tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404272
Thơ
05.07.2010
Nhiều tác giả
Thơ nhều tác giả (51)

Xuân Sách


Ngọn lửa


  


Em bỗng hiện lên sau trận mưa rằm


Suối reo ào ào, đất trời đổ nước


Mà em đi kia, vì sao không ướt?


Tôi ngồi bên này mưa lạnh hai bàn tay


Nhìn chiếc khăn em thành ngọn lửa đang bay


 


Không biết vì đâu em trùm chiếc khăn màu đỏ,


Hay vì sau trận mưa tôi đang cần sưởi đó


Hay vì trời chiều cây cỏ mờ sương


Trên lối ta đi ra tới chiến trường.


Em lướt đi thoảng như cơn gió


 


Mà tim tôi đập dồn nhịp thở


Rũ nước mưa, tôi vội đứng lên


Lòng bồi hồi thốt gọi tên em:


                                              Ngọn lửa!


 


  Rừng thông Đà Lạt


                          Kiếp sau xin chớ làm người


                Làm cây thông đứng giữa trời mà reo


                              (Nguyễn Công Trứ)


 


Có phải Ông đấy không


Đeo bầu rượu túi thơ


Đi trong Thung lũng Tình Yêu


Dưới một trời thông reo rét mướt


 


Tôi chợt hiểu bước đường lận đận của Ông


Từ quan Thượng thư  bị giáng làm lính thú


Ông đem cái tài hoa thừa ra để chơi ngông


 


Đùa với quan trường đùa cùng thơ phú


Để che giấu nỗi đắng cay


Của một đời người


Đã một thời ông đi đánh giặc


Một thời đi khai khẩn đất hoang


Ông ngồi trên chiếc xe bò lộc cