Trời tháng ba khá lạnh về đêm, gió biển ào ào thổi. Hải tựa lưng vào vách ngáy nhè nhẹ, Tuấn hết châm điếu thuốc này đến điếu khác, thỉnh thoảng anh đi quanh một vòng rồi trở lại ngồi xuống cạnh Hải.
Khoảng năm giờ sáng có tiếng động cơ nổ nghe xa xa, sau rõ dần rồi dừng lại trước cổng bệnh viện. Hai luồng ánh sáng đèn pha quét lên đám người nằm lổn ngổn trên sân. Môt chiếc xe từ từ lăn bánh vào. Hai luồng sáng khác lại tiếp tục quét lên. Những thân người nằm im bất động đột nhiên cựa quậy.
- Có xe! Có xe!
Như câu thần chú, hai tiếng ấy kêu tới đâu thì những thân người co quắp bất động đột nhiên vùng dậy và trong óc họ đã thoáng thấy bóng thiên đường.
- Tới hai chiếc!
Tiếp đó là cảnh náo nhiệt, người bồng con, kẻ xách gói ùa đến hai xe vừa tới. Chiếc đến trước có người mở cửa bước ra. Trong ánh sáng mờ đục hơi sương buổi hừng đông thoáng dáng cao gầy của bác sĩ Mãnh, trông tóc bác sĩ bạc hơn mọi khi không biết có phải do sương mai? Theo sau là chú Mau bảo vệ. Từ xe thứ hai bà Hoa trưởng phòng hành chánh bước xuống. Hạnh tự lúc nào đã đến bên bà Hoa.
- Ai có con nhỏ lên xe này- Bác sĩ chỉ chiếc thứ hai, cố lấy phong độ ông dõng dạc:- Chỉ nhân viên bệnh viện và con mới được lên xe. Ông nhìn quanh một vòng rồi tiếp:- Không ai mang theo bất cứ đồ đạc gì.
Đám người hỗn loạn nháo nhào chạy ra xe, Tuấn chỉ tay nói nhanh:
- Hồng Liên và Hiền bồng hai cháu ra xe lẹ đi. Bỏ đồ đạc lại, đến đó có anh em tôi.
Nói xong Tuấn túm bao quân trang, hai nách kẹp hai xách đẩy Hải chạy nhanh ra chiếc xe có bà Hoa và Hạnh đang đứng. Hải định chui vào xe thì bà Hoa chặn lại, nhanh như chớp Tuấn rút khẩu súng ngắn chĩa thẳng vào bà Hoa gằn giọng:
- Bà muốn di tản hay ở lại đây?- Vừa nói Tuấn vừa đẩy Hải chúi gập vào xe. Bà Hoa buông thõng hai tay, mặt tái mét. Hạnh trừng mắt nhìn Tuấn, anh né tránh ánh mắt Hạnh.
Lần đầu tiên ánh mắt sắc sảo của Tuấn chịu lẩn tránh cái nhìn của đối phương. Không phải sợ. Lúc ấy anh không còn tâm trí để lý giải sự thất bại đó. Sau này mỗi lần nhớ lại, Tuấn nghiệm ra cái mặc cảm của người đàn ông dùng vũ lực uy hiếp phụ nữ để thực hiện ý đồ cá nhân đã quật ngã ý chí kiên cường vốn có trong Tuấn. Còn một điều nữa, hình như lúc đó Hạnh đã nhận biết việc làm quỷ quyệt của anh. Trong đôi mắt Hạnh, anh đã thấy được rõ ràng ánh mắt cô giáo hướng dẫn năm xưa với lời cảnh cáo:- Thôi đi, không hành động quỉ quái nào của em qua nổi mắt tôi đâu…
Biết vậy thì tại sao lúc đó Hạnh không ngăn anh và Hải lại? Mãi sau này, lâu lắm, gặp lại Hạnh, điều thắc mắc của anh mới được giải tỏa.
Khi Hải lọt thỏm vào xe thì Hồng Liên vừa đến sát sau lưng Tuấn, anh ném vội bao quân trang và hai túi xách vào, ôm lưng nàng nhấc bổng hai mẹ con đẩy lên xe. Anh cũng làm vậy với mẹ con Hiền. Xong, Tuấn lên xe không hề gặp sự cản trở nào.
Hai xe đã sập cửa, trên sân bệnh viện trật tự vãn hồi. Những người không lên được ngơ ngác nhìn nhau. Đồ đạc bừa bãi khắp sân. Người đi khóc, người ở lại cũng khóc. Họ vẫy chào nhau như không bao giờ còn gặp lại. Lúc trời vừa sáng, xe rời bệnh viện. Đi một khoảng khá xa, bấy giờ bà Hoa mới lấy lại hồn, nhìn lui tìm kiếm chợt bà hỏi:- Hạnh ngồi đâu, Hạnh ơi?
- Khi xe chạy tôi thấy cô ấy còn ở dưới.
- Trời đất! Sao không gọi nó lên? Giờ sao đây?
Tài xế gắt:- Thôi xa rồi, để cô ta tìm cách vào sau.
3 - Qua đêm 10 tháng ba, sau những đợt pháo kích dữ dội quân Giải phóng vào được thị xã Buôn Mê Thuột và đã chiếm các vị trí trọng yếu… Một số lính Cộng hòa vượt làn đạn trốn khỏi thị xã. Trong những người trốn thoát có đại úy phi công Nghi và bốn người thuộc lực lượng ứng chiến sân bay: trung úy Ngọc đang bị thương khá nặng ở tay phải, trung sĩ Lê với hai tân binh Tân và Á.
Sau khi thoát vòng vây an toàn họ đã ở trong rừng hai đêm. Vết thương của Ngọc ra nhiều máu. Cả nhóm dừng lại băng bó cho anh. Nghi bàn cách thay nhau cõng Ngọc. Dưới tán lá cao su, họ len lỏi vào rừng rồi nhắm hướng Cheo Reo đi xuống với hy vọng gặp lính Quân đoàn 2 đóng tại đó. Họ không đi theo quốc lộ 14 vì nghĩ thế nào quân Giải phóng cũng đã cắt đứt con đường huyết mạch dẫn vào Sài Gòn này. Trong nhóm, người thì bảo nên theo quốc lộ 27 vòng lên Đà Lạt rồi xuống Sài Gòn, người thì bảo theo quốc lộ 26 xuống Nha Trang, đó là con đường ngắn nhất đến thủ phủ cuối cùng của họ. Nhưng các ý kiến đều bị Nghi bác bỏ. Nghi nói:- Mọi quốc lộ giờ này đều là đường chết, chỉ có cắt rừng mà đi may ra còn sống sót.
Trời tối, họ dừng lại. Ngọc luôn miệng kêu khát và đòi cho anh ta chết:
- Bỏ tao xuống, trước sau gì tao cũng chết. Tụi bây chạy đi!
- Gắng lên! Đến Cheo Reo sẽ vào quân y viện.
Ngọc sốt cao, máu không cầm, la khản giọng toàn thân co giật:
- Nước! Nước! Khát quá! Khô hết trong người cả rồi còn gì nữa mà sống, để tao chết… tụi bây ác quá!
Nghi đưa mắt nhìn Lê. Bất chợt bắt gặp ánh mắt của Nghi, không phải, đó là đôi mắt của thần chết, Tân chợt hiểu, anh ta la hoảng: - Không! Đừng! Để em cõng anh Ngọc!
Dụi mắt, Tân quay sang Ngọc:
- Gắng lên anh Ngọc! Tụi em không bỏ anh đâu.
Cuối cùng phải lấy nước tiểu cho Ngọc uống, Tân cởi áo lót băng chặt, vết thương bớt chảy máu.
Trời tối, Nghi chia phiên thức canh chừng. Đến phiên mình, Lê nghe tiếng khóc rấm rứt từ trong bóng tối cạnh gốc cây, Lê hỏi nhỏ:- Thằng Á phải không? Mai đến Cheo Reo rồi, ráng ngủ một chút đi.
Ngọc lại la to vật vã, Lê quay sang bụm miệng Ngọc:
- Trời! Cố chịu đi! Đừng la! Muốn chết cả đám hả?
Suốt đêm Nghi không tài nào chợp mắt. Núi rừng cao nguyên về đêm quá lạnh. Cheo Reo còn hay mất? Nếu mất, mình về đâu? Thôi để sáng hãy tính. Nghi tự nhủ rồi cố nhắm mắt. Được một lát có tiếng Lê gọi nhỏ bên tai.
- Đại úy, sáng rồi.
