tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20545611
08.09.2010
Tư liệu sưu tầm
Vài nét về lịch sử tiền tệ Việt Nam và thế giới

Đồng (VND) là đơn vị tiền tệ chính thức của Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Nó có ký hiệu là ₫, mã quốc tế theo ISO 4217 là "VND". Một đồng có giá trị bằng 100 xu hay 10 hào. Hai đơn vị xuhào vì quá nhỏ nên không còn được phát hành nữa. Tiền giấy được phát hành hiện nay có giá trị 500₫, 1000₫, 2000₫, 5000₫, 10.000₫, 20.000₫, 50.000₫, 100.000₫, 200.000₫ và 500.000₫. Đồng thời cũng có tiền kim loại trị giá 200₫,500₫, 1000₫, 2000₫ và 5000₫. Loại tiền này còn được gọi một cách dân dã là Tiền cụ Hồ, đặc biệt khi dùng để phân biệt với các loại tiền khác đã từng lưu hành tại Việt Nam có cùng tên gọi là "đồng".


Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn nghĩa là người ta bắt buộc phải chấp nhận khi nó được dùng để thanh toán cho một khoản nợ xác lập bằng VND với mọi số lượng, mệnh giá.


Thời Bắc thuộc


Căn cứ vào những đồng tiền thu được khi tiến hành khảo cổ, từ thời Bắc thuộc tiền đồng Trung quốc đã được sử dụng ở Việt Nam như tiền Hán nguyên thông bảo của nhà Hán, đồng Khai nguyên thông bảo của nhà Đường. Bên cạnh đó, những đĩnh vàng, đĩnh bạc của Trung quốc cũng được lưu hành.


Thời phong kiến độc lập


Ngoài những đĩnh vàng, đĩnh bạc, tiền tệ Việt Nam chủ yếu là tiền đồng, tiền kẽm.


Thời Đinh, : Đinh Tiên Hoàng cho đúc tiền đồng hiệu Thái bình thông bảo sau đó Lê Đại Hành cho đúc tiền đồng Thiên phúc trấn bảo.


Thời : dưới triều vua Lý Thái Tông, tiền đồng có hiệu Minh đạo thông bảo, sang đến triều Lý Thần Tông, tiền đồng hiệu là Thuận thiên thông bảo.


Thời Trần, Hồ: các triều vua cũng cho đúc tiền đồng, đến đời Trần Minh Tông (1323) thì chuyển sang đúc tiền kẽm, tuy nhiên do tiền kẽm sử dụng không được thuận tiện nên nhanh chóng bị bãi bỏ. Dưới triều vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly chấp chính đã bắt đầu cho phát hành tiền giấy gọi là Thông bảo hội sao. Tiền giấy Thông bảo hội sao có các loại mệnh giá sau: 1 quan vẽ rồng, 30 đồng vẽ sóng nước, 10 đồng vẽ cây đào, 5 tiền vẽ chim phượng, 3 tiền vẽ kỳ lân, 2 tiền vẽ rùa, 1 tiền vẽ mây. Dân cư có tiền cũ phải nộp hết vào kho của Nhà nước và cứ 1 quan tiền đồng đổi thành 1 quan 2 tiền giấy, ai tàng trữ sẽ bị tử hình nhằm loại bỏ hẳn tiền đồng và bắt buộc sử dụng tiền giấy.


Thời , Mạc: trải qua giai đoạn bị nhà Minh đô hộ, khi Lê Thái Tổ lật đổ ách thống trị của nhà Minh và lên ngôi vua, tiền đồng trong nước không còn, ông cho đúc tiền đồng Thuận thiên thông bảo và quy định 1 tiền bằng 50 đồng. Triều vua Lê Thái Tông đúc tiền đồng hiệu Thiệu bình và quy định 1 tiền bằng 60 đồng. Năm 1528, Mạc Đăng Dung cho đúc tiền kẽm và cả tiền sắt, đến năm 1658, tiền kẽm và tiền sắt bị cấm sử dụng. Dưới triều vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng), do những cuộc nội chiến liên miên tốn kém chi phí nên nhà vua cho mở rất nhiều sở đúc tiền để đúc tiền kẽm. Năm 1726 (Cảnh Hưng thứ 37), tiền đồng niên hiệu Cảnh Hưng thuận bảo lại được đúc từ binh khí và đại bác bằng đồng không sử dụng nữa.


Thời Nguyễn: Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho mở các sở đúc tiền ở Bắc thành, Gia Định để đúc tiền đồng Gia Long thông bảo. Các triều vua sau của nhà Nguyễn tiếp tục đúc tiền đồng và có lúc đúc cả tiền kẽm. Song song với tiền đồng, các loại thoi bạc, thoi vàng và tiền bạc, tiền vàng cũng xuất hiện từ khoảng năm 1820, cuối triều Gia Long, đầu triều Minh Mạng. Vàng được định giá gấp 17 lần bạc và mỗi lạng bạc giá 2 quan 3 tiền đồng.


Thời kỳ Việt Nam là một phần của Đông Dương thuộc Pháp


Trong thời kỳ này, đơn vị tiền tệ của cả khu vực Đông Dương là piastre, được dịch ra tiếng Việt là "đồng" hay đôi khi là "bạc". Tiền tệ do chính quyền trong giai đoạn này lấy bạc làm bản vị nhưng những đồng tiền của các triều vua nhà Nguyễn vẫn được lưu hành chủ yếu ở các vùng nông thôn mặc dù bất hợp pháp. Tiền đúc lúc đầu có đồng bạc Mexico nặng 27 gam 073 (độ tinh khiết 902 phần nghìn), sau đó là đồng bạc Đông Dương được đúc ở Pháp nặng 27 gam (độ tinh khiết 900 phần nghìn). Tiền giấy thời kỳ này được Ngân hàng Đông Dương phát hành và có thể đem đến ngân hàng đổi thành bạc. Một sắc lệnh ngày 16 tháng 5 năm 1900 cho phép Ngân hàng Đông Dương in tiền giấy gấp ba lần số bạc đảm bảo nhưng khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra thì tỷ lệ này không còn giữ được nữa, tiền giấy phát hành gấp nhiều lần số bạc đảm bảo. Sau một số biện pháp cải cách tiền tệ, ngày 31 tháng 5 năm 1930, Tổng thống Pháp có sắc lệnh quy định đồng bạc Đông Pháp (Đông Dương) có giá trị là 655 miligam vàng (độ tinh khiết 900 phần nghìn), từ đó chấm dứt chế độ bản vị bạc mà chuyển sang bản vị vàng.


Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám


Từ 1945-1954: Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 31 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nghị định phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và ngày 31 tháng 11 năm 1946, giấy bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Một mặt in chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán và hình Hồ Chí Minh; một mặt in hình Nông - Công - Binh. Các loại giấy bạc đều có số Ả Rập, chữ quốc ngữ, chữ Hán, Lào, Campuchia chỉ mệnh giá, có ký tên Bộ trưởng Bộ Tài chính (Phạm Văn Đồng hoặc Lê Văn Hiến) và Giám đốc Ngân khố trung ương. Do đó ngoài tên gọi là giấy bạc cụ Hồ, nhân dân còn gọi là giấy bạc tài chính. Ngày 5 tháng 6 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nghị định thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và phát hành giấy bạc ngân hàng. Giấy bạc ngân hàng đổi lấy giấy bạc tài chính theo tỷ lệ 1 đồng ngân hàng đổi 10 đồng tài chính. Giấy bạc ngân hàng có các loại mệnh giá: 1 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1.000 đồng và 5.000 đồng. Một mặt in chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chữ Hán và chữ quốc ngữ) và hình Hồ Chí Minh; một mặt in hình Công - Nông - Binh, hình bộ đội ở chiến trường. Trên tờ giấy bạc có số hiệu, mệnh giá ghi bằng số Ả Rập, chữ quốc ngữ và chữ Hán. Sau đó, việc liên lạc giữa địa phương và trung ương có nhiều khó khăn, nên chính quyền trung ương cho phép Trung BộNam Bộ phát hành tiền riêng. Tiền này có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Hình ảnh trang trí cũng tương tự như giấy bạc ngân hàng chỉ khác là trên giấy bạc có chữ ký của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ (Phạm Văn Bạch), đại diện Bộ trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân khố Nam Bộ. Một số tỉnh được phát hành tín phiếu, phiếu đổi chác, phiếu tiếp tế.... hoặc giấy bạc chỉ lưu hành trong tỉnh. Thời kỳ đó, ở Nam Bộ nền kinh tế chia ra hai vùng, sử dụng hai loại tiền khác nhau, vùng thuộc sự kiểm soát của Pháp lưu hành tiền do Pháp phát hành. Mặt khác, mặc dù Chính phủ phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng do phương tiện giao thông còn khó khăn nên loại tiền này không lưu hành đến Nam Bộ. Chính vì thế, sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân Nam Bộ vẫn sử dụng các loại tiền giấy, tiền kim loại do chế độ cũ phát hành.


Từ 1954-1975: Sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam, miền Bắc và miền Nam có hai chế độ khác nhau, mỗi chế độ in tiền riêng, đều gọi là đồng. Ở miền Nam, từ năm 1953, lưu hành Đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa).


Sau 30 tháng 4 năm 1975: tiền miền Nam phải đổi thành tiền giải phóng với giá 500 đồng miền Nam cho mỗi đồng giải phóng từ Quảng Nam-Đà Nẵng trở vào, ở Thừa Thiên-Huế trở ra, 1000 đồng tiền miền Nam đổi được 3 đồng giải phóng. Vào năm 1978, sau khi thống nhất hai miền về mặt hành chính, đã có một cuộc đổi tiền nữa. Tỷ giá đổi tiền miền Bắc là 1 đồng cũ thành 1 đồng thống nhất trong khi tại miền Nam 1 đồng giải phóng thành 8 hào tiền thống nhất. Lần đổi tiền thứ ba xảy ra vào năm 1985, khi 10 đồng tiền cũ đổi thành 1 đồng tiền mới.


Trong tiếng Việt, "đồng" cũng có thể dùng để chỉ đến những đơn vị tiền tệ nước ngoài, đặc biệt là những đơn vị ít người biết đến. Trong một số cộng đồng dùng tiếng Việt ở hải ngoại, đồng cũng có thể dùng để chỉ đến đơn vị tiền tệ địa phương.


Những năm gần đây, Việt Nam cho ra đời tiền kim loại có mệnh giá nhỏ kết hợp với việc in tiền mới (đổi chất liệu in từ giấy cotton sang polymer), nhưng một số tờ tiền mới in đã gặp vài lỗi kĩ thuật[1] [2].


Chính sách tỷ giá hối đoái


Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực hiện chính sách quản lý tỷ giá hối đoái theo hướng thả nổi có kiểm soát. Trong vòng vài ba năm trở lại đây (giai đoạn 2003-2005) đồng Việt Nam có tỷ giá khá ổn định so với đồng đô la Mỹ do chính sách của Ngân hàng Nhà nước chỉ cho đồng giảm giá khoảng 1% một năm. Sau khi đồng đô la của Zimbabwe đổi giá vào đầu tháng 8 năm 2006, đơn vị đồng trở thành đơn vị tiền thấp giá nhất trên thế giới.


VND hiện vẫn là tiền tệ có khả năng tự do chuyển đổi thấp, chưa trở thành đồng tiền dùng trong thanh toán quốc tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực hiện các biện pháp để nâng cao khả năng tự do chuyển đổi của VND bằng cách trước mắt nâng cao tỷ trọng thanh toán xuất khẩu bằng VND (mục tiêu đến năm 2010 đạt 30%) tiến tới sử dụng VND trong thanh toán nhập khẩu song song với việc tự do hóa hoàn toàn giao dịch vãng lai.


Tỉ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ là 1:18932 (thời điểm ngày 18 tháng 08 năm 2010).


Phá giá đồng tiền


Tháng 11 năm 2009, Chính phủ Việt Nam quyết định phá giá 5% đồng tiền Việt Nam, đồng thời tăng lãi suất lên 8%. Việc này được xem như là hành động làm căng thẳng thị trường tài chính Châu Á, vì các nền kinh tế trong vùng đang tranh nhau tạo ưu thế với thị trường Âu Mỹ. [3]


Ngày 11 tháng 2 năm 2010, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam định lại mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa tiền đồng Việt Nam và đôla Mỹ, theo đó, một đôla Mỹ ăn 18.544 đồng.


Ngày 10 tháng 2 năm 2010, mức tỷ giá này 17.941 đồng. Như vậy, đồng tiền Việt Nam bị giảm giá 3,4% so với đôla Mỹ.


Đến ngày 28 tháng 2 năm 2010, mức tỷ giá ở thị trường chợ đen là 19.500 đồng.


Ngày 18/08/2010 Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá từ mức 18.544 đồng/USD lên mức 18.932 đồng/USD (tương đương tăng 388 đồng)


Tham khảo


Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa Thông tin 2002.


Lịch sử ra đời tiền giấy


Tiền giấy thực sự ra đời ở Trung Quốc, thời Bắc Tống. Tuy nhiên, những hình thức sơ khai của nó, đã có từ thời cổ đại ở nhiều nơi trên thế giới.


 Các hình thức sơ khai


Mesopotamia cổ đại người ta đã sử dụng draft (một loại giấy tờ bảo đảm cho thóc lúa dự trữ trong kho) trong thanh toán như tiền. Ở Hy Lạp, đơn vị tiền giấy cổ xưa được sử dụng là drachma (xuất phát từ drama = 1kg thóc). Ở Nhật Bản thời phong kiến cổ, đồng tiền giấy lấy cơ sở là lúa gạo của 1 năm bằng 1 koku. Và Ai Cập cũng đã sử dụng tiền giấy vào thế kỷ 1 trước công nguyên.


Còn tiền giấy Trung Quốc được sử dụng từ thế kỷ VII dưới triều đại nhà Đường. Khi ấy hệ thống tiền tệ chính của Trung Quốc vẫn là tiền xu tròn lỗ vuông và tiền vàng, bạc. Xuất phát từ hoạt động của các hiệu cầm đồ, kim hoàn nhận giữ tiền hộ khác hàng, người ta nghĩ ra cách thanh toán bằng những tờ giấy chứng nhận gửi tiền để dễ vận chuyển và an toàn trong sử dụng. Tiền ngày ấy được gọi là “phi tệ” vì nó nhẹ. Đến thế kỷ X, tiền giấy Trung Quốc đã được sử dụng rất rộng rãi trên địa bàn rộng lớn và đã có một hệ thống thanh toán ngân hàng khá hoàn chỉnh.


Tiền giấy chính thức ở Trung Quốc


Ở Trung Quốc vua Đường Cao Tông (650–683) phát hành tiền giấy lần đầu tiên, được công nhận là tiền tệ trong thế kỷ thứ 10. Vào khoảng năm 1300 tiền giấy cũng được ban hành ở Nhật Bản, Ba TưẤn Độ.


Năm 1023, triều đình Bắc Tống đã chiếm lấy quyền phát hành tiền giấy, lập Giao Tử Vụ tại Ích Châu, đến năm 1024 phát hành “Quan Giao Tử” từ 1 đến 10 quan. Năm 1033 Giao Tử cải lại làm hai loại: 5 quan và 10 quan. Năm 1068, Giao Tử lại cải thành hai loại: 1 quan và 500 đồng. Rồi ngày càng phát triển rộng ra. Năm 1069, lập Giao Tử vụ tại Lộ Châu, phát hành Giao Tử tại lộ Hà Đông. Năm 1071, phát hành Giao tử tại Thiểm Tây. Rồi Giao tử cải thành “Tiền dẫn”, thành “Hội tử”, thành “Giao sao”….


Khi ấy người châu Âu hầu như không biết gì về Trung Quốc. Một sự kiện rất nổi tiếng và được coi là đem lại những hiểu biết đầu tiên của châu Âu về Trung Quốc là cuộc phiêu lưu của một người Italia tên là Marco Polo đến Trung Quốc vào thế kỷ XIII. Cuộc phiêu lưu này được chính Marco Polo kể lại bằng một cuốn hồi ký làm xôn xao dư luận châu Âu thời đó vì vô vàn những điều mới lạ. Trong đó, ông có trình bày về cách sản xuất và lưu hành tiền giấy. Khi đó, tiền giấy là một điều hoàn toàn mới lạ ở châu Âu, nhiều người tỏ ra không tin và nghi ngờ giá trị của một loại tiền được làm bằng giấy.


Tuy nhiên tiền giấy này thực chất mới chỉ là các “ngân phiếu”, nó không thay thế hoàn toàn cho tiền kim loại trong đời sống thường nhật. Nó cũng chỉ lưu hành trong một tầng lớp thương nhân và quý tộc giàu có bởi mệnh giá của nó rất lớn. Để trở thành một đồng tiền hoàn chỉnh như ngày nay thì còn có một khoảng cách rất dài. Tiếc rằng tiền giấy Trung Quốc đã không có nhiều cơ hội tiếp tục phát triển do những hạn chế về chính trị. Năm 1455, triều đại nhà Minh đã ban hành nhiều biện pháp hạn chế tiền giấy đồng thời đóng cửa nhiều trung tâm tài chính lúc đó. Từ đó tiền giấy Trung Quốc hầu như không được nhắc đến nữa.


[Tiền giấy thời nhà Hồ Việt Nam


Thời nhà HồViệt Nam đã ban hành tiền giấy năm 1396. Đó là một thời điểm rất sớm so với lịch sử tiền giấy nhưng chính sách ban hành tiền giấy đó không hề được đánh giá là tiến bộ.


Sử cũ chỉ chép lại rằng: “mùa hạ, tháng 4 năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái năm thứ 9 (1396) (khi đó Hồ Quý Ly chưa cướp ngôi nhà Trần) bắt đầu phát hành tiền giấy “Thông bảo hội sao”. In xong, hạ lệnh cho người đem tiền đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1 quan 2 tiền. Thể thức tiền giấy: Giấy 10 đồng vẽ rong; 30 đồng vẽ sóng; 1 tiền vẽ mây; 2 tiền vẽ rùa; 3 tiền vẽ lân; 5 tiền vẽ phượng; 1 quan vẽ rồng. Ai làm giả phải tội chết, tịch thu điền sản vào nhà nước. Cấm hẳn tiền đồng không được chứa và tiêu riêng; đều thu lại chứa tại Ngao Trì, chứa tại kinh thành và ở trị sở các xứ. Ai phạm thì cũng phải tội như trên”.[1]


Như vậy là đồng tiền giấy này đã được đưa vào trong lưu thông một cách triệt để. Nó khác hẳn tiền giấy của Trung Quốc, chỉ lưu thông rất hạn chế. Không hiểu khi đó Hồ Quý Ly lấy ý tưởng độc đáo này ở đâu vì trước đó không có tiền lệ lịch sử ở đâu làm điều tương tự. Chỉ biết rằng chính sách này của Hồ Quý Ly là nhằm mục đích thu thập kim loại làm vũ khí cho chiến tranh. Cách phát hành tiền là đổi hoàn toàn tiền cũ lấy tiền mới, nên về lí thuyết nó không ảnh hưởng gì tới giá trị đồng tiền mà thậm chí đó là một tư tưởng tiến bộ giúp tiết kiệm kim loại và sử dụng tiền thuận tiện hơn. Tuy nhiên, cũng chỉ bằng lý luận cũng đã thấy ngay sự không hợp lý của chính sách này, đó là sự vi phạm quy luật phù hợp giữa hình thức và nội dung. Sự ra đời của tiền giấy đâu có dễ dàng, đâu phải cứ ban hành một điều luật bắt buộc mà được. Sự ra đời tiền giấy phải có những tiền đề kinh tế của nó, phải trải qua những giai đoạn thai nghén trung gian để có được lòng tin của dân chúng, có cơ chế điều hành của hệ thống tài chính - ngân hàng. Và vì vậy, thực tế chính sách tiền giấy của Hồ Quý Ly đã hoàn toàn thất bại.


Lịch sử đã ghi nhận: vừa mới ban hành tiền giấy, nhà nước đã ban hành một chính sách độc đoán hơn cả tính chất độc đoán sẵn có của tiền giấy: Cấm hẳn tiêu tiền kim loại. Thực tế, đến năm 1403 tức sau bảy năm ban hành, tiền giấy vẫn không được ưa dùng, và do nhà nước cấm tiền đồng, nhân dân buộc phải trao đổi theo hình thức hàng đổi hàng. Nhà nước đã phải định giá tiền giấy cho trao đổi, lập điều luật định tội không tiêu tiền giấy.


Nhà nước ngoài việc dùng pháp luật cưỡng bức còn đưa ra nhiều biện pháp khác cố làm cho đồng tiền đó được lưu hành rộng rãi trong nhân dân. Năm 1401, Hồ Hán Thương đặt kho Thường bình, phát tiền giấy cho các lộ, theo thời giá đong thóc chứa vào kho ấy. Năm 1402, định lại các thuế về tô ruộng, theo đó: Triều đình trước mỗi mẫu thu 3 thăng thóc nay thu 5 thăng nhưng nộp bằng tiền giấy thì được giảm đi. Thuế đinh cũng tương tự, thu bằng thóc thì thu nặng hơn trước nhưng thu bằng tiền giấy thì lại giảm đi. Bằng những biện pháp cưỡng bức kết hợp với khuyến khích như vậy mà tiền giấy vẫn không được lưu thông dù rất ít.


Bình luận về tiền giấy “Thông bảo hội sao”, người xưa đã viết: Tiền giấy chẳng qua chỉ là một mảnh giấy vuông, phí tổn chỉ đáng năm, ba tiền mà đem đổi lấy vật đáng giá năm, sáu trăm đồng của người ta, cố nhiên không phải là cái đạo đúng mức. Vả lại, người có tiền giấy cất giữ cũng dễ rách nát, mà kẻ làm giả mạo sinh ra vô cùng, thật không phải là cách bình ổn vật giá mà lưu thông của cải của dân vậy. Quý Ly không xem kỹ đến cái gốc lợi hại, chỉ ham chuộng hư danh sáng chế, để cho tiền của, hàng hoá thường vẫn lưu thông tự nhiên ứ đọng, khiến dân nghe thấy đã sợ, thêm mối xôn xao, thế có phải là chế độ bình trị đâu.[cần dẫn nguồn]


Việc ban hành tiền giấy của nhà Hồ xem như thất bại. Cùng với sự sụp đổ của nhà Hồ, tiền giấy cũng chấm dứt lưu hành. Năm 1429, ngay năm thứ hai sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã cho đúc tiền kim loại trở lại, nhân dân lại quay trở lại dùng tiền này.


Tiền giấy “Thông bảo hội sao” nhà Hồ ban hành như một bông hoa trái mùa nên nhanh chóng lụi tàn. Tuy nhiên chính sách tiền tệ của nhà Hồ là một bài học lịch sử đắt giá của đất nước [cần dẫn nguồn]. Nhất là những chính sách ban hành đồng tiền mới ngày nay có nhiều điều phải học hỏi không thừa.[cần dẫn nguồn]


Tiền giấy hiện đại ra đời ở Châu Âu


Những giấy bạc đầu tiên của châu Âu được ra đời vào năm 1483, nó được phát hành trong bối cảnh người Tây Ban Nha bị bao vây bởi những người Moors. Ngoài ra cũng có giả thuyết cho là việc xuất hiện những tờ tiền làm bằng giấy bồi gồm nhiều dạng trị giá khác nhau được sản xuất vào năm 1574 bởi những công dân bị vây hãm thuộc thành Leyden. Cả thành phố Leyden và Middelburg lúc bấy giờ đang bị người Tây Ban Nha bao vây nên thiếu bạc để đúc những đồng tiền kim loại nên họ buộc phải dùng bìa các quyển sổ của đạo Công giáo để làm vật liệu cho loại tiền giấy bồi. Tuy loại tiền giấy bồi được mô tả là loại tiền giấy lâu đời nhất của châu Âu còn giữ được, nhưng mặt khác, chúng không phải là những tờ giấy bạc thật.


Thụy Điển


300 năm sau khi Marco Polo tường trình về tiền giấy của người Trung Hoa, Ngân hàng Stockholm BancoThuỵ Điển mới phát hành những tờ giấy bạc đầu tiên. Nguyên do của việc phát hành những tờ giấy bạc này là do sự phá giá của loại tiền kim loại bằng đồng đó xuất hiện vào năm 1644. Nhằm tìm ra giải pháp hợp lí cho cán cân chi phí của giai đoạn chuyển thể kinh tế, Johann Palmstruth đã đề nghị phát hành cái gọi là "Kreditivsedla" và năm 1661 những tờ giấy bạc đầu tiên được xuất hiện từ xưởng Riskdaler và Daler. Người ta cho rằng những tờ tiền này bao gồm những loại có chỉ số giá trị được viết bằng tay. Đợt phát hành lần thứ hai vào năm 1662 - 1664 các chỉ số được in một cách cẩn thận hơn, và lần thứ ba được phát hành vào năm 1666 - có xem xét gia tăng một cách đáng kể theo đơn đặt hàng. Phỏng chừng có đến 60 tờ giấy bạc có các đơn vị 10, 25, 50 và 100 Daler bạc được lưu giữ lại.


Anh


Cùng vào thời gian đó tại Anh, người ta cũng được biết đến những tờ giấy bạc Goldsmith. Ngay từ thời xa xưa đó đã có hình thức kí gửi tiền. Đối với những khoản tiền gửi có lãi - thời hạn rút tiền được ấn định (có kỳ hạn). Cùng những loại kí gửi không có lãi thì được hoàn trả lại theo yêu cầu (không kì hạn). Những nhà ngân hàng phát hành ra những chi phiếu cho số tiền gửi không cần đề tên... nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc chi trả số tiền kí gửi. Những chi phiếu này đã được phát hành bằng chỉ số giá trị nhỏ và tròn số, những tờ "giấy bạc" này được xem như là những tờ giấy bạc tiên phong của ngành ngân hàng.


Vào năm 1694, Ngân hàng Anh quốc được thành lập và những tờ giấy bạc đầu tiên được phát hành. Cùng lúc các đạo luật của Quốc hội được ban hành để củng cố vị trí đặc biệt của ngân hàng và các thương nhân cũng bắt đầu nhận thức được sự tài trợ của ngân hàng trong giai đoạn kinh tế khủng khoảng. Chính vì thế mà Ngân hàng Anh quốc đã thành công trong việc xác lập các nền tảng vững chắc cho mình lúc bấy giờ.


Scotland, Nauy và Đan Mạch


Sau Anh một năm là Scotland đã thiết lập ngân hàng trung ương. Ngân hàng kế đến là Na Uy và vùng Danish, việc phát hành các tờ giấy bạc phi lãi suất đã bắt đầu xuất hiện do sáng kiến của thương nhân Thor Mohlen. Kể cả Đan Mạch vua Federic IV đã có tờ giấy bạc được sản xuất vào 18 năm sau: vào năm 1713 trong cuộc chiến tranh Bắc Âu.


Pháp


Pháp, tình trạng tài chính đang kiệt quệ, chính lí do này đã thúc đẩy vua Louis XIX áp dụng chính sách cải cách tiền kim loại đang được lưu hành. Vào năm 1703, ông ta đã chỉ thị thu hồi các đồng tiền kim khí, đóng dấu đè và tái phát hành với chỉ số giá trị cao hơn. Các biên nhận thu hồi tiền kim khí còn được gọi là coin scrip, như đã thông báo tính hợp pháp của nó. Song biện pháp này không cứu vãn được tình trạng tài chính của nước Pháp. Nợ nần chồng chất của chính phủ kéo dài dai dẳng kể cả sau khi nhà vua mất. Chính vì thế, người ta không thấy làm ngạc nhiên trước tư tưởng của John Law một người Scotland về việc phục hồi ngân sách của chính phủ, đã được hồ hởi công nhận. Law ước mong phát hành gia tăng giấy bạc và đề xướng chính sách tín dụng. Vào năm 1716, ông ta được chính phủ cho phép thiết lập Ngân hàng trung ương nhằm phát hành các đồng tiền "ECUS" dưới dạng giấy bạc.


Đến năm 1718, chính phủ tiếp quản ngân hàng. Các tờ giấy bạc được phát hành sau này nhằm trả cho các công ty "Livres Tournois" và các cổ phần hai công ty thuộc địa là "Compagnie des Indes" và "Compagnie d'Occident". Sau đó, Law đã tiến hành thực hiện một dự án tài chính và chứng khoán nguy hiểm mà hậu quả dẫn đến là một tai hoạ nghiêm trọng vào năm 1720. Ngân hàng bị đóng cửa, Law đã phải rời nước Pháp và bỏ lại các tài sản của ông ta.


Đó cũng không phải là kinh nghiệm duy nhất của nước Pháp về tiền giấy ở thế kỉ XVIII. Nền tài chính nước Pháp còn gặp phải nhiều điều bất hạnh, suy thoái kéo dài qua thời kỳ cách mạng tư sản. Việc sụt giảm các khoản lợi tức đã khiến chính phủ phải đương đầu với những yêu cầu gia tăng về các khoản chi phí phát sinh. Trong khuôn khổ dự án do Tallyran đưa ra, nhằm bảo đảm tính an toàn cho tín phiếu - mà bảo chứng của chúng là những tài sản của Giáo hội bị tịch thu. Những tờ giấy bạc của đợt phát hành đầu tiên có lãi trong khi những đợt phát hành sau đó không có. Mặt khác, nhằm làm giảm sức khan hiếm tiền lẻ, nhiều thành phố, thị trấn đã cho phát hành "loại giấy bạc tín nhiệm" (billets de confiance, tín tệ) với hàng nghìn mẫu trong lưu thông. Đối với chính phủ cũng vậy, không còn in tín phiếu với chỉ số giá trị nhỏ. Cùng một lúc phát hành tín phiếu trị giá cao đồng thời liên tục gia tăng lượng phát hành. Dưới thời Cộng hoà Pháp, các tín phiếu Hoàng gia đến lượt chúng bị thay thế. Những tín phiếu này vào năm 1795 được thay thế bằng tín phiếu đồng quan (Franc) khi hệ thống thập phân xuất hiện.


Ngày 1 tháng 1 năm 1796 đã có hơn 7 triệu Livres dưới dạng tín phiếu được đưa vào lưu thông. Trị giá của chúng chỉ đạt 0,5 của giá trị 1 xu.


Để đạt mục đích khôi phục lại lòng tin vào bản vị tiền tệ - Chính phủ Cộng hoà Pháp quyết định huỷ bỏ tín phiếu, thay vào đó phát hành một dạng tiền giấy mới "Mandats Territoriaux" phó phiếu và chuyển đổi trị giá 30 livres ăn 1 đồng. Và như vậy, "Promesses' des mandats Territoraux" được khởi đầu phát hành thay cho tín phiếu. Các Mandats thực tế được phát hành sau đó, ở một số lượng nhỏ và kể cả loại tiền giấy mới cũng không thể hãm được sự lạm phát. Dù rằng chỉ trong vài tuần đầu phát hành, giá trị của Mandats đã rớt giá xuống còn 95% trên giá trị mặt. Trước tháng 2 năm 1796, toàn bộ tiền giấy được tuyên báo là không còn giá trị.


Sau sự việc biến mất tín phiếu và Mandats, Ngân hàng Pháp quốc được thành lập năm 1800 - dưới sự ảnh hưởng của Napoleon, thoát thai từ trong những ngân hàng "Caisses des comptes courrants" (Ngân hàng tiền mặt).


Nga


Nga, ngân hàng cổ phần được thiết lập vào năm 1768. Lúc này tiền giấy đã được dư luận rộng rãi chấp nhận. Tuy nhiên, khi chính phủ bắt đầu cho lưu hành với một số lượng lớn tiền giấy trong thời kỳ cuộc chiến tranh lần thứ hai chống Thổ Nhĩ kỳ (1787 - 1792) thì sự tín nhiệm của dân chúng giảm dần và tiền giấy đi đến mất giá trị. Từ lúc ấy trở đi, Nga tiếp tục phát hành không ngừng tiền giấy chính phủ.


Áo


Cuộc chiến của Áo dưới thời Maria Therisia và Federic đại đế liên tiếp xảy ra đã làm chính phủ Áo nợ nần chồng chất. Chính vào thời kỳ này buộc chính phủ phải lưu tâm việc phát hành tiền giấy. Và vì vậy, ngân hàng Banco del Giro ra đời vào năm 1703, khởi thuỷ được xem là nhằm phổ biến các quy định về việc lưu hành tiền giấy, song sự tín nhiệm vào ngân hàng này đã không đạt được như mong muốn, vì thế kế hoạch sớm bị huỷ bỏ. Chỉ khi việc quản lí ngân hàng được chuyển đổi - đến Vienna, tên gọi được đổi lại là "Wiener Stadt Banco", lúc bấy giờ ngân hàng mới lấy lại được sự tín nhiệm.


Đến năm 1759, đợt phát hành tiền giấy mang tính chất "tạm thời" bắt đầu xuất hiện và nó phải bị thay thế bởi giấy bạc thật của chính phủ phát hành vào năm 1762. Rập theo khuôn khổ những tờ giấy bạc này là kì phiếu "Bancozettel" được phát hành rộng rãi. Tuy nhiên, khi chính phủ lâm vào tình trạng nợ nần vì các cuộc chiến tranh phát sinh, thêm vào đó là việc phát hành hàng loạt các loại giấy bạc với một lượng lớn nhằm bù đắp cán cân tài chính đã làm cho giấy bạc này mất giá trị. Cuộc chiến với Pháp đã dẫn đến sự suy yếu vì các khoản nợ và chính phủ tự nhận thấy không thể nào kéo lại giá trị của giấy bạc, chỉ còn phương cách duy nhất là cải cách tiền tệ nhằm ngăn chặn tình trạng phá sản của quốc gia. Vì vậy, năm 1811, một loại tiền giấy mới ra đời với chỉ số giá trị thay đổi 1: 5 (một đồng mới ăn năm đồng cũ) và người ta gọi những tờ giấy bạc này là những tờ giấy bạc "dự kiến".


Chẳng bao lâu sau, những tờ giấy bạc này đã bị tụt giá và phải nhường chỗ cho một loại giấy bạc khác vào năm 1813. Đó là loại "giấy bạc dự báo trước tương lai một chính sách thuế khoá" (anticipation notes). Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Napôlêon đã làm nảy sinh một hi vọng mới về nền kinh tế hoà bình, phát triển và ổn định tiền tệ. Vào năm 1816, ngân hàng "Austrian National script Bank" (Ngân hàng Áo quốc) được thiết lập để xác lập lại mặt ổn định giá trị cho những tờ giấy bạc mà ngân hàng phát hành.


Đức


Đức vật liệu để làm tờ giấy bạc đầu tiên được phát hành trước đó là loại tiền giấy bồi (carboard coins) mà các thành phố của Đức lúc bấy giờ như: LeydenMiddelburg đã sản xuất vào năm 1574. Khi những loại giấy bạc này được phát hành với tên gọi là "giấy bạc cấp bách" thì giấy bạc của ngân hàng Banco được phát hành năm 1705 bởi Elector Johann Wilhem được xem là giấy bạc thật đầu tiên của Đức. Elector đã thiết lập ngân hàng "Banco di Gyro d'affrancatione" mà những tờ giấy bạc thật đó tuy mang tên cá nhân nhưng có thể chuyển đổi được.


ở Ansbach Bayreuth ngân hàng "Hoch Furslich Brandenburgische" đã phát hành giấy bạc có tên gọi là "Banco billets" (giấy bạc Banco) vào giữa thế kỉ 18. Dù cho chúng được làm cùng kiểu như những loại giấy bạc của ngân hàng "Hochfurslich Brandenburg - Aspach - Bayreuthische Hof - Banco" thành lập năm 1780, thì những tờ giấy bạc này đứng về mặt giá trị hợp pháp có rất ít giá trị.


Nỗi sợ hãi của việc phá giá tiền tệ qua sự xuất hiện tiền giấy đã ăn sâu vào tâm khảm người Đức. Mãi cuối thế kỉ 18 cho đến một phần vào giữa thế kỉ 19, việc phát hành giấy bạc đại loại như vậy đã được vạch ra nhưng quyết định thi hành cứ bị trì hoãn.


Vào năm 1765, ở Phổ ngân hàng Konigliche Giro und Lehnbank được thành lập và tiền giấy đầu tiên ra đời. Những tờ giấy bạc này dưới dạng "Pound Banco" không có vai trò quan trọng trong việc lưu hành. Chỉ những giấy bạc được phát hành từ năm 1820 trở đi mới có tầm quan trọng. Ngân hàng được đổi tên là "Preussische Bank" vào năm 1847 là tiền thân của ngân hàng Reichsbank ra đời vào năm 1876. Quan trọng hơn là vào đầu thế kỷ XIX, chính phủ Phổ đã cho phát hành “giấy bạc an toàn” (bank safe notes).


Italia


Italia, hệ thống tổ chức ngân hàng đã phát triển sớm hơn các nước khác ở châu Âu. Các biên nhận kí gửi và các tín phiếu do các ngân hàng làm ra được xem là đã xuất hiện ngay thời kỳ trung cổ như ngân hàng "Casa Di Giorgio" ở Genoa, ngân hàng "Bancodisant' Ambrogio" ở Milan và ngân hàng "Banco Dirialto" ở Venice. Qua đó, các dạng tín phiếu có thể chuyển nhượng theo dạng bối thự. Những tờ giấy bạc này được xem như là những tờ giấy bạc tiên phong trong các loại giấy bạc đương thời. Những tờ giấy bạc thật, dẫu sao chúng đã được phát hành đầu tiên vào giữa thế kỉ 18 thuộc lãnh địa Sardina. Tiếp sau đó là những tờ giấy bạc của ngân hàng Sacro Monte Delta Pieta Di Roma và những tờ giấy bạc của ngân hàng Banco Di Santo Spirito Di Roma.


Ba Lan


Ba Lan, tiền giấy xuất hiện đầu tiên vào khoảng thế kỉ 18. Những kẻ phiến loạn dưới sự lãnh đạo của Kosciuszko đã phát hành giấy bạc vào năm 1794. Với sự đập tan cuộc nổi loạn, việc phát hành tiền giấy đã phải chấm dứt. Chỉ có ở công quốc Warsaw do Napoleon sáng lập, tiền giấy được tái lưu hành. Những tờ giấy bạc này về mặt thiết trí giống với các phiếu tiền tệ Saxon.


Bắc Mỹ


Người ta đoán rằng: tiền giấy ở châu Mĩ xuất hiện khá lâu sau châu Âu. Nhưng có điều chắc chắn giống như ở châu Âu, Bắc Mĩ bắt đầu biết đến loại tiền không có giá trị nội tại (no intrinsic value) từ những năm 1600.


Việc cung cấp tiền kim khí ở Canađa dưới thời kì thuộc địa Pháp thiếu hụt dẫn đến tình trạng kéo dài thiếu đồng tiền hợp pháp. Nhằm mục đích bảo đảm tối thiểu việc chi trả cho binh lính, những người Canađa đã tự đề ra phương sách và ứng dụng bằng cách dựng một phần tư của các lá bài đóng dấu, và có chữ ký của thống đốc cũng như của viên toàn quyền - thế là chúng được sử dụng như là tiền giấy. Vào năm 1685, loại tiền giấy có đặc tính nêu trên được đưa vào lưu thông. Điều đáng chú ý là thay vì phải thu hồi ngay các loại tiền giấy nêu trên mang tính chất lưu hành trong điều kiện cần kíp ngay sau khi việc cung cấp tiền kim khí đó được bổ sung đủ nhưng điều này đã không xảy ra. Những đợt phát hành tiếp theo bao gồm loại 1/2 lá bài hoặc là trọn tấm được tiếp tục lưu hành khắp cả thuộc địa. Loại tiền này còn được duy trì lưu hành mãi cho đến năm 1718 - 1719 và chỉ chấm dứt phát hành sau khi có quyết định thu hồi của viên thống đốc.


Ở Hoa Kỳ, tiền giấy ra đời từ khi các tiểu bang hợp nhất đòi độc lập, đó chính là đồng USD được công nhận cho đến nay.


Chú thích


^  Đỗ Văn Ninh (1992), Tiền cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.


TIỀN TỆ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ TS. Nguyễn Đại Lai (P.Vụ trưởng Vụ CSTT Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử “ra đời, phát triển và tiêu vong” của các thể loại, chất liệu, hình thức và giá trị của tiền Việt nam trong hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Tuy nhiên trong một khuôn viên hẹp, có cái nhìn khái quát về tiền tệ vấn đề mang tính “lịch sử, kinh tế và văn hoá”. Xin tạm phân chia các “Thời đại tiền tệ” của Việt nam ra thành các giai đoạn gắn với lịch sử kinh tế - Chính trị - Xã hội của đất nước.


 


Thời kỳ các triều đại Phong kiến: Hầu hết các triều Vua, Chúa nước ta đều phát hành tiền bằng hai nguyên liệu chính là đồng và kẽm. Riêng Vua Hồ Quí Ly cho phát hành tiền giấy và chỉ tồn tại 4 năm từ 1400 đến 1404, đến 1405 lại trở về sử dụng bằng chất liệu tiền đồng và tiền kẽm.


 


Thời kỳ thuộc Pháp 


Từ 1858 đến 1875 khi chưa có Ngân hàng Đông Dương (NHĐD) thì trên đất Việt tiêu đồng thời nhiều loại tiền khác nhau: Tiền Fran của Pháp, tiền Mêxicô, tiền “Liên hiệp Pháp”, tiền Trung Quốc...  


Từ 1875 khi NHĐD thành lập thì dân ta tiêu tiền Đông Dương mang bản vị bạc. Đến 1880 tiền Đông Dương mang bản vị vàng, tiêu song song với đồng Fran của Pháp và các loại tiền đồng, tiền kẽm cũ. Từ 1880 đến 1930, tiền giấy Đông Dương ra đời và mang bản vị bạc, từ 1930 đến 1936 đồng tiền này mang bản vị vàng. Từ 1936 đến 1954 chế độ bản vị vàng bị sụp đổ và đồng Đông Dương neo giá trị vào đồng Fran của Pháp - có thể gọi là bản vị Fran Pháp.


Chế độ tiền tệ đa khu vực từ 1945 đến 1975: Thời kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp 1945 - 1951: Chính quyền cách mạng của chính thể VNDCCH phải lãnh đạo toàn dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Kháng chiến và kiến quốc - Trong đó vấn đề tài chính, tiền tệ được đặc biệt quan tâm và coi đó là một vũ khí sắc bén, trực tiếp của cả 2 nhiệm vụ chiến lược nói trên. Ngày 1/12/1945, đúng 3 tháng sau ngày thành lập nước VNDCCH – Mở đầu thời đại Hồ Chí Minh ở Việt nam, đồng tiền tài chính với chất liệu nhôm đầu tiên lọai hai hào của ta được phát hành, tiếp theo đó ngày 21/1/1946 ta phát hành đồng tiền nhôm loại năm hào, ngày 31/1/1946 phát hành tiền giấy gọi là "giấy bạc Việt Nam" đầu tiên ở miền Trung, ngày 13 tháng 8/ 1946 phát hành giấy bạc trên toàn miền bắc và sau kỳ họp Quốc hội lần thứ 2 vào tháng 11/1946, chính phủ đã cho phép Bộ Tài chính tiếp tục phát hành giấy bạc Việt nam trên phạm vi toàn quốc. Để phù hợp với chủ trương "tự cấp, tự túc, toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và địa phương tự lập", Chính phủ đã cho hình thành một chế độ tiền tệ đặc biệt: vừa tập trung, vừa phi tập trung: Trên toàn quốc, nơi nào có điều kiện (chủ yếu là vùng tự do) thì lưu hành tiền tài chính (giấy bạc Việt Nam), nơi nào thuộc vùng địch kiểm soát thì tiêu đồng thời cả tiền Đông dương, cả tiền tài chính địa phương do chính phủ trung ương uỷ quyền cho chính quyền cách mạng địa phương phát hành và gồm cả "tiền Việt Nam hoá" bằng cách đóng dấu của Uỷ ban kháng chiến địa phương lên tiền địch để lưu hành...Đây không chỉ là thời kỳ đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, quân sự với địch, mà thuật ngữ "đấu tranh tiền tệ với địch" cũng trở thành một khẩu hiệu hành động trong chỉ đạo chiến lược của Đảng lao động Việt nam suốt thời kỳ toàn quốc kháng chiến (từ 19/12/1946 đến chiến thắng Điện biên phủ 1954). Đến 6/ 5/ 1951 tại sắc lệnh số 15/ SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký chuẩn y việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt nam (NHQG VN) (để thay thế “Nha ngân khố quốc gia” và “Nha tín dụng sản xuất” trực thuộc Bộ Tài Chính đã thành lập trước đó trên cơ sở “Việt nam quốc gia Ngân hàng” thuộc Bộ Tài chính được thiết lập theo sắc lệnh số 86/SL ngày 17/9/1947 của Chủ tịch Chính phủ dân chủ cộng hoà Việt nam).  


Ngay khi ra đời, NHQG đã chính thức phát hành đồng tiền giấy mang tên: "NHQG Việt Nam" thay đồng tiền Tài chính. Đổi 10 đồng tiền Tài chính ăn 1 đồng tiền NHQG - Một cuộc đổi tiền diễn ra tới 20 tháng - Dài nhất trong lịch sử đổi tiền của NHVN. Song vì tiền NHQG đầu tiên được in ra là để đổi đồng Tài chính trước đó nên hầu hết những người có tiền đổi là thuộc khu vực công chức hưởng lương từ NSNN nên đến tháng 2 năm 1959 Chính Phủ quyết định phân phối lại thu nhập và đã đổi tiền lần thứ 2 với tỷ lệ 01 đồng NHQG mới ăn 1000 đồng NHQG 1951 cũ. Với giá trị mới này, vào thời điểm từ tháng 2/1959 đến tháng 10/1960 một đồng NGQGVN bằng 1,36 Rúp Liên Xô và cũng tương đương 1, 2 USD. Cuộc đổi tiền năm 1959 được đánh giá là “ ngoạn mục” nhất trong lịch sử tiền tệ Việt nam. Đến tháng 10/ 1961 đồng tiền NHQG VN ở miền Bắc được đổi tên thành đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam (NHNN VN) với cùng một mệnh giá để tránh trùng tên với đồng tiền NHQG ở miền Nam của chính phủ nguỵ quyền Sài gòn.


 


Vào thời kỳ 1966 -1973 - thời kỳ cả nước có chiến tranh, Nhà nước đã cho phép Quân đội ở tuyến Trường Sơn sử dụng đồng “tiền Trường sơn” hay còn gọi là "phiếu bách hóa" - Một hiện tượng tiền tệ kỳ diệu đã giúp quân đội có một cơ chế "phân phối" rất linh hoạt: Thay vì bộ đội hậu cần phải chuyển nhu yếu phẩm đến từng đơn vị đóng quân dọc Trường sơn thì chỉ cần chuyển hàng đến từng binh trạm cố định. Việc phân phối sau đó đã trở nên vô cùng thuận tiện thông qua hình thức "mua hàng" và thanh toán bằng tiền Trường sơn theo tổng định lượng vật chất đã được giá trị hoá - Tính vô danh của tiền trong quan hệ phân phối đã giảm đi một chi phí khổng lồ về thời gian, chứng từ, tem phiếu, sổ theo dõi của cả hai bên nhập hàng và nhận hàng, đặc biệt là giảm biên chế hậu cần, giảm chi phí kho lán ở từng đơn vị và do đó cũng hạn chế thương vong xương máu trên đường đi phân phối nhu yếu phẩm cho từng đơn vị. Còn người “có tiền” thì tuỳ nghi chủ động đến các binh trạm để “ mua ” hàng cho đơn vị mình đồng thời lại tạo ra được sự đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau giữa những đơn vị và cá nhân, giữa Quân đội với Thanh niên xung phong trên toàn tuyến Trường sơn - Thay vì việc ủng hộ, tương trợ lẫn nhau bằng hiện vật vốn rất khó khăn và bất tiện thì những người lính dễ dàng ủng hộ nhau dưới hình thức giá trị của định lượng ...


 


Chế độ tiền của chính quyền Ngụy Sài gòn từ 1954 đến 1975: Dưới sự đô hộ của Đế Quốc Mỹ, hầu như cả miền Nam là một thị trường tiêu thụ và cung ứng nguồn tài nguyên, sức lao động rẻ mạt - Bức tranh kinh tế thời chiến của chính quyền Sài gòn là một nền kinh tế phồn vinh giả tạo: Thủ công, lắp ráp và tiêu thụ. Chính quyền Ngụy có luật nghiêm cấm lưu hành đồng tiền miền Bắc và đồng tiền Đông Dương ở miền Nam. Chúng thành lập Ngân hàng năm 1954 và cũng lấy tên là NHQG Việt nam, cho phép tiêu song song đồng USD và đồng tiền Quốc gia với tỷ giá 35đồng Quốc gia ăn 1 đồng USD. Tỷ giá này ổn định từ năm 1954 đến năm 1960. Từ năm 1960 đến 1965 đồng tiền Ngụy mất giá dần dần và đến năm 1965 tỷ giá này còn 118đ/USD. Từ năm 1966 đến 1968 sức mua của đồng tiền Ngụy tiếp tục mất giá mạnh xuống còn 250đ/ USD và đến năm 1973 thì tỷ giá này đã là 500đ/ USD - giảm 14,3 lần so với thời kỳ những năm 1954 - 1960.


 


Từ năm 1975 đến năm 1984: Trong 3 năm đầu sau ngày miền nam giải phóng, để có một thời gian đệm cần thiết và quan trọng, hai miền vẫn dùng hai đồng tiền khác nhau: Miền Bắc vẫn là tiền NHNN VN, miền Nam tiếp tục dùng tiền của chính quyền cũ. Ngày 3/5/1975 chính quyền cách mạng tiếp quản NHQG của Nguỵ quyền Sài gòn và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ trong lưu thông để không gây rối loạn trong lưu thông tiền tệ ở miền Nam những ngày đầu giải phóng. Ngày 6/6/1975 - 5 tuần sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt nam đã ra Nghị định số 04/PCT - 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và TW Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên qui mô toàn miền Nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là "Tiền Ngân hàng Việt Nam" (còn gọi là tiền giải phóng) vào lưu thông với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500đ tiền của chế độ cũ và tương đương với 1 USD. Ngày 2/5/ 1978 - Đúng dịp kỷ niệm 3 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam công bố đổi tiền lần thứ 3 trên phạm vi toàn quốc, thống nhất tiền tệ cả nước với tỷ lệ 1đ tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đ NHNN mới.


 


Sau bao biến cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên phạm vi cả nước. Lẽ ra đây sẽ là thời điểm đầu tiên của lịch sử phát triển tiền tệ của đất nước, nhưng đáng tiếc là vì nhiều nguyên nhân, đồng tiền lại rơi vào những thăng trầm mới.


 


Ngay sau đó do nền kinh tế nói chung còn ở trình độ quá nghèo nàn, lạc hậu lại do những sai lầm trong cải tạo các thành phần kinh tế - nhất là cải tạo giới công thương nghiệp miền Nam để áp dụng cơ chế bao cấp giống như ở miền Bắc trong cả nước nên lạm phát đã liên tục gia tăng – Từ chỗ giá trị đồng tiền mới sát với sức mua của đồng Dola Mỹ (1,25đ/1USD) đã nhanh chóng bị “doãng ra”. Đồng tiền NHNN VN mất giá mạnh so với đồng USD, đến trước ngày đổi tiền tháng 9/1985 tỷ giá giữa đồng tiền NHNN VN so với đồng USD đã là: 150đ/USD.


 


TIỀN GIẤY NƯỚC TA QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ


Tháng 4, năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái thứ 9 (1396) đời Trần Thuận Tông, theo đề nghị của Thiếu bảo Vương Nhữ Chu, Hồ Quý Ly lúc đó đang giữ chức Nhập nội phụ chính, Thái sư, Bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên trung vệ quốc Đại vương, đã cho in và phát hành tiền giấy “Thông bảo hội sao” để thay thế cho loại tiền đúc bằng đồng trước đó.  


Tiền giấy “Thông bảo hội sao” gồm có các mệnh giá:


- Tờ 10 đồng: Vẽ rau rong.


- Tờ 30 đồng: Vẽ thủy ba (sóng).


- Tờ 1 tiền (tức 60 đồng): Vẽ đám mây.


- Tờ 2 đồng (tức 120 đồng): Vẽ con rùa.


- Tờ 3 tiền (180 đồng): Vẽ con lân.


- Tờ 5 tiền (300 đồng): Vẽ con phượng.


- Tờ 1 quan (tức 10 tiền, tức 600 đồng): Vẽ con rồng.


Để tránh việc làm tiền giả, Hồ Quý Ly hạ lệnh ai làm tiền giả phải tội tử hình, tịch thu điền sản sung công; cấm trong dân gian không được tiêu tiền đồng; ai có tiền đồng phải đem đổi (cứ 1 quan tiền đồng ăn 1, 2 quan tiền giấy) để nộp về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Nếu người nào cố tình tàng trữ và lưu hành tiền đồng, sẽ bị xử tội ngang với tội làm tiền giả. Đây là những đồng tiền giấy đầu tiên trong lịch sử tiền tệ nước ta. Nó được lưu hành và tồn tại chí ít cũng trong khoảng thời gian 11 năm (kể từ tháng 4-1396, khi tiền được phát hành cho đến tháng 6-1407, khi nhà Minh bắt được Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương - nhà Hồ mất). Nói chí ít, vì cho đến năm 1428, tức là 21 năm, lúc này Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã đuổi được quân Minh, lên ngôi Hoàng đế, vẫn còn nói đến ảnh hưởng của những đồng tiền giấy do Hồ Quý Ly phát hành.


Sau đó, Lê Thái Tổ cho đúc tiền: “Thuận thiên thông bảo”, trở lại chế độ đúc và tiêu tiền đồng (nhưng quy định 50 đồng, chứ không phải 60 đồng như trước, là một tiền). Đến đây, tiền giấy do Hồ Quý Ly phát hành mới thực sự biến mất trên thị trường tiền tệ và chấm dứt vai trò lịch sử của mình.


Ngày 1-9-1858, liên quân thực dân Pháp và Bồ Đào Nha nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), bắt đầu tiến hành cuộc vũ trang xâm lược nước ta. Sau khi chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh, với sắc lệnh ra ngày 5-7-1881, tổng thống Pháp bắt buộc phải dùng đơn vị tiền tệ là đồng bạc Đông Dương (piastre) trong việc lập ngân sách (kể từ niên khóa 1882, mọi việc thu chi đều phải dùng đơn vị tiền tệ do Ngân hàng Đông Dương phát hành). Như vậy, giấy bạc Đông Dương đã được lưu hành đầu tiên ở nước ta, bắt đầu từ Nam kỳ lục tỉnh.


Ngày 25-8-1883, thực dân Pháp bắt buộc triều đình Huế phải cho lưu dụng khắp Trung kỳ và Bắc kỳ loại tiền do Ngân hàng Đông Dương phát hành. Cùng một lúc, trong phạm vi cả nước, tồn tại và lưu hành 3 loại tiền:


- Tiền Việt Nam (tiền, quan tiền - tiền đồng, tiền kẽm).


- Đồng bạc Mễ Tây Cơ (tức đồng bạc hoa xòe)


- Giấy bạc Đông Dương (Piaste Indochinoise).


Sau cách mạng tháng Tám, Ngân hàng Đông Dương vẫn ở trong tay thực dân Pháp. Công quỹ của ta chỉ có hơn một triệu đồng tiếp quản từ ngân khố T.Ư, mà đa phần là những tờ hào rách sắp hủy. Chính quyền Cách mạng gặp muôn vàn khó khăn, nhất là về tài chính. Ngày 31-1-1946, chính phủ ta cho phát hành giấy bạc Việt Nam ở vĩ tuyến 16. Đến tháng 8, giấy bạc này được lưu hành ra miền Bắc Trung bộ, và cuối năm 1946 được lưu hành trong cả nước. Nhân dân ta vô cùng phấn khởi, nhiệt liệt hoan nghênh và đón nhận giấy bạc Cụ Hồ.


Ngày 14-4-1948, phát hành công phiếu kháng chiến, thủ tiêu việc lưu hành tiền đồng (thứ tiền dùng để mua bán từ thời phong kiến) từ Thanh Hóa trở vào phía Nam. Tiếp đó là sắc lệnh cấm lưu hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương trong phạm vi cả nước.


Ngày 6-5-1951, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành sắc lệnh thiết lập “Ngân hàng Quốc gia Việt Nam” với nhiệm vụ:


1. Phát hành giấy bạc ngân hàng, điều hòa sự lưu thông tiền tệ.


2. Quản lý ngân quỹ Quốc gia, quản lý ngoại tệ.


3. Quản lý kim dụng bằng các thể lệ hành chính.


4. Đấu tranh tiền tệ với địch.


Theo Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, ngày 20-7-1951, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định thành lập “Kho bạc Nhà nước” đặt trong “Ngân hàng Quốc gia Việt Nam” thuộc Bộ Tài chính.


Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời đã góp phần giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính nhằm đẩy mạnh kháng chiến. Ngân hàng có kế hoạch cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất và giúp công, thương nghiệp mở mang kinh doanh. Riêng trong hai năm 1953-1954, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã giúp đỡ dân ở 620 xã, lập được 8.605 quỹ vay mượn tương trợ, gồm 13 vạn gia đình, với số vốn là 3.370 tấn gạo và 22 triệu đồng...


 www.sankhauvietnam.com.vn/


 


 


NGƯỜI VẼ TỜ GIẤY BẠC CỤ HỒ Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 31/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nghị định phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 31/11/1946, lần đầu tiên tiềnViệt Nam Dân chủ Cộng hòa được chính thức phát hành. Một mặt tiền có chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chữ Quốc ngữ và chữ Hán), có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một mặt có hình Nông Công binh. Các loại  tiền giấy có mệnh giá 100 đồng, 20 đồng, 5 đồng, 1 đồng. Các loại tiền có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và Giám đốc Ngân khố Trung ương Phạm Khoa. Kể từ năm 1946 đến nay, sau nhiều lần phát hành trên các tờ tiền của Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành đều có hình Cụ Hồ. Những tờ tiền đó được nhân dân quen gọi là tiền Cụ Hồ.


Những đồng tiền có hình Cụ Hồ là đơn vị tiền tệ chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bên cạnh vai trò lưu hành thông thường với chức năng trung gian tiền tệ, còn có một giá trị rất đặc biệt xét trên khía cạnh văn hoá - nghệ thuật, ý nghĩa chính trị quốc gia, gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh rất đặc biệt của Cách mạng Việt Nam trong những  năm tháng xây dựng, phát triển đất nước. Đặc biệt, các tờ tiền đó còn thể hiện tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta dành cho Bác Hồ - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, khí phách hào hùng và tinh hoa nước Việt. Tình cảm đó đã trở thành sức mạnh cùng dân tộc Việt Nam đi qua những bước thăng trầm hiểm nguy nhất, để đi đến thắng lợi cuối cùng. 


