tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 12486190
Lý luận phê bình văn học
19.08.2010
Hoàng Sỹ Nguyên
Thơ Mới nhìn từ sự vận động thể loại (7)

Nét đặc sắc nhất của Thế Lữ, đưa Thế Lữ lên hàng tiên phong mà trước đó đã từng có Phan Khôi, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ khác là những cách tân táo bạo và triệt để về thể cách, vần điệu. Giữa lúc Thơ mới và thơ cũ đang hồi giao tranh quyết liệt, Nhớ rừng của Thế Lữ ra đời - nó như hòn đá làm lệch đôi gánh vốn đang thăng bằng của người đi đường. Nhớ rừng mới về cả nội dung lẫn hình thức so với thơ cũ. Nó làm cho "vần thơ Quốc ngữ  có tiếng là yếu - ớt, thế mà ở ngòi bút Ông (Thế Lữ) ra thì lại mạnh - mẽ như vậy" (Nhất Linh, Phong Hóa số 54, tháng 7 năm 1933). Tập Mấy vần thơ của Thế Lữ ra đời không chỉ "làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch" mà còn là "một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ  bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được" (Nhất Linh, Phong Hóa  số 54, tháng 7 năm 1933).  Tập Mấy vần thơ có 28 bài: thể thơ 5 tiếng 1 bài, 7 tiếng 8 bài, 8 tiếng  5 bài, lục bát 2 bài, song thất lục bát 1 bài, hợp thể và tự do 11 bài. Thế Lữ đã huy động tất cả những thể cách đã có để thí nghiệm. Và Thế Lữ đã thành công bởi ông luôn xông xáo đi tìm điệu mới cho thơ mình. Thế Lữ là người đã nhanh chóng đáp ứng được thị hiếu bạn đọc lúc bấy giờ là ở mỗi thể tài, mỗi cảm hứng thơ có một điệu riêng vừa nằm trong thể thơ vừa được biểu đạt ở vần thơ, cách ngắt nhịp...


Đó là một tư thế  mạnh  mẽ, chững  chạc  trong  câu thơ 8 tiếng để tả tâm sự Nhớ rừng của con hổ trong vườn Bách thú:


            Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già.


            Với tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn thét núi


            Với khi thét khúc trường ca dữ  dội


            Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng.


            Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng


                                       (Nhớ rừng - Thế Lữ)


Đó là cách ngắt nhịp bất nhất, âm vực cao thấp không đều để tả tiếng trúc tuyệt vời uyển chuyển gợi những ấn tượng biến đổi bằng thể thơ tự do hợp thể:


                        Tiếng địch thổi đâu đây


                        Cớ sao mà réo rắt?


                        Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt


                        Mây bay... gió quyến, mây bay.


                                                (Tiếng trúc tuyệt vời - Thế Lữ)


Thể thơ lục bát vốn đã định hình từ xưa đến Thế Lữ bỗng thoắt mới lạ:


                        Trời cao xanh ngắt - ô kìa!


                        Hai con hạc trắng bay về bồng lai.


                                    (Tiếng sáo Thiên thai - Thế Lữ)


Có lẽ Thế Lữ là người đầu tiên trong phong trào Thơ mới đem đến cho thơ lục bát lối thơ vắt dòng theo kiểu phương Tây. Ở đây, số tiếng trong một dòng thơ lục bát hầu như không có gì thay đổi nhưng quan hệ giữa các dòng thơ đã đưa đến sự phá bỏ hoàn toàn khuôn mẫu cũ. Dòng trên sáu tiếng vốn là một đơn vị cú pháp hoàn chỉnh thì nay bị chẻ làm đôi. Bốn tiếng đầu là một tổ hợp mà về mặt cú pháp không thể chấp nhận được. Còn hai tiếng cuối ("Ô kìa") vốn có thể đứng độc lập giải quyết trọn vẹn nghĩa ở câu trên đằng này lại hướng tới đối tượng được nhắc đến ở câu dưới. Sự thử nghiệm táo bạo này đã đưa đến sự mới lạ trong tư duy và cảm nhận của người đọc, tạo ra sự hấp dẫn mới mẻ trong cái quen thuộc. Sau này, thơ lục bát hiện đại đã tiếp tục sử dụng trở thành hiện tượng thi pháp phổ biến.


Nét đặc sắc thứ hai ở Thế Lữ là sự mới lạ trong cảm xúc về tự nhiên và không gian vũ trụ "dung chứa" cái tôi cá nhân buổi đầu. Vừa mới bước sang Thơ mới nhưng thiên nhiên trong thơ Thế Lữ không hề có những điển tích, những sáo ngữ, những niêm luật, những hình ảnh quen thuộc cũ. Cảnh sắc trong thơ Thế Lữ thường trong sáng, trẻ trung. Tác giả thường hay nói đến bình minh, mùa xuân. Đó là niềm vui của cái tôi được cởi trói, được tự do nhìn ngắm đất trời bằng tâm hồn thoáng rộng của mình. Thế giới đơn sơ, hoang dã với lá gai cỏ sắc, bóng cả cây già, những thảo hoa không tên không tuổi luôn chứa đựng rung cảm của một hồn thơ có nhiều cảm nhận tinh tế của "cây bút muôn màu", "cây đàn muôn điệu". Không gian vũ trụ mà Thế Lữ thường nhắc tới là cõi tiên. Đó là một "cõi đẹp" có cái hư ảo và cái thực tại liên hệ với nhau, gắn kết với nhau bằng tình yêu mang sắc thái riêng trong thế giới nghệ thuật của thi nhân. Ở cõi tiên, Thế Lữ cũng gửi vào đó cái sầu mộng, cái buồn như tâm trạng chung của cả một thế hệ đương thời.  Song cái sầu đó là sầu vương, cái buồn đó man mác, không ảo não bi thiết như các thi sĩ giai đoạn sau.         


Nếu sau này, Xuân Diệu nhập cuộc hẳn vào cuộc đời, thì ngược lại Thế Lữ chỉ " ... đi bên cạnh cuộc đời/  Trăm năm theo dõi áng mây trôi". Về nghệ thuật, thơ Thế Lữ giai đoạn đầu cũng chưa thật hàm súc, yếu tố "xâm lăng" của văn xuôi còn quá nhiều. Nhiều câu thơ tác giả trải ra quá gây rườm rà:


            Tôi muốn sống cuộc đời thi sĩ, để


            Uống say nồng, nhưng chỉ thấy chua cay.


                                         (Lựa tiếng đàn - Thế Lữ)


Câu thơ trên thêm chữ "để" không cần thiết. Không có nó câu thơ sẽ lọn nghĩa, mạch lạc hơn.


Đầu năm 1936, tổng kết giai đoạn đầu của phong trào Thơ mới,  Lê Tràng Kiều đề nghị nên xóa bỏ hai chữ “Thơ mới” vì “hai chữ Thơ mới là biểu hiện một cuộc cách mạng đương bồng bột” mà “Cuộc cách mạng về thi ca ngày nay đã yên lặng như mặt nước hồ thu” [138,21]. Ý kiến trên cơ bản đã đặt dấu chấm cho thời kì thử nghiệm của Thơ mới,  để từ đó Thơ mới bước vào giai đoạn khẳng định và cực thịnh.


2. Quá trình HOÀN THIỆN CÁC THỂ THƠ, CÂU THƠ


Cuộc tranh luận Thơ cũ - Thơ mới lắng xuống, Thơ mới bước vào giai đoạn thứ  hai: 1936- 1940 (tất nhiên ranh giới giữa các giai đoạn là tương đối). Giai đoạn này các nhà thơ mới chú công đáng kể cho việc học hỏi kinh nghiệm cả ở thơ cũ, thơ nước ngoài, đầu tư tìm tòi và sáng tạo.


Sau giai đoạn thử nghiệm, những thể thơ có dòng thơ 9, 10 tiếng trở lên, lối thơ 12 chân của Pháp không hợp với tiếng Việt, dàn trải, nặng nề hầu như không còn được sử dụng. Xem thống kê bảng 5 và bảng 6 (trang 87, 88) chúng ta thấy: nếu ở giai đoạn trước, trong 2059 dòng của 2 tập thơ tiêu biểu có 245 dòng loại 9 đến 12 tiếng, thì giờ đây, trong 4678 dòng của 6 tập thơ tiêu biểu thời điểm này chỉ có 3 dòng loại 9 tiếng (trong Điêu tàn của Chế Lan Viên). Loại dòng 10, 11, 12 tiếng không còn. Loại dòng thơ dưới 5 tiếng có sử dụng nhưng tỉ lệ đã giảm hơn trước. Trái lại, loại dòng thơ 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng và 6, 8 trong thơ lục bát được dùng nhiều. Nghĩa là các nhà Thơ mới trong giai đoạn này có xu hướng trở về để học tập, cách tân các thể thơ truyền thống.


