi nhặt


Gạo làng Gióng tôi ăn


Sông Cái lắm thủy thần


Rằm, Mồng Một dâng hoa chùa Bộc


Nơi ấy


Các bà tiên dạy tôi biết khóc


Các bà tiên dạy tôi biết cười


Các bà tiên cho tôi giấy bút


Dạy tôi vẽ lên trời hình Rồng thăng


Dạy tôi chép chữ thành vần


Dạy tôi làm chồng làm vợ


Năm ấy sấm Trạng Trình ran nổ


Trời thật nhiều đạn bom


Nơi ấy lẽ Càn Khôn


Các bà tiên lần lượt về mây trắng


Con đưa mẹ đến đầu cầu giải yếm


Mẹ trắng vào mây


Mẹ thăng vào gió


Mẹ đi trảy hội Tiên Rồng


Nơi ấy


Đào Nhật Tân nở chấn Cửa Đông


Áo trấn thủ phủ rêu Cửa Bắc


Kèn tầu hừng hực Cửa Nam


Quốc ca hát đỏ sông Hồng


Nơi ấy là Kinh Thành Cố Tích


Nơi ấy là đời tôi.


 


TỰ HỌA TUỔI THƠ


Chưa nhìn đã thấy răng


Mà lại hay cười


Chưa nhìn đã thấy mắt


Gằm gằm nỗi gì sau đít chai?


Đêm ngủ gối đầu chữ nghĩa


Mơ ngày thành một xướng ca


Cô giáo phạt tội ngu ngơ


Sáng sáng tới sân trường quét lá


Cô ơi tội mẹ em quá


Giọt khóc lau khô còn ngấn lệ buồn


Bạn bè đùa gọi chàng Trương


Ai chịu làm nàng Mỵ?


Thơ tình học trò vì thế


Bẩy sắc cầu vồng em


Mắt nhìn đâu cũng Mỵ Nương


Xanh mướt cỏ triền đê sông Cái


Ngày tuổi thơ xa mãi


Sân trường háo hức chim bay


Trương Chi hát lời giã bạn


Mỵ rút khăn tay


Cô giáo rút khăn tay


Bạn bè ủ tình vạt áo


Tình đầy ngực


Âm thanh đầy sông


Sông đầy thuyền


Có một con thuyền Trương Chi...


 


BÁI TÌNH


Hai cha con ngồi dưới gốc đa Chèm


Con nhặt lá đa cha dạy làm ngựa


Lá đa cha thổi làm kèn


Cha bảo ai trèo lên được ngọn đa


Kèn lá đa sẽ vang rền kèn trận


Ngựa lá đa sẽ hóa ngựa thần


Bay lên non cổ tích bái tình...


Thần dạy trai làng trồng lúa


Nương dạy thôn nữ tầm tang


Tình dạy chung tình


Sức mạnh tình cổ nhất


Xác thân hóa thổ thành đê


Ngăn cuồng thủy tặc


Linh thiêng non Tản tình về


Lung linh cổ tích đêm mơ


Lưng đa còng xuống


Cha công kênh con trèo lên ngựa lá đa


Ngựa bay vút ngọn


Kèn lá đa cha thổi vang trời


Gọi bao la cổ tích


Cổ tích ở trong cổ tích


Dọc suốt triền sông Cái, sông Con


Đê như yếm thắm


Ngực đôi bờ xanh lúa xanh ngô


Kèn lá đa ơi kèn lá đa


Ngày xưa cha thổi


Bây giờ môi con


 


KÝ ỨC CA DAO


Trưa nao sân nắng chang chang


Cò ngoại chân trần trang thóc


Nắng quấn váy cò


Ngoại ngã


Cháu nâng


Ngoại mắng ca dao


Một đời gánh nắng không chao


Nay lưng mới võng nỡ nào nắng nghiêng?


Trưa nao cò đậu cành mềm


Móm mém cối trầu nhìn thương dì Út


Dì Út về nhà chồng


Ca dao gà


Ngoại ngả lá chanh


Ca dao cau


Ngoại bổ cỗ


Lá chanh ngoại hát canh cần


Ngoại tiện cau rồng


Ngoại têm trầu phượng


Tĩnh lòng ngoại vấn nhiễu khăn


Cắn cắn tóc đuôi gà dì Út khóc


Ngoại ơi sao mừng lại khóc?


Ngoại cười ca dao


Cái cò lặn lội bờ ao


Lặn từ bờ mẹ lội vào bờ con...


Ca dao ngoại hát vui buồn


Lời lời cháu nghe thuộc hết


Nhưng không sao bắt chước được bà


Lúc mắng ca dao


Lúc hát ca dao


Ca dao nao lòng


Này cò này vạc này nông


Không sống tử tế đừng mong thành người.


 


MƯỜI RẰM, MỒNG MỘT


Cha không biết mình thuộc chi trứng nào ngày xưa xuống biển


Nhưng đều đặn suốt đời mồng một lịch trăng


Cha thắp ba nén nhang lạy về hướng biển


Mẹ không biết mình thuộc chi trứng nào ngày xưa lên rừng


Nhưng đều đặn suốt đời mười rằm lịch trăng


Mẹ thắp ba nén nhang khấn về hướng núi


Như thể hẹn nhau từ kiếp trước


Cha đón mẹ luân hồi nơi cửa sông


Thành đôi chồng vợ


Tổ yêu kết ở ven thành


Nơi những cây sao cao vút trời xanh


Rợp từng đàn cò trắng


Nơi một thời vua đúc tiền và súng


Gốc đa Nhà Bò trẻ chơi ô ăn quan


Tổ tình nhỏ một vuông khăn


Đủ cho các con rửa mặt


Môn tiền trông về hướng biển


Sáng mồng một cha thắp hương


Môn hậu trông về hướng núi


Đêm rằm mẹ vọng nhang


Cha không là sĩ là quan


Cha chỉ là ba sào thổ


Mẹ lúng liếng khắp vùng Sấu Giá


Thạo nghề dệt lụa ươm tơ


Gái tầm tang da bóc trứng gà


Lưng ong cong mềm khung cửi


Dạy con mẹ hay hát giỗi


Lời nào cũng hạ cung thương


Cha tôi sát cá lạ thường


Bữa nào con đào bơ giun


Là bữa ấy ba câu đầy rổ cá


Mẹ dừng tay dệt lụa


Chạy đi hái lá bờ rào


Mẹ có biệt tài nấu cỏ thành canh


Hỏi vì sao cha sát cá thế


Cha cười nhìn về hướng biển


Hỏi vì sao mẹ tìm rau giỏi thế?


Mẹ mắng yêu nhìn về hướng núi.


Bảy đứa con mẹ khóc khổ vì tôi nhiều nhất


Và tôi sợ đêm rằm nhất


Sợ lời giải cầu của mẹ linh thiêng


Con đừng vượng hỏa thành điên


Mê thơ phú hóa đời rồ dại


Sao không đi bắc cầu sông Cái


Không đi lái đò sông Con


Không là thầy giáo làng


Không xuống bến Phà Đen làm phu khuân vác?


Mẹ ơi, lạy mẹ đừng khóc


Đừng bán khoán con cho đền phủ làm gì


Con chỉ là con của mẹ


Mẹ nhắm mắt mở môi khe khẽ


Khấn âm âm lời Chinh Phụ, lời Kiều


Cha linh cảm lời cầu phiêu diêu


Bến sông buông câu lặng núi


Bao chiều, Bao chiều, Bao chiều


Canh rào không cá


Cả nhà cơm suông


Tiền bán cá cha mua giấy bút


Trao tình cho con


Dặn chép thơ tích đời trăm chi trứng


Tích đời ông bà sinh ra cha mẹ


Tích đời cha mẹ sinh ra các con


Và tích các con


Những tích đời mười rằm thắp hương


Hướng núi


Núi xanh hồn người


Những tích đời mồng một vọng nhang


Hướng biển


Biển hồn xanh khơi


Con đón lời ký thác


Hết nhìn cha lại nhìn mẹ bồi hồi


Tay đồi mồi cha trang mẹt cơm phơi


Mai thả xuống hồ nuôi cá


Mẹ luồn kim rắn rồng từng mũi vá


Áo lành con mặc sáng mai


Và sáng mai


Mồng một đầu đời


Cha cho con trông về hướng biển vọng nhang...


 


BÀI CA RỘNG KHỔ CHÉP Ở GA HÀNG CỎ ĐỀ TẶNG NGUYỄN KHẮC PHỤC


1,


Trên đầu tôi lộng một khoảng trời xanh


hình như tất cả chim đã bay về đậu dưới sân ga nào vẹt cườm xanh nào gi mỏ đá nào sáo mỏ vàng và cả vàng anh tiểu thư chỉ quen ăn kê và lòng đỏ trứng


sắp có chuyến tầu chở các chàng trai ra trận gọi các cô gái về đây đưa tiễn…


Đã qua rồi cái thời hủ lậu mẹ cha đặt cho ta những cái tên xấu xí nô lệ của quỷ thần các cô gái bây giờ tên đẹp như chim nào thiên nga nào họa mi nào tố uyên hoàng yến… chim trên sân ga Hàng Cỏ áo màu trong nắng nhấp nhô


làm bạn nhớ rừng ư? Hay là nhớ biển? Các bàn đại lý tem thư bầy những con tôm hùm và những con bươm bướm đan bằng dây cước tài hoa thủ công thả sức phô bày chị kẹo bông ông nặn tò he anh bán táo dầm có cây kèn tây thổi lời dụ trẻ


Anh muốn kỷ niệm một con tô? Đừng mua khoe mẽ chẳng được bao lâu lồng vào khóa xe không mất xe cũng bị lũ trẻ thích tôm trộm khóa


hay là ta cứ mua? Nom thật quyến rũ họ làm ra cái đẹp có phải để bầy đâu mà để ta thò tay vào túi móc tiền mua cái đẹp


ba hồi còi tầu xuôi cũng ba hồi ngược cũng ba hồi nghe tiếng còi làm sao phân biệt?


đi mà hỏi mấy bà buôn hàng chuyến tôi đáp gắt với anh chàng cứ lẽo đẽo đi theo đôi mắt xếch mũ cối rách diềm gian xảo hiện ra đầy mặt


không chừng một tay ăn cắp vặt ý nghĩ chợt cười đừng hòng móc hầu bao mấy bà buôn hàng chuyến áo đơn áo kép kim băng


các bà đi tầu thái ở đó có chè có sắn có trầu vỏ có cau khô có đường...


các bà đi tầu lạng ở đó tha hồ hàng trung quốc


các bà đi tầu nam ở đó có gạo ngô có chiếu cói có su hào cà chua có ốc có hến


các bà gánh gồng ngồi chật sân ga nhả quết trầu nhả trạng quỳnh nhả ba giai tú xuất


anh khẩn khoản bảo tôi cố chép lại cảnh ồn ào sân ga hàng cỏ thời chiến tranh để mai sau hòa bình sân ga mở lớn cảnh tượng này sẽ thành cổ tích


tôi đáp cười đừng chép thì hơn cảnh tượng này chẳng bao giờ là cổ tích đáp lời vậy nhưng bút tôi vẫn chép hình ảnh âm thanh tràn khung giấy lan man…


2,


mẹ tôi ra ga chúng tôi ra ga cô em gái đến là mau nước mắt


em trai tôi vai cong ba lô mũ đính sao vàng


mẹ tôi cầm tay em rất lâu tôi ngắm nhìn em rất lâu em gái đưa khăn lau mắt không ai nén được nghẹn ngào


nhớ ngày tiễn anh trai đi du học liên xô có ai nức nở đâu chỉ mình anh trai đỏ mắt nói lời thương cha mẹ ở nhà


nhưng hôm nay em trai đi vào trong ấy không thời hạn không tin đưa chỉ hẹn ngày về hết giặc máu không là nước lã máu ơi


tôi nhìn khắp lượt sân ga những bà mẹ mắt đầy hầm hố những người cha tóc bạc heo may những cô gái ríu rít tên chim đỏ hoe mắt khóc


người ra đi gượng cười cứng lòng mẹ đừng lo cho con con sẽ trở về


mẹ gật đầu thương anh gật đầu tin chị gái gật đầu mơ hồ nước mắt không ai nói với ai một lời mà như nói với nhau nhiều lắm


ga hàng cỏ ngày nào tầu chẳng xuôi nam chẳng đưa những người trai ra trận…


3,


những chim tiễn đã bay đi hết tôi đứng một mình trên sân ga cố mơ mộng tống biệt hành mà lòng không nghe sóng


vẫn trôi trên đầu một khoảng trời xanh


ai đi ngang chào cười chiếc mũ lem dầu che ngang gương mặt tái


tiếng ai chào trên loa ga nào giọng nói cũng đúc một khuôn đói ngủ nghe thương cô gái nhà tầu


em đi ngang qua chợt nhớ dáng em len lỏi từng toa đon đả


tầu lào cai bán phở bán mỳ bán bánh gai bánh khảo tầu phòng bán thuốc lá tầu nam bán tem thư phong bì


em đi ngày nối đêm lắc lư trong giông bão vú tròn căng sữa đói con


muốn chia lời an ủi em nhọc mệt em cười công việc nhà tầu là vậy tầu thời chiến vất vả hơn một chút nhưng vui


vui? hỏi tròn xoe mắt


vui vì đưa người ra trận ai ngược xuôi tầu cũng đều là ra trận


cả mấy người buôn hàng chuyến nữa sao?