Rất nhiều kỷ vật hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là những đồng tiền có hình Cụ Hồ. Có những đồng tiền là vật kỷ niệm của mẹ tặng cho con khi gia nhập Vệ quốc đoàn. Có những đồng tiền thấm máu, lỗ chỗ vết đạn của các liệt sỹ hy sinh tại các mặt trận. Có những đồng tiền nhân dân Nam Bộ cất giấu trên ngọn dừa, chôn dưới nước sau 20 năm ròng sống trong kìm kẹp của Mỹ nguỵ. Mỗi hiện vật là một câu chuyện cảm động của người lính thể hiện tỉnh cảm đối với dân tộc, đất nước, quê hương và gia đình, đồng đội.  


Khi nói đến tiền Cụ Hồ, chúng ta nhớ lại những người đã vẽ phác thảo mẫu những đồng tiền đó. Một trong số những người vẽ những tờ giấy bạc đó là Hoạ sỹ Mai Văn Hiến, nguyên Trưởng ban Hội hoạ Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Ông sinh năm 1923 mất ngày 20/5/2006. Ông quê xã Điền Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Năm 1937, ông đỗ Thành Chung ở Huế rồi ra học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông tham gia cách mạng năm 1945, khi còn là sinh viên của trường. Năm 1947, ông gia nhập quân đội. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là người minh hoạ trình bày báo Vệ quốc quân, vẽ rất nhiều tranh về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính phục vụ các chiến dịch Đông Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ… Ông đoạt nhiều giải thưởng mỹ thuật toàn quốc với các phẩm tiêu biểu “Gặp nhau”, “Trước giờ ra thao trường”, “Bướm dọc đường”, “Du kích Đông Bắc”, “Sương tan”...Với những đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhì, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương cao quý khác.


Khi còn sống, Hoạ sỹ Mai Văn Hiến thường đi bộ từ nhà mình ở số nhà 65 phố Nguyễn Thái Học sang Bảo tàng Quân đội chơi. Ông thường đàm đạo với các hoạ sỹ Bằng Lâm, nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo, Minh Đỉnh… về các tác phẩm nghệ thuật đương đại. Lớp con cháu được hầu chuyện cuốn hút bởi cái tài kể chuyện dí dỏm của ông.  Ngoài chuyện vẽ tranh, ông kể chuyện vẽ tiền.


Ông kể lại: Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Chỉ 3 tuần lễ sau, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp dưới bóng quân đội Anh tước vũ khí của quân đội Nhật ở Nam Bộ, âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Trong thế nước thù trong, giặc ngoài, vận mệnh ngàn cân treo trên sợi tóc vậy mà  ngân khố quốc gia chính quyền cách mạng tiếp quản Ngân hàng Đông Dương chỉ có 1 triệu đồng rách nát. Nhà nước kêu gọi toàn dân chung sức quyên góp ủng hộ chính phủ bằng tuần lễ vàng. Mặt khác, Chính phủ thấy cần thiết  phải có đồng tiền mới để ổn định xã hội. Nhu cầu cần phải có đồng tiền của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một vấn đề quan trọng lúc bấy giờ


Dạo đó vào cuối năm 1945, một lần, ông đến nhà in Tau Pin chơi, ông gặp ông Phạm Khoa, Giám đốc ngân khố Trung ương. Ông Phạm Khoa bảo có việc cần đến anh, rồi dẫn ông lên gặp Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng, lúc đó ở số 6  Lê Lai, Hà Nội. Cùng đi với ông còn có các hoạ sỹ  Nguyễn Huyến, Nguyễn Văn Hanh và Đỗ Cung. Sau  khi bàn bạc, cuối cùng ông được ông Đồng phân công vẽ tờ tiền mệnh giá 5 đồng. Trong thời gian ông tham gia vẽ ttiền phải tuyệt đối giữ bí mật vì sợ kẻ thù phá. Hồi đó nhà ông ở Ngã Tư sở, hàng ngày ông đi tàu điện đến vẽ, nếu chưa xong, chiều cất bản nháp vào hòm gỗ khoá lại, hôm sau vẽ tiếp.


Sau gần 2 tháng nghiên cứu, mầy mò ông vẽ xong mẫu phác thảo. Tờ tiền màu nâu vàng, phía trái có số 5, chữ giấy bạc Việt Nam. Hình Bác Hồ ông vẽ theo bức ảnh do nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp. Ông nói: “Vẽ Cụ Hồ thật khó làm sao vừa thể hiện được đường nét, vừa thể hiện được cái thần trong con người của Cụ. Phía sau tờ tiền là hình ảnh anh công nhân quai búa và phía sau nhà máy. Để thể hiện được điều này, ông ra ga Hàng Cỏ tìm tốp thợ rèn đang làm việc để vẽ làm mẫu. Trên tờ tiền có dòng chữ: “Theo sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam kẻ nào làm giả hoặc có hành động huỷ hoại tờ giấy bạc của Chính phủ sẽ bị trừng trị theo quân pháp” Tờ tiền mẫu được Ông Phạm Văn Đồng duyệt và ngày 31 tháng 11 năm 1946, tờ tiền chính thức được phát hành. Ông đã cất giữ tờ giấy bạc loại này làm kỷ niệm.


Nhân kỷ niệm 62 năm ngày cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2/9, xin giới thiệu về đồng tiền do Hoạ sỹ quân đội Mai Văn Hiến đã vẽ năm 1945. Khi chúng tôi viết những dòng này ông đã ra đi xa, rất xa nhưng câu chuyện ông vẽ tiền ngày đất nước mới được độc lập hồi nào chúng tôi nhớ mãi. Người hoạ sỹ già cao, gầy, da mồi và nói chuyện thật tinh tế, hóm hỉnh ngày nào cũng như những tác phẩm của ông hiện có ở bảo tàng sống mãi với thời gian.


http://www.btlsqsvn.org.vn/


 


 


KẺ TÌM TIỀN XUYÊN THIÊN NIÊN KỶ


Căn nhà chật chội oằn mình chứa gần 1000 đồng tiền xu, 40.000 con tem, hàng ngàn chiếc phong bì và cả núi tiền giấy quý hiếm của Tây lẫn ta.... Đó chỉ là một phần trong kho sưu tập đồ sộ ông Kỳ gom nhặt gần nửa thế kỷ qua.


Căn phòng cũ kỹ chẳng còn mấy khoảng trống với những giá sách, ngăn tủ được đánh số và chú thích cẩn thận như trong thư viện. Ẩn đằng sau những tấm bìa nhiều màu là cả một tài sản khổng lồ mà ngay chính chủ nhân của nó cũng không tính nổi giá trị của những món đồ mình đang có. Chẳng ai ở cái đất Hà Thành này lại có trong tay bộ sưu tập tiền đồ sộ như ông, nó quý đến mức dân chơi phong luôn cho cái tên "bộ sưu tập thiên niên kỷ". 


Không mệt mỏi vì...tiền!


 


Nói thế chẳng khoa tí nào vì có những đồng tiền kim loại cổ hiện chỉ có duy nhất ông Kỳ có, thậm chí có những tờ bạc giấy ngay cả Bộ tài chính cũng "thèm thuồng"... Bắt đầu sưu tập tiền và tem từ năm 1960, cần mẫn dành dụm và nhặt nhạnh không mệt mỏi cho đến khi căn phòng cũng chẳng đủ chứa những gì chủ nhân nó mang về.


73 tuổi, ông Kỳ vẫn say sưa kiếm tìm những đồng tiền cũ nát, những con tem bé xíu, những chiếc phong bì cũ kỹ, những chiếc tem phiếu và công trái ố vàng từ thời bao cấp, thậm chí là những con dấu bưu điện chẳng có giá trị với nhiều người. Người đàn ông kỳ lạ như chính cái tên của mình có những lý do riêng để theo đuổi đam mê có phần khác người của mình cho dù đôi khi có những lý do chỉ có thể tìm thấy trong ánh mắt hạnh phúc không thể đọc thành lời.


Tôi thật sự ngỡ ngàng khi ông Kỳ mang ra 4 bộ sưu tập tiền xu in hình 4 đời Tổng thống Mỹ: TT Washington (42 xu, từ 1988), TT Roosevelt (70, từ 1965), TT Lincoln (66, từ 1975) và TT Jefferson Nickels (66). Đó là chưa kể tới 42 xu cổ VN đời Cảnh Hưng 1740,3 kg xâu tiền kim loại cổ đào từ mộ cổ lên chưa kịp đoán định giá trị... tổng cộng lên tới gần 1000 đồng tiền kim loại các nước từ cổ chí kim. Bắt đầu sưu tầm tiền cách đây hơn 30 năm trách chi ông Kỳ có trong tay những đồng tiền độc nhất vô nhị và cũng là vô giá. Có đồng tiền ra đời cách đây cũng ngót nghét 400 năm từ thời Vua Tự Đức khắc chữ Tây Vương Thưởng công. Đây là 1 trong 2 đồng tiền quý duy nhất Vũ Tự Đức thưởng cho Lê Ngô Cát vì đã có công sáng tác ra Đại Nam Quốc Sử diễn ca. Ông Kỳ tình cờ "vớ" được món đồ quý này với giá 300.000 đồng và bây giờ là vô giá.


"Vũ khí" tiền xu nghe chừng còn rất dồi dào, chốc chốc ông lại lục ở một góc nào đó một đồng tiền lạ và bắt đầu một câu chuyện mới. "Để tôi chỉ cho cô xem nhé!", ông nói vội vàng nhíu cả lưỡi "Đồng đô-la Mỹ bằng kim loại sản xuất năm 1876 khi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ mới có 13 bang tương đương với 13 ngôi sao dập trên mặt đồng tiền, rõ ràng nhé, chẳng cãi vào đâu được".


Đồng tiền xu quá khổ này ông Kỳ mua ở Sài Gòn năm 1977 với giá 80 USD, một số tiền không nhỏ khi Sài Gòn mới được giải phóng được 2 năm. Cũng dễ hiểu khi ông Kỳ luôn tự hào về những đồng tiền mình sở hữu luôn làm người đối diện bất ngờ. Không "choáng" sao được khi kẻ sưu tầm tiền điên cuồng này (xin mạn phép được gọi như thế) món gì cũng có, từ tiền đồng khắc hình Từ Hy Thái Hậu đến những khối kim loại nhỏ hình chữ nhật được người Việt cổ dùng làm tiền tôi chưa thấy bao giờ.