Thể thơ 5, 7, 8 tiếng và lục bát đạt tính ổn định cao "tạo cho thơ Việt Nam ở giai đoạn này một phẩm chất cổ điển" ("cổ điển" với nghĩa hoàn hảo về thể loại - Nguyễn Bá Thành ) [149,324].


2.1. Từ thể thất ngôn trong thơ cũ đến thể thơ 7 tiếng trong Thơ mới


Trong thơ cổ điển, câu thơ 7 tiếng xuất hiện ở thể thất ngôn, cổ phong, ở thể Đường luật và thể song thất lục bát. Đến Thơ mới, thể thất ngôn bát cú Đường luật có đổi mới về đường lối và ý nhưng vì quá gò bó nên chỉ xuất hiện ở Quách Tấn với tác phẩm  Một tấm lòng và Mùa cổ điển. Thể song thất lục bát giai đoạn 1932 - 1935 trong tập Tiếng sóng yêu đương (Huy Thông) và Mấy vần thơ (Thế Lữ) có 4 bài. Giai đoạn 1936 - 1940, trong cả 6 tập thơ tiêu biểu chúng tôi thống kê không có bài nào, không hiểu vì sao.


 Thể thất ngôn được nâng lên qua những sự cách tân về khổ thơ, vần điệu. Việc Thơ mới tìm về, cách tân thể thơ 7 tiếng "là sự hòa giải tỉnh táo của ý thức thể loại" [5,36]. Đây là xu hướng tiếp thu quá khứ để phản ánh chân thực con người thời đại, thể hiện dạng thức mới theo quan điểm thẩm mĩ đương thời. Sự vận động này là sự vận động kết hợp giữa yếu tố truyền thống với yếu tố tiếp nhận mới từ phương Tây để đưa đến sự hoàn chỉnh thể loại. Hệ thống thơ Đường luật với những niêm luật chặt chẽ không còn phù hợp với cái tôi trữ tình tiểu tư sản phương Tây, song thơ Đường luật vốn biểu trưng cho cái đẹp hài hòa, cân đối, phù hợp quan niệm  thẩm mĩ của dân tộc lại dễ thích ứng với con người cá nhân vốn tiềm tàng các cung bậc tâm trạng phức tạp nên thể thơ 7 tiếng được các nhà Thơ mới ưa dùng.


Thời kì đầu, một vài thi sĩ sử dụng kiểu niêm luật cũ để biểu đạt tình ý mới (Hàn Mặc Tử, Thái Can, J. LeiBa... một bài thơ gồm nhiều khổ, mỗi khổ gần với một bài thơ Đường luật), nhưng không thành. Sự cách tân đã nhanh chóng đưa thể thơ 7 tiếng thành phổ thông, phổ biến. Khác với các loại thơ cổ, câu 7 trong Thơ mới gần như là câu thơ tự do, không còn bị ràng buộc chặt chẽ về niêm luật. So sánh:


            Người ta bằng mặt, chẳng bằng lòng


            Đo đắn cho hay sự sá phòng


            Lưỡi thế ngẫm xem mềm tựa lạt


            Miệng người toan lại sắc như chông


                           ( Thơ nôm, Bài 127 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)


            Này lắng nghe em khúc nhạc thơm


            Say người như rươụ tối tân hôn


            Như hương thấm tận qua xương tủy


            Âm điệu thần tiên thấm tận hồn


                              (Huyền diệu -  Xuân Diệu)


Rõ ràng, hai khổ thơ trên tuy cùng khuôn hình 7 tiếng nhưng nhịp điệu, dòng cảm xúc khác nhau hoàn toàn. Ở Thơ mới có khi thi sĩ còn dùng toàn thanh bằng, cách ngắt nhịp, từ ngữ mới lạ để diễn tả nỗi buồn triền miên kéo dài:


            Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;


            Xanh nhung ô! màu phơi nơi nơi.


            Vàng phai nằm im ôm non gầy;


            Chim yên co mình nương xương cây.


                                        (Hoàng hoa -  Bích Khê)


Hoặc có khi khổ thơ toàn thanh trắc, thể hiện sự trúc trắc của tình cảm :


            Lắng tiếng gió suối thấy tiếng khóc


            Một bụng một dạ một nặng nhọc


            Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi


            Nghĩ mãi, gỡ mãi  lỗi vẫn lỗi


                                      (Tình hoài -  Lê Ta)


Thể thơ 7 tiếng không hạn định về số dòng, số câu nhưng thường 4 dòng lập thành một khổ do cách gieo vần của Thơ mới tạo thành. Ở Thế Lữ chúng ta gặp bài thơ 9 khổ 36 dòng (Giây phút chạnh lòng), 7 khổ 28 dòng (Vẻ đẹp thoáng qua). Về sau, ngoài thể Hành (Thâm Tâm - Tống biệt hành, ...) phần nhiều thể thơ 7 tiếng ổn định ở 4 khổ 16 dòng (như Huy Cận Tràng Giang, Nguyễn Bính Cô hái mơ, Tế Hanh Vu vơ,...). Thể thơ 7 tiếng trong Thơ mới có nhiều điểm gần gũi với Sonnet phương Tây. Ta thường thấy điều đó ở thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Huy Cận... So sánh Tràng Giang của Huy Cận với Thu ca của Baudelaire thấy hoàn toàn giống nhau về bố cục. Trong  Thơ mới, thể thơ 7 tiếng giai đoạn này đã đạt đến độ hoàn hảo, tạo ra được nhiều kiệt tác. Trong cuốn Một thời đại trong thi ca, hội đồng biên tập sách đã tuyển chọn 18 bài thơ hay, trong đó có 7 bài thuộc thể thơ 7 tiếng: Nguyệt cầm (Xuân Diệu), Tràng Giang (Huy Cận), Đây thôn Vỹ Dạ (Hàn Mặc Tử), Thu (Chế Lan Viên), Mưa xuân (Nguyễn Bính), Tống biệt hành (Thâm Tâm), Hai sắc hoa tigôn (T.T.K.H) [39,255 - 256].


2.2. Sự biến đổi của thể thơ 8 tiếng


Thể thơ 8 tiếng chiếm tỉ lệ khá lớn trong Thơ mới.  Ở Thi nhân Việt Nam có 41/ 168 bài, ít hơn thể 7 tiếng 27 bài. Ở tuyển tập Thơ mới 1932 -1945, Tác giả  tác phẩm có 239/1084 bài, ít hơn thể 7 tiếng 213 bài. Nhưng ở Việt Nam thi nhân tiền chiến có tới 495/14593, nhiều hơn thể 7 tiếng 12 bài, (Xem thống kê bảng 1). Điều đó chứng tỏ càng nới rộng đường biên sự tuyển chọn, thể thơ 8 tiếng càng chiếm tỉ lệ cao.


            Các nhà nghiên cứu từ trước đến nay như Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phạm Thế Ngũ, Lê Đình Kỵ... đều xem thể thơ 8 tiếng là một sáng tạo độc đáo của Thơ mới và đều có nhận xét chung là thơ 8 tiếng thoát thai từ Hát nói. Năm 1992, khi Giới thuyết Thơ mới, Văn Tâm cho rằng kiểu câu 8 như Thơ mới đã từng có trong "các đoạn nói sử, nói lệch, nói đếm, nói hạnh trong chèo" [11,168]. Năm 2001 trong bài Thể 8 tiếng trong thơ Việt Nam Lê Tiến Dũng viết "Thật ra, thơ 8 tiếng đã từng tồn tại trước phong trào Thơ mới không chỉ ở dạng câu như trong ca trù, hay ở "các đoạn nói sử, nói lệch, nói đếm, nói hạnh trong chèo" mà đã có xuất hiện ở dạng bài hoàn chỉnh" [94,168]. Lê Tiến Dũng đã chứng minh bằng số liệu trong Phan Bội Châu toàn tập (tập 5) với 56 bài 8 tiếng. Nhưng cuối cùng, ông kết luận "Do vậy chúng ta cho rằng câu 8 loại này là do hai câu 4 tiếng ghép lại chứ không phải câu 8 tiếng kiểu như trong thơ mới" [94,169]. Ý kiến đó lại càng chứng minh sự sáng tạo của thể 8 tiếng trong Thơ mới và sự tiếp thu từ Hát nói.


Trước hết, thể 8 tiếng trong Thơ mới có sự tiếp thu tiết điệu Hát nói. Hát nói thường được ngắt làm 3 tiết điệu với khuôn nhịp 3/2/3 hoặc 3/3/2 hoặc có thể rút gọn lại là nhịp 3/5 thì Thơ mới cũng thế. Ví dụ:


Một buổi trưa/ không biết/ ở thời nào (3/2/3)


Như buổi trưa/ nhè nhẹ/ trong ca dao (3/2/3)


Có cu gáy/ có bướm vàng nữa chứ (3/5 hoặc 3/3/2)


Mà đôi lứa/ đứng bên vườn/ tình tự (3/3/2) 


                                       (Đi giữa đường thơm - Huy Cận)


Chúng ta cũng gặp ở Thơ mới luật bằng trắc và cách gieo vần của Hát nói. Ví dụ:


            Vàng đẹp quá (t) giăng tơ (b) và xối chỉ (t)


            Trời mênh mông (b) nên rất đỗi (t) nhớ nhung (b)


            Chiều buồn buồn (b)giữa hương sắc (t) tưng bừng(b)


            Như nắng xế (t) nằm trong vườn (b) mờ thủy (t)


                                           (Hòa điệu -  Huy Cận)


            Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo.


            Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.


            Người giai nhân bến đợi dưới cây già,


            Tình du khách thuyền qua không buộc chặt.


            Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt. 


                                              (Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)


Không chỉ tiếp thu từ Hát nói, thể 8 tiếng trong Thơ mới còn tiếp thu sáng tạo nguồn ảnh hưởng của thơ phương Tây. Nhiều bài thơ thể 8 tiếng của Thơ mới phỏng theo cách gieo vần của thơ Pháp như vần liền, vần gián cách, vần ôm, vần hỗn hợp...


            Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới


            Nước bao vây cách biển nửa ngày sông


            Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng


            Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá


            Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã


                                           (Quê hương - Tế Hanh)


            Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát


            Giọng chim  khuyên ca ánh sáng mặt trời


            Gió ngừng reo trên hồ xa rào rạt


            Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!


                                                  ( Hoài xuân - Thế Lữ)


Cấu trúc bài thơ thể 8 tiếng trong Thơ mới không có hạn định số dòng, chia đoạn như trong Hát nói mà dài ngắn tùy ý, gần gũi cách tổ chức bài thơ của phương Tây. Xuân Diệu ở thể này có bài 15 dòng (Yêu), có bài 63 dòng  (Dối trá).


Vì sao Thơ mới lại thành công ở thể 8 tiếng? Trong Thơ mới, thể thơ này xuất hiện muộn hơn các thể 7 tiếng, Lục bát, và khi Thơ mới ra đời nó chưa có sẵn kinh nghiệm để sử dụng ngay. Qua giai đoạn sáng tạo, thử nghiệm, khoảng giữa 1933 thể 8 tiếng mới xuất hiện và thành công với Nhớ rừng của Thế Lữ. Từ đó, các nhà Thơ mới vừa sử dụng, vừa tiếp tục sáng tạo, cách tân, đến lúc nhiều nhà Thơ mới hầu như lấy thể  8 tiếng làm thể thơ chính cho một giai đoạn sáng tác hoặc cho cả sáng tác của mình: Điêu tàn của Chế Lan Viên có 32/36 bài, Bức tranh quê của Anh Thơ có 44/45 bài... Khác với thơ cũ, cái tôi trữ tình Thơ mới đã trở thành một phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ mới là hình thức giãi bày tâm trạng, bộc lộ cái tôi, và do đó nó gặp gỡ với thể Hát nói, dễ dàng tiếp thu Hát nói. So với thể 8 tiếng thì thể 7 tiếng khó dung nạp nhiều cách gieo vần khác hơn. Ví dụ, bài Nhị Hồ của Xuân Diệu. Khổ 1 mở đầu bằng lối gieo vần quen thuộc của Đường luật, khổ 2 chuyển sang vần gián cách, khổ 6, 7 lại trở về vần ôm... tạo âm điệu mới mẻ nhưng để lại cảm giác rời rạc. Thể 8 tiếng có sự phóng túng của câu, chữ, nhịp điệu linh hoạt, sử dụng vần hỗn hợp và sự giãn nở gần văn xuôi hơn nên mở rộng được sức dung chứa cuộc sống. Từ đó, câu thơ dễ giãi bày chất tự sự, lời kể, nên nó có khả năng thể hiện tiếng nói sâu kín của tâm hồn con người, thích hợp với kiểu con người cá nhân thành thực, con người tâm linh.


 Các nhà Thơ mới đã phá vỡ bố cục, kết cấu, tứ thơ của bài Hát nói để sắp xếp lại theo ý mình:


                        Chán nản ư? các anh đừng than thở,


                        Cứ im đi rồi bảo cho tôi hay.


                        Lựa giọng buồn tôi sẽ vặn trầm giây,


                        Và gọi gió, gọi thông, lên tiếng họa.