Nghe gọi, mọi người cùng bật dậy, hình như chẳng ai ngủ được. Có tiếng vỗ cánh sột soạt trên cây, một vài vệt sáng xuyên qua tán lá.
- Ngọc sao rồi?- Nghi hỏi.
- Cả đêm gào thét giờ mới thiếp được một lát.
Sợ mọi người bỏ Ngọc lại, Tân nói:- Để em với Á thay nhau cõng anh Ngọc, hai anh cứ chạy một mình đi.
- Đại úy?
- Chừ mà còn trung đại quái chi nữa, gọi tên cho quen. Bứt mấy cái mai trên cầu vai thằng Ngọc đi!- Vừa nói Nghi vừa tháo bỏ những bông mai đen trên cổ áo mình- Vứt mẹ hết đi!
- Giờ đi hướng nào đại úy Nghi?
- Đ.m. Bảo rồi không nghe sao? Đợi chút sáng, tao lên chỗ cao xem mới biết.
Trời sáng hẳn, Nghi leo lên cây cao vẹt cành cho thoáng cố nhìn bao quát rồi xác định: Mình đang ở lưng chừng sườn núi, dưới là thung lũng. Phóng mắt sang phía bên kia Nghi chú ý một vạt núi lở đất bazan đỏ quạch như vết lở lói trên thân con voi già khổng lồ phủ phục. Đúng rồi, Nghi đã xác định được vị trí mình đang đứng. Vùng rừng núi này trực thăng của Nghi đã từng quần thảo bao nhiêu lần. Nghi tuột xuống nói với mọi người:
- Chúng ta men xuống sườn núi đi qua bên kia thung lũng sẽ gặp vạt núi lở- Vừa nói Nghi vừa vạch tay xuống đất- Dưới sườn lở có con suối mùa này đã khô, cứ đi dọc theo con suối khoảng mười cây số sẽ gặp rừng tranh- Nghi đặt hòn đá vào vị trí anh vừa nói, hướng dẫn tiếp:
- Hết rừng tranh bên trái là bản làng dân tộc Ê Đê. Đến đó đừng vào, cứ đi nữa. Quẹo phải đi thẳng …
- Sao ta không vào đấy dừng chân nghỉ lấy sức rồi đi tiếp? Sợ anh Ngọc…
- Chỗ nào nên dừng chỗ nào không tao biết, tụi bây cứ nghe tao- Nghi bật dậy:- Ta đi thôi, thằng Á cõng thằng Ngọc- Nghi nhìn Ngọc lầm bầm gì đó.
Theo sự hướng dẫn của Nghi, họ đã đến con suối khô. Sợ bị phát hiện, cả nhóm không dám đi theo lòng suối, mà len lỏi dưới những tàn cây lúp xúp dọc theo bờ. Đã nửa ngày như vậy. Ngọc nằm vắt trên vai Á không biết anh ta ngủ hay bị ngất mà không nghe rên nữa.
Xa xa họ đã bắt đầu thấy những ụ mối trồi lên giữa màu xanh nhấp nhô bạt ngàn.
- Rừng tranh!- Tân reo lên.
Nghi thét:
- Cúi rạp xuống chạy, nhô đầu lên là chết đấy.
Đang chuẩn bị vượt rừng tranh họ chợt chững lại, khi nghe tiếng ù ù như dậy lên giữa rừng tranh.
- Có máy bay!
Trên bầu trời, xuất hiện chiếc L19, bay khá thấp ngược về phía họ. Như phản xạ tự nhiên Nghi nhảy lên ụ mối, chiếc mũ nồi trên tay anh ta đưa cao quay quay làm tín hiệu để trên máy bay nhận ra họ, cả bốn người cùng vẫy vẫy. Chiếc L19 bay lướt qua đầu.
- Đ.m. Nó bay mất rồi!- Nghi thất vọng chửi thề.
- Nó thấy bọn mình rồi tụi bay ơi- Chợt Lê reo lên.
Chiếc L19 chao cánh hai lần rồi lượn vòng lại. Khi bay qua trên đầu bọn Nghi nó lại chao cánh hai lần nữa.
- Nó chào tụi mình đấy.
Quần đi quần lại ba vòng cuối cùng chiếc L19 bay thẳng, lệch hướng cũ khoảng 60 độ, một làn khói đỏ rực xịt ra sau đuôi.