Bộ sưu tập thiên niên kỷ


Nhưng đó đã chẳng được gọi là bộ sưu tập thiên niên kỷ nếu thiếu đi mảng tiền giấy đủ loại mà vị chủ nhân tên Hoàng Châu Kỳ đang lưu cẩn thiện trong 6 quyển sổ đóng nilon cẩn thận tương đương với tiền giấy Đông Dương (75 tờ bạc), Châu Âu (115), châu Á (97), châu Phi và châu Mỹ (65), Asean (84) chưa kể 8 cuốn lưu giữ tiền Việt Nam được xếp theo bảng chữ cái và thứ tự từ mệnh giá nhỏ đến lớn. Khi nhắc đến mảng tiền cụ Hồ, ông Kỳ tự tin bất ngờ rằng bộ sưu tập của mình còn là niềm ao ước của bộ Tài chính chỉ vì đến giờ ông còn lưu giữ đồng 2 xu đầu tiên ra đời tháng 12/1946 không hề có mặt trong danh mục của Bộ tài chính. Tiền được xếp theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, từ 2 xu, 1 hào đến 1 đồng, 100 đồng, 1000 đồng, 10.000 đến 500.000 đồng hiện nay trong đó có không ít đồng tiền dị bản độc đáo, thậm chí cả tiền giả...


Trong đám tiền giấy, ngoài những đồng tiền xuất xứ từ những quốc gia xa tít mù tắp ở châu Phi hay đồng bạc to đùng in hình Tôn Trung Sơn cực hiếm, có 3 tờ tiền giấy ông Kỳ rất trân trọng có xuất xứ từ Đức, món giá trị nhất trong vali của ông sau 4 năm học tập tại Berlin cách đây vài chục năm. Nó quý đến mức đã có một người Đức đề nghị trả ông 2000 USD để sở hữu 3 tờ tiền này


Số là năm 1923, lạm phát lên đến đỉnh điểm tại quốc gia này khiến mệnh giá tiền tăng lên chóng mặt. Ngày 1/9/1923, tờ 50 triệu Mác ra đời, 1 tháng sau người ta đã thấy xuất hiện tờ bạc 200 triệu Mác và đến tháng 11/1923 thì con số này đã đội lên 5 tỉ Mác. Biết được giá trị rất lớn của 3 tờ bạc lịch sử này ông Kỳ đã "nghiến răng" bỏ ra 1400 Mác để mua chúng vì trong khi một chiếc xe đạp xịn những năm 1970 chỉ có 350 Mác. Nếu không có niềm đam mê thì chắc ông đã phải từ bỏ thú "tiền đổi tiền" lâu lắm rồi.


Những món đồ có một không hai


Ngoài một kho tiền quý chẳng thể quy đổi hết ra tiền bây giờ, người đàn ông vô cùng "giàu có" này còn có bộ sưu tập hơn 4 vạn con tem, quý thì xếp vào hơn 100 quyển album được đánh số ghi mục lục rõ ràng, chưa có thời gian thì cho vào bao để đấy. Hàng ngàn con tem sống (chưa đóng dấu) được đặt trang trọng trong những quyển sổ lớn và đánh số thứ tự cẩn thận nhưng tôi tin chắc chính chủ nhân của chúng cũng không thể nhớ nổi hình thù của chừng ấy con tem mình đang có.


Có những con tem mà ông phải giấu vợ mua với giá cắt cổ, có những lần bị lừa cay đắng mà không dám kêu ai. Nhưng kết quả của những vụ mua bán ngầm này là ông Kỳ đang sở hữu bộ tem vào loại đắt nhất nhì Việt Nam được giao bán với giá 600USD (khoảng 9 triệu đồng). Cách đây 2 năm ông Kỳ đã quyết định bỏ ra 5,5 triệu đồng để mua về bộ tem gồm 4 con in chân dung bà Mạc Thị Bưởi ra đời năm 1956 trong đó có 1 con tem hiếm giá trị bằng 3 con tem còn lại


 


Ông lão ngoài 70 tuổi này cũng đang có trong tay con tem số 1 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời năm 1946 in hình cụ Hồ. "Oách" hơn, ông Kỳ còn là chủ nhân của một bộ tem gồm 57 chiếc in đè chữ VN Dan chủ cộng hoà và 13 tiêu đề khác lên trên mặt tem để sử dụng khi ta chưa in kịp tem ngay sau khi giành độc lập năm 1945. Được trả giá 200 USD/57 con tem nhưng ông Kỳ dứt khoát không bán với lý do "càng ngày càng hiếm".


Những ai không hiểu chắc chắn sẽ cho ông là một kẻ "dở hơi" vì những thú sưu tầm chẳng giống ai. Ông tích trữ cả một núi tem in hình từ những hòm thư, người đưa thư, hình các doanh nhân, xe đạp, máy bay đến cả chó, mèo... Cũng chính vì cái sự lạ này mà đã có khối kẻ coi thú chơi này là "quái gở". Nhưng chính cái thú chơi khác người ấy lại mang lại cho ông Kỳ cảm giác"vui vẻ, phấn khởi, trẻ ra" mỗi khi mua được một con tem quý cho dù phải trả tới cả triệu đồng.


Thoắt một cái ông kín đáo lôi ra từ một "ngăn tu bí mật" một quyển toàn tem dị bản (in sai, in hỏng, khác màu, hình ngược, chữ lộn, thiếu chi tiết, đột lệch, không có răng...) mà theo ông luôn độc, đắt và rất được chuộng. Để sở hữu hơn 300 con tem dị bản này ông Kỳ phải sưu tầm suốt 25 năm trời. Bây giờ giá trị của nó là bao nhiêu ông cũng chẳng biết vì không thể tính nổi tổng số tiền mà ông đã bỏ ra để sở hữu chúng.


Nghe tin ông Kỳ sở hữu nhiều con tem quý trong đó rất nhiều món thậm chí còn chưa kịp xuất hiện trong danh mục Tem, nhiều kẻ lắm tiền và cả nhiều "quan to" có khi mò mẫm đến nhà, chầu chực chờ ông mấy tiếng đồng hồ chỉ vì muốn ông Kỳ nhượng lại cho họ một con tem quý trong đó một con tem đã được trả tới 4 triệu. Ông bảo "có thể tôi bán được một con tem với giá vài triệu nhưng sẽ không thể có lại nữa trong khi tiền bao nhiêu cũng tiêu hết, chỉ khi có thừa tôi sẽ tặng lại". 


Thú chơi quái gở?


Hết tem, ông Kỳ còn sưu tầm cả bì thư và những con dấu bưu điện. 21h ngày 31/12/1999, trong khi người ta kéo nhau đến Hồ Gươm để chứng kiến thời khắc chuyển giao Thiên niên kỷ II sang Thiên niên kỷ III thì có một ông già gần 70 lọ mọ vào bưu điện Bờ Hồ xin dấu bưu điện đóng vào hàng chục cái phong bì các loại để lưu lại dấu ấn của một thời điểm trọng đại sẽ không bao giờ lặp lại.


8h sáng hôm sau, cũng vẫn người đàn ông ấy, cùng với một sấp phong bì dán sẵn tem trong tay xin những con dấu đầu tiên của ngày đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ III, 1/1/2000. Tập phong bì này được ông Kỳ cất giữ cẩn thận như vật báu. Đó là chưa kể tới cả một hộp vài trăm phong bì đóng dấu bảo đảm (R) của bưu điện của Tây lẫn ta đôi khi cũng chẳng biết để làm gì, đám bì thư mà chỉ bê ra thôi cũng dường như quá sức với ông.


Đã ngoài 70 tuổi nhưng xem ra ông lão này còn tham lam lắm! Bây giờ ông vẫn còn rao mua chiếc phong bì trắng ra đời năm 1950 với giá 200.000 đồng chỉ để cài vào bộ sưu tập bì thư trên 2000 chiếc của mình cho nó... xôm. Có mấy ai dám bỏ chừng ấy tiền chỉ để mua một mảnh giấy gọi là phong bì như thế.  Hiện ông Kỳ đang sở hữu chiếc phong bì in dấu bưu điện năm 1950 (4/3) gửi từ Sài Gòn đi Paris (7/3) sử dụng tem Đông Dương. Cách đây 10 năm chiếc phong bì này lưu lạc thế nào mà rơi vào tay ông  Kỳ, hồi đó tính ra số tiền phải trả để sở hữu chiếc phong bì này tương đương với 200.000 đồng nhưng "bây giờ nếu có trả 1 triệu tôi cũng không bán", ông Kỳ cười nói.  Với ông, đám giấy lộn trong mắt nhiều người lại giá trị hơn vàng. Có lẽ vì vậy mà ông chẳng cho ai vào phòng mình dọn dẹp bao giờ ngay cả khi căn phòng ngập ngụa chắn cả lối đi. Cứ thích là mua, người chơi xưa nay vẫn thế. Trả giá cho một đam mê kể cũng đắt thật!


www.vietnamnet.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Stalin và vấn đề ký ức lịch sử của nước Nga - Tư liệu sưu tầm 23.09.2017
Sau vụ xử Bạc Hy Lai: Tham nhũng có đe dọa tương lai Trung Quốc? - Tư liệu 21.09.2017
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 - Li Tana 19.09.2017
Chuyến du lịch Việt Nam của vị Nga Hoàng cuối cùng - Tư liệu sưu tầm 19.09.2017
Franklin Roosevelt – Người duy nhất đắc cử ba nhiệm kỳ tổng thống Mỹ - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa Dân quốc - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Mao Trạch Đông trong mắt người Trung Quốc hiện nay - Lý Lỵ & Chương Lập Phàm 18.09.2017
Huyện Kiên Lương: Vững vàng hội nhập và phát triển/ Du lịch đảo ở Kiên Lương - Nhiều tác giả 17.09.2017
Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Tư liệu 17.09.2017
Vài ký ức về ba tôi: Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh - Vũ Trọng Khải 10.09.2017
xem thêm »