                        Nỗi buồn sẽ theo mây mờ mịt tỏa,


                        Bạn hữu ôi! Cất tiếng ta chung cười


                        - Để cho tôi được chút vui cùng


                                                (Lựa tiếng đàn - Thế Lữ)


Chế Lan Viên sắp xếp bài thơ theo âm vang của tiếng trống cầm canh trong đêm lặng ngắt, chỉ có bóng ma hời ẩn hiện dưới trăng:


                        Trống cầm canh đâu đây gieo nặng trĩu


                        Trong tha ma dày đặc khí u buồn


                        Và vô tình, lay động những linh hồn.


                                                (Tiếng trống -  Chế Lan Viên)


Trong phần tuyển chọn những bài thơ hay, cuốn Một thời đại trong thi ca, thể 8 tiếng có 3 bài: Nhớ rừng (Thế Lữ), Lời kỹ nữ (Xuân Diệu), Tiếng địch sông Ô (Huy Thông).


Sự xuất hiện và khẳng định của thể 8 tiếng đã chứng minh sự  tìm tòi, sáng tạo, nghệ thuật của các nhà Thơ mới.  Từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối, thể thơ 8 tiếng được sử dụng thông dụng. Giữa nhà thơ này với nhà thơ khác tỉ lệ có chênh lệch nhau nhưng trên mặt bằng chung, sự tăng giảm của nó giữa các giai đoạn ít hơn thể 7 tiếng.


Đến Thơ mới,  yêu cầu về vần, nhịp điệu được đặt ra cấp thiết. Thể thơ 5 tiếng dễ làm nhưng dễ nhạt, vì số chữ ít nên cần nhiều câu mới chuyển tải được hết một ý. Thơ lục bát nếu không cao tay thì dễ bị rơi vào hình thái ca dao. Thơ tự do rất khó viết để vừa hay, vùa có vần, có nhịp. Bởi vậy, thể 7 tiếng, 8 tiếng thuận lợi cho cái tôi phô diễn cảm xúc và cá tính nên được các nhà Thơ mới dùng nhiều.


2.3. Bước đi của thể thơ 5 tiếng và thơ lục bát


So với thể thơ 7, 8 tiếng, thể 5 tiếng và lục bát có sự vận động biến đổi nhanh hơn.


Thể thơ 5 tiếng vốn đã có trong thơ dân gian, hát dặm Nghệ Tĩnh và các loại ngũ ngôn. Đến Thơ mới, các nhà Thơ mới đã mở rộng hơn mạch thơ, tứ thơ cho thanh điệu nhịp nhàng, thanh thoát, bay bổng, diễn tả được tâm hồn mới thường lâng lâng trước nỗi buồn hay cảm xúc suy tư bất chợt. Khác với ngũ ngôn trong thơ cổ có sự quy định chặt chẽ của luật bằng trắc, vần, niêm, đối, nhịp, thể 5 tiếng trong Thơ mới thường có âm điệu êm dịu, mát mẻ, mượt mà:


                        Trên đường về nhớ đầy…


                        Chiều chậm đưa chân ngày,


                        Tiếng buồn vang trong mây…                                  


                        ..........................................                                                                                     


                        Nhớ nhà châm điếu thuốc.


                        Khói huyền bay lên cây


                                    ( Màu cây trong khói - Hồ Dzếnh)


            Bài thơ chỉ 65 tiếng mà có 45 tiếng thanh bằng, thể hiện được đúng nhịp rung nỗi buồn man mác của lữ khách. Lối tổ chức câu thơ cũng rất mới - khổ đầu 3 dòng, khổ giữa 4 dòng, khổ cuối 6 dòng, nhịp thơ càng lúc càng gấp có tác dụng tăng dần tâm trạng, dồn dập ý thơ như nỗi buồn càng lúc càng dâng cao, siết chặt tâm hồn lữ khách đang cô độc giữa buổi chiều tà. Cùng ảnh hưởng cách gieo vần mới của Thơ mới nên thể thơ 5 tiếng có lối gieo vần của từng cặp một chéo nhau, ôm nhau hoặc gián cách nên có sự ngắt bài thơ ra thành từng khổ 4, 5 câu mà ở thơ cổ không có. (Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp...). Kết cấu bài thơ và vần điệu của thể thơ 5 tiếng ở Thơ mới cũng đã được cách tân. Bài thơ có thể chia thành khổ 4 câu, mỗi khổ có dáng dấp một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, nhiều khổ gắn với nhau trong một hơi thơ thành bài thơ dài, như Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Tết của Đoàn Văn Cừ, Một mùa đông (I) của Lưu Trọng Lư...; Bài thơ cũng có thể chia khổ tự do như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Mầu cây trong khói của Hồ DZếnh hoặc kéo dài liên tiếp như Tình quê của Hàn Mặc Tử.