- Nó chỉ hướng cho chúng ta đi đó. Có phải đó là hướng về Cheo Reo không anh Nghi?
Nghi lắc đầu:
- Hướng có địch đấy, nếu chỉ hướng cho ta thoát nó sẽ xịt khói màu xanh.
Nghi vừa nói dứt lời một loạt đạn chéo chéo vút qua mang tai mấy người.
- Lộ rồi! Nằm xuống!- Nghi thét to.
Có tiếng Ngọc kêu đau, Á ném anh xuống đất khá mạnh tay. Lẩn khuất dưới rừng tranh phía sau các ụ mối, một giọng nữ trong loa trong trẻo nhưng không kém phần dõng dạc:
- Các anh đã bị bao vây! Hãy bỏ súng và đầu hàng, sẽ được Chính phủ Cách mạng khoan hồng!
- Alô! Alô!- Giọng nữ lặp lại- Các anh nghe rõ chưa?
- Đ.m cùng chết cả- Nghi lần thắt lưng rút quả lựu đạn, tay trái định móc khuy, chợt một người từ sau chồm tới đè lên anh ta, hai tay bóp chặt bàn tay phải Nghi, đồng thời chặn đầu gối lên tay trái buộc Nghi buông trái lựu đạn. Một giọng nói hổn hển bên tai Nghi:
- Đừng anh Nghi, em còn mẹ già, anh còn vợ con, em lạy anh!
Nghi nhận ra giọng của Tân. Quả MK2 lăn khỏi tay Nghi chưa kịp rút chốt.
Sau khi bị bắt mấy ngày, Tân và Á được trả tự do, Ngọc được quân Giải phóng đưa vào trạm xá để điều trị vết thương, Nghi và Lê thì chuyển đến một trại giam ở một vùng rừng núi thuộc tỉnh Pleiku, tù binh gọi chỗ đó là trại K15.
4 - Hai chiếc xe di tản của nhân viên bệnh viện Thùy Dương đỗ ngay trước cổng trường Nguyễn Công Trứ thị xã Nha Trang. Bác sĩ Mãnh và bà Hoa bước xuống, họ trao đổi gì đó rồi mở cửa, mọi người nhảy ra vây quanh bác sĩ Mãnh nghe chỉ thị:
- Bây giờ đến Nha Trang an toàn rồi, ai có nhà người quen tìm chỗ ở lại. Nếu không, tạm thời tá túc tại trường này. Im lặng nghe tôi nói! Đi đâu cũng thường xuyên liên hệ tại đây để biết tin tức, tôi sẽ liên lạc với Bộ hằng ngày, có gì mới tôi thông báo ngay. Có ai thắc mắc gì không? Lương tháng ba hả? Khi nào có, tài vụ sẽ mang sang đây phát. Còn gì nữa không nào?
- Thưa bác sĩ sao ta không đến bệnh viện Nha Trang cùng mấy người đi trước?
- Bên đó chật cứng rồi, cứ ở tạm đây. Tình hình này coi chừng cũng không mau được đâu, phải chịu khó vậy thôi. Ai có ý kiến gì nữa không?
Bác sĩ Mãnh hỏi đến hai lần, không thấy ai nói gì.
Bác sĩ cùng bà Hoa lên hai chiếc xe rời khỏi trường.
Hồng Liên bồng cu Lâm, Tuấn xách mấy cái túi đi vào sân trường. Nhìn qua các hành lang kẻ ngồi người nằm ngổn ngang chẳng khác gì cảnh tượng trên sân bệnh viện Thùy Dương hôm qua.
Trường Nguyễn Công Trứ có ba dãy phòng học xây theo hình chữ U, chính giữa là trụ cờ, những bồn hoa mười giờ đã khép cánh ủ dột. Chỉ trừ hai cây vạn tuế vẫn xanh tốt, còn lại hoa lá đã héo úa vì không ai chăm sóc. Tuấn bảo Hồng Liên ngồi đợi ở đó, anh đi tìm chỗ trống. Tiếp nối giữa hai dãy phòng học có một hành lang xi măng mái lợp dẫn ra khu vệ sinh, có vài gia đình vừa mới tới. Gần chỗ vòi nước còn một khoảng trống có thể tá túc năm ba gia đình. Tuấn đắn đo vì chỗ này sạch nhưng hơi ẩm, tìm quanh mãi cuối cùng chẳng có chỗ nào tốt hơn, Tuấn quyết định đưa mẹ con Hồng Liên lại đây nghỉ. Lúc trở ra Tuấn gặp thầy Đính đang dẫn vợ và hai con đi vào. Thầy Đính quê ở Thùy Dương, có vợ là cô Xuân người Huế, hai vợ chồng thầy lên dạy học ở Pleiku. Tuấn ôm vai thầy mừng rối rít.