em nghe hỏi phá cười


không có mấy bà buôn hàng chuyến thử hỏi làm sao thủ đô có gạo có đường có chiếu cói có ốc có hến?


hai bà phin nõn từ trong tranh hứng dừa hiện ra mời chào nung núc vú bán gì hai chị cũng mua mua gì hai chị cũng bán


uể oải lắc đầu chợt nhớ hứa mua tặng con một món đồ chơi noel sờ túi một xấp dầy tem phiếu thằng bạn đi công tác nước ngoài dúi tặng hôm qua


nhìn trước trông sau không một sắc áo vàng


nhưng biết đâu một cánh áo vàng bỗng từ trời bay xuống


ô dề thành kẻ tiếp tay phe


hai bà phin nõn bĩu môi lườm nguýt bỏ đi


một chàng thư sinh


mũ cối áo bộ đội phong trần


lời chào lễ phép


em từ mặt trận về còn dư một ít lương khô…


khinh ra mặt


linh tính mách về những quân đảo ngũ


em nhờ anh mang về biếu mẹ


mẹ tôi?


lúc nãy ngoài ga nhìn mẹ khóc


mẹ nào chẳng khóc ướt vai con


có người lính nào lại không thương mẹ


em về tiếp nhận tân binh mai mốt lại vào trong ấy


nhoáng nhoàng còi báo động


người lính vội đi


tay tôi những phong lương khô bốc lửa


lòng tôi nỗi xấu hổ rỉ máu


sân ga chiến tranh


sân ga chiến tranh


thật giả bao nhiêu lẫn lộn


hình như chỉ nước mắt mẹ thật thôi…


4,


tôi đã bán xấp tem phiếu giữa sân ga hàng cỏ


nỗi sợ hãi vô hình chẳng ai nhìn tôi


nhưng tôi biết mắt trời nhìn thấy


trời nhìn thấy cũng kệ trời


tôi ra cửa nam mua cho con trai một con gấu dạ một túi kẹo bọc giấy xanh giấy đỏ mua cho vợ vỉ kim băng kẹp tóc


đạn bom mặc kệ đạn bom noel đã về ngang ngõ


giặc sẽ ngừng ném bom để xúc miệng máu sám hối chúa


tôi muốn đón vợ con từ sơ tán về nhà


tóc vợ dài kẹp bồng bềnh tóc tã bông con quấn kim băng có gấu dạ con như thêm bạn kẹo hồng miệng mẹ môi con


thoáng bóng người quen định gọi kịp câm ông trưởng phòng cười tươi bên hai bà phin nõn họ trao nhau xấp tem phiếu xấp tiền


rồi ông trưởng phòng đi nhanh về phía cửa nam


tôi ngộ điều gì mà cười một mình? ba hồi còi tầu nuốt chửng tiếng cười tôi tầu nam tăng chuyến đưa tân bình vào trong ấy


ông trưởng phòng chạy vào ga một xấp mũ tai bèo vinilông đen trên tay ông đưa vội cho những người chiến sĩ


hai bà phin nõn ứa mắt nhìn theo tay xé tập tem phiếu hết hạn


một năm ông ấy dụm dành chúng tôi mua góp lòng cùng ông ấy


ga hàng cỏ bâng khuâng


và tôi đứng lặng giữa bâng khuâng…


 


CỬU TỤNG


1


nam mô thiên trạch lý


rửa tay thắp hương rước lễ


dương cương khai môn âm


âm nhu đón nước đầm


hoan hoan vú mẹ


lạy vú sinh tồn


nhu thuận dẫm theo chân hổ


cát tường từng bước lên non


dương hương cong von


nếp ăn nghĩa ở


đức ở cội ở lý


nguồn từ giao hoan


lý từ lẽ sống


2


ngưỡng mộ chót vót cao xanh


mượn mộng bay lên trời


khi chân đứng giữa cao trời


trông về thăm thăm đất


hơ hoảng tỉnh mộng


ngộ một chữ khiêm


trời thật cao mà không là cao


đất nhận phần thật thấp


cao phun xuống trao dương


thấp lắng đón hội tình


thập loại chúng sinh phát dục


hoan hoan vơi đầy


núi cao bằng trời ư


sao núi chê đất thấp?


đất chẳng buồn chẳng vui


đất mở ruộng sinh cây sinh cội


lập xóm lập làng


lập cho núi ruộng bậc thang


thương núi cô đơn giận lũ


từ ngộ đức khiêm


về suối làm viên sỏi nhỏ


hôn chân tình lội qua


về sông làm đò


chở ngãi sang làng quan họ


về đời làm con sóng thơ


hợp xướng lời biển cả


trời khiêm là thế


đất khiêm là thế


núi khiêm hóa thổ là thế


biển cả khiêm là thế


nam mô


3


sấm sét giấu mình trong đất


chờ thời rền vang


lục thượng đoạn thời tiểu nhân


nhu nhẫn hoan ca ẩm tửu


hoan ca quên lời dặn dò


sập đêm làm sao vô cữu


lôi cửu sơ đã thức mặt trời


quân tử liệu còn quân tử?


bĩ ngập lòng


ái mách tai lời thái?


sấm sét thanh mà không lực


sấm sét không hại ai


sấm sét chỉ gọi thức


địa lôi phục


4


nam mô lôi


nam mô phong


giao hoan âm dương


thành đạo núi


thành đạo sông


thành đạo xóm đạo làng


thành đạo tộc đạo nước


thành đạo trời đạo trăng


thành đạo hoàn vũ


thành đạo vợ chồng


rồi lại thành gió


rồi lại thành mưa


rồi lại thành dương


rồi lại thành âm


lại hoan phối


luân hồi


lôi phong hằng


5


sơn nhất mực thăng cao


phun mưa


bao nhiêu nước thì vừa lòng trạch?


câu hỏi không lời đáp


chỉ thấy trạch tắm kiều


mời dục


cơm sôi


mời dục


sơn tiếc của tình


phỉ sức


núi rạc


quân tử tầu


tổn tưởng không là tổn


sơn có tan cũng là tan vào trạch


lại tắm kiều


lại cơm sôi


lại trăng thanh


tội nghiệp mẹ đã sinh ra núi


6


hoan hoan gieo vào đất ích


những hạt đức


người trữ mưa cho hạ


trữ sấm cho đồng


trữ nắng cho quả chín


trữ đò cho sông


trữ cây cho rừng


trữ sóng cho bể


rồi nuôi trăng


rồi nuôi chữ


rồi nuôi tuổi


rồi nuôi lửa


rồi đắp mộ


rồi dựng làng


rồi giữ non sông


cây đức xum xuê của ích


chụm ba cây


thành thổ


phúc


7


khổn chị dậu


khổn thúy kiều


đâu phải khổn nào cũng khóc?


đầm kiệt làm gì có nước


khổn thị nở


khổn chí phèo


rạch mặt chửi cả làng vũ đại


cháo hành lò gạch trăng mơ


khổn cao bà quát thánh thơ


gươm đàn kháng khổn


chu di tam đại về trời


vận khổn chẳng dám lộng lời


cười qua khổn vói gọi trời mưa bay


trạch kiệt rồi trạch lại đầy


8


trong lòng khôn có mạch


gặp mạch đào nên tỉnh


vách đất vách gạch vách đá


cũng giếng


ăn đời này


đời khác không cạn


trữ đời này


đời khác không tràn


chỉ cần buông gầu


vục được nước


không phải trả kim


lại được soi gương


soi gương thấy nước chảy trong lòng


thành mạch


thành đạo


đạo giếng


không cạn


không tràn


9


nam mô phong


đông phong mở cửa đồng bằng


tây phong lên núi làm gió rừng


bắc phong thức đan áo ấm


nam phong trăng võng quạt chơi


ấy là gió thực gió thức thời gió


gió mềm như lụa ấm mát trần gian


với gió không thực gió thổi ra từ lưỡi


gió cát gió hung


là gieo gió


gieo ắt gặt


gió cát gặp bão phúc


gió hung gặt cuồng phong


gặt khóc gặt cười


nam mô


tôi tụng tôi


nhân quả


 


BNN.


Nguồn: Nguyễn Nguyên Bẩy - Thơ. NXB Văn học, 2010.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Điệu valse xứ núi - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Những ngọn sóng tỏa hương - Trần Mai Hường 22.03.2017
Đọc lại vài bài thơ Nguyễn Đình Thi - Nguyễn Đình Thi 18.03.2017
Chùm thơ Hoàng Kim Vũ (9) - Hoàng Kim Vũ 18.03.2017
Gửi… - Lê Khánh Mai 17.03.2017
Chùm thơ Vũ Thanh Tùng - Vũ Thanh Tùng 16.03.2017
Chùm thơ Hoàng Kim Vũ (8) - Hoàng Kim Vũ 16.03.2017
Chùm Thơ PN.Thường Đoan - Phan Ngọc Thường Đoan 16.03.2017
Vang mãi bản hùng ca - Hoàng Kim Vũ 15.03.2017
Cầu thang - Hoài Anh 15.03.2017
xem thêm »