Thể 5 tiếng nói chung được sử dụng ít, ở cả 3 giai đoạn có nhiều tập thơ không có bài nào. Tuy nhiên, nó lại có nhiều bài thơ hay như Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông Đồ (Vũ Đình Liên), Chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp) [39].


Lục bát vốn là thể thơ phù hợp yêu cầu bộc lộ tình cảm, từ ca dao, dân ca, nay được các nhà Thơ mới tìm đến như một sự hòa điệu. Các nhà Thơ mới đã bắt nhịp nhanh với lục bát, sáng tạo, nâng cao lên theo thi pháp hiện đại. Sau sự thử nghiệm táo bạo có tính chất khai phá của Thế Lữ, kiểu dạng lục bát có câu ngắt dòng, vắt dòng theo lối thơ phương Tây tiếp tục được sử dụng:


                        Mùa thi sắp tới! - Em thơ!


                        Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau!


                                                (Mùa thi - Xuân Diệu)


            Sự đổi mới của lục bát trong Thơ mới chủ yếu theo hai hướng: khuynh hướng hiện đại hóa và khuynh hướng trở về với ca dao. Khuynh hướng thứ nhất thể hiện chủ yếu trong thơ Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu, Thanh Tịnh. Khuynh hướng thứ hai thể hiện rõ nhất trong thơ Nguyễn Bính.


                        Hôm nay, trời nhẹ lên cao.


                        Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...


                        Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,


                        Sương trinh rơi kín tự nguồn yêu thương.


                                                (Chiều - Xuân Diệu)


Hướng về hiện đại, các nhà Thơ mới khai thác ưu thế nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển ngân vang để diễn tả những nỗi buồn mơ hồ, kéo dài, những cảm xúc bâng khuâng thương nhớ "Mờ mờ nhân ảnh" của cái tôi trữ tình bơ vơ, vô định:


                           Nắng chia nửa bãi; Chiều rồi...


                        Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá  rầu...


                         ......................................


                        Tay anh em hãy tựa đầu,


                        Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...


                                                ( Ngậm ngùi - Huy Cận)


            Cách ngắt nhịp của câu thơ lục bát cũng mang nhiều dáng vẻ mới lạ: khi kéo dài ở dấu ba chấm (...), khi thu gọn ở dấu chấm (.), khi như đối thoại, bày tỏ ở dấu chấm than (!) hay phần đầu dấu hai chấm (:):


                        Sợi buồn con nhện giăng mau,


                        Em ơi ! hãy ngủ ... anh hầu quạt đây.


                                                ( Ngậm ngùi - Huy Cận)


                        Rồi ông kết: (giọng bất bình)


                        - Trời cay nghiệt thế cho đành? Thưa ông.


                                                (Dòng  dư lệ - Nguyễn Bính)


Hướng về ca dao, Nguyễn Bính đã thành công trong việc tạo ra thể thơ lục bát kiểu mới, mang đậm phong cách ca dao từ hình ảnh, ngôn ngữ đến nhịp điệu và lối diễn đạt.


                        Nhà em có một giàn trầu,


                        Nhà anh có một hàng cau liên phòng.


                        Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông


                        Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?


                                                (Tương tư - Nguyễn Bính)


Có nhiều câu thơ lục bát của Nguyễn Bính nhiều người lại ngỡ là ca dao:


                        Gió mưa là bệnh của giời


           Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.


                                                (Tương tư - Nguyễn Bính)


Hoặc Trần Huyền Trân đã đưa lối thơ bậc thang kiểu thơ thường gặp ở Maiacôpxki vào trong thơ lục bát:


                          Tôi say?


                                  Thưa, trẻ chưa đầy


            Cái đau nhân thế thì say nỗi gì


                   Đường xa ư Cụ?


                                                Quản chi.


            Đi gần hạnh phúc là đi xa đường


                                    (Với Tản Đà - Trần Huyền Trân)


Trong đoạn thơ trên, hai câu lục mỗi câu tách thành hai dòng, quãng ngắt ngập ngừng như để thể hiện cách ngắt quãng ngập ngừng của bầu tâm sự.


Lục bát cũng đã có mặt trong danh sách những bài Thơ mới hay với Ngậm ngùi của Huy Cận [39]. Nhìn tổng thể cả ba giai đoạn (Xem thống kê bảng 2, 3, 4) thể thơ lục bát trong Thơ mới tuy có sự bắt nhịp nhanh nhưng tỉ lệ sử dụng còn ít, mạch vận động qua các giai đoạn biến đổi không nhiều (Chiếm số lượng lớn là ở Nguyễn Bính, Huy Cận, Lưu Trọng Lư).


Khác với giai đoạn thứ nhất, giai đoạn 1936 - 1940 thời kì hưng thịnh nhất của Thơ mới, có đông đảo gương mặt nổi bật như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Huy Cận... Trong số đó, Hoài Thanh gọi Xuân Diệu là "nhà Thơ mới nhất" trong các nhà Thơ mới và Thế Lữ đã phải nhường ngôi "đệ nhất thi sĩ" cho Xuân Diệu.


            Trong Thơ thơ và  Gửi hương cho gió, Xuân Diệu sử dụng hầu hết các thể thơ có trong phong trào Thơ mới,  tuy nhiên tỉ lệ không đều và mức độ sử dụng mỗi tập một khác. Xuân Diệu sử dụng nhiều nhất là thể thơ 7, 8 tiếng. Tham khảo Bảng thống kê thể thơ sau đây, qua Thơ Thơ và Gửi hương cho gió của Lê Tiến Dũng [23,164] sẽ thấy rõ hơn điều đó:


 


 








































































































Tổng cộng



884



1223



2107



 



Bát



17



41



 



1,9



Luc



17



41



 



1,9



10 tng



1



1



 



 



9


tng



5



5



 



 



8 tng



325



963



 



45,7



7 tng



406



910



 



43,1



6 tng



9



9



 



0,4



5 tng



60



82



 



3,9



4 tng



40



52



 



2,3



3 tng



2



4



 



 



2 tng



 



 



 



 



1 tng



 



1



 



 



Loại câu



Thơ Thơ



Gửi hương cho gió



Tổng cộng



Tỷ lệ



 


Ở Thơ thơ, thể 7 tiếng nhiều hơn thể 8 tiếng (406/325). Ở Gửi hương cho gió, quan hệ giữa hai thể gần tương đương nhau (910/963). Sự vận động tăng dần đó trong thơ Xuân Diệu tỉ lệ thuận với Thơ mới nói chung, chứng tỏ Xuân Diệu là một trong những thi sĩ có công sáng tạo thể thơ 8 tiếng hiện đại ở Thơ mới. Về câu thơ, Xuân Diệu không dùng loại câu 1, 2 tiếng và loại câu 9 tiếng trở lên. Là nhà thơ ảnh hưởng phương Tây nhiều nhưng Xuân Diệu không chịu ảnh hưởng lối câu thơ nhiều chân của Pháp, có lẽ ông đã rút được kinh nghiệm từ sự không thành công của các thi sĩ đã thử nghiệm ở giai đoạn đầu để chuyển hóa sử dụng trong các thể 7, 8 tiếng. Khi Xuân Diệu xuất hiện, điều làm người ta ngỡ ngàng nhất là việc ông trình làng những câu thơ có vẻ quá Tây, những ý tứ vay mượn rất Tây mà  không cần “kín đáo” gì cả. Những cách nói:


                         Hơn một loài hoa đã rụng cành


                        Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.


                         .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


                        Non xa khởi sự nhạt sương mờ...


                                    (Đây mùa thu tới - Xuân Diệu)


thì chỉ có Xuân Diệu sử dụng sớm.


(còn tiếp)


Nguồn: Thơ  Mới 1930-1945 – Nhìn từ sự vận động thể loại.  Khảo luận của Hoàng Sỹ Nguyên. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nghiên cứu hậu thực dân ở Việt Nam: một nhu cầu thực tế hay một giả vấn đề? - Nguyễn Hòa 01.12.2014
Lắng lại những ký ức tươi nguyên - Nguyễn Thị Anh Đào 10.11.2014
Tác giả bài thơ Nôm trong “Truyện Huyền Quang” là ai? - Đỗ Tiến Bảng 05.11.2014
Những bài viết về thơ Thi Hoàng - Nhiều tác giả 03.11.2014
Phùng Khắc Bắc - Lê Thiếu Nhơn 01.11.2014
Thơ của một nhà thơ đã khuất - Nguyễn Đức Mậu 01.11.2014
Hai bài Đặng Tiến viết về thơ Cao Tần - Đặng Tiến 31.10.2014
Đỗ Quang Tiến - Một nhà văn Hà Nội khiêm cung, trung hậu - Ngô Thảo 28.10.2014
Một kiểu du nhập lý thuyết văn học để "trang sức" - Tư liệu 22.10.2014
Đỗ Phấn – Dằng dặc triền ký ức - Nguyễn Thị Hậu 13.10.2014
xem thêm »