- Em chào thầy, thầy còn nhớ em không?- Thầy Đính bỏ cái va li căng tròn như bụng bò chửa xuống đất, bóp tay lên trán cố nhớ.
- Em là Tuấn đây- Không để thầy Đính phải khó khăn lục tìm trong trí nhớ, Tuấn nhắc thầy- Em cùng lớp với Thao, thầy hướng dẫn tụi em ba năm liền, từ đệ tam B cho đến đệ nhất B.
- Ừ nhớ ra rồi. Cậu là Nguyễn Viết Tuấn phải không.
Tuấn là lớp đầu tiên thầy hướng dẫn, thầy còn nhớ Tuấn học ở Thùy Dương thi xong đệ nhất lục cá nguyệt (học kỳ một) mới theo gia đình chuyển lên.
- Dạ. Thầy ơi chỗ lấy nước còn trống, hơi ẩm nhưng sạch thầy đến ở với tụi em cho vui.
Cái khoảng trống gần chỗ lấy nước giờ đã kín: hai mẹ con Hồng Liên, hai gia đình Hiền và thầy Đính, sát cạnh họ là vợ chồng một giáo viên trẻ trông dáng dấp thư sinh, cuối cùng là đôi vợ chồng một người đàn ông có hàm râu quai nón xồm xoàm không cắt tỉa, có lẽ anh ta cố chừa vậy để che khuất một vết sẹo cắt ngang dưới cằm, nhìn kỹ mới nhận ra. Nó làm cho khuôn mặt anh ta xấu xí và có vẻ dao búa hơn, hình như hai gia đình này đều chưa có con.
Gần bảy giờ tối, chú cai trường đạp xe đến bật đèn sáng cả dãy hành lang.
Dưới ngọn đèn sáu tấc chỗ Hồng Liên đặt cu Lâm nằm trông sáng hẳn lên so với những chỗ khác và cũng ít muỗi. Cu Lâm kêu khát, nàng lần tay vào xách lấy quả cam lột vỏ tách đôi, một nửa cho cu Lâm, còn lại trao cho hai đứa nhỏ con thầy Đính. Hồng Liên nghe tiếng khóc ở dãy hành lang sát đó, ngoái nhìn sang nàng nhận ra người đàn bà đang vật vã. Anh giáo viên nói:
- Cô ấy ở Pleiku di tản xuống lạc mất con dọc đường.
- Mất chồng, mất con không có cái đau nào đau đớn hơn- Thầy Đính nói một mình, rồi nhìn qua thấy Hồng Liên đang lau nước mắt. Thầy hỏi Tuấn- Chị có người thân bị…?
- Dạ không, Hồng Liên là bạn học của em hồi nhỏ, chồng cô ấy cũng đóng quân trên Buôn Mê Thuột chưa có tin tức.
- Hoàn cảnh chung, ráng giữ gìn sức khỏe lo con cái, bệnh xuống bây giờ mệt lắm.
Tuấn ngồi hút thuốc. Hải đi ra sau chỗ có mấy vòi nước, lát sau anh trở lại cầm cái khăn ướt lau mặt cho con. Tuấn bảo Hồng Liên:
- Hồng Liên kiếm gì ăn đi, coi cháu Lâm đã ăn được chưa?- Hồng Liên lấy trong xách ra một gói giấy trao cho Tuấn.
- Bánh mì chú ăn đi mời thầy và mấy người, tôi không đói. Cháu mới sốt xong chưa dám cho ăn đâu, trong cái xách có mấy bịch sữa tươi chú lấy cho cháu uống giúp tôi.
Tuấn hai tay cầm ổ bánh mì mời thầy Đính.
- Cậu ăn đi, tôi có mang theo đồ ăn đây- Thầy Đính nói và chỉ vào xách của mình.
(còn tiếp)
Nguồn: Một ngày cho trăm năm. Tiểu thuyết của Nguyễn Bá Trình. NXB Văn học. 8-2010.
www.trieuxuan.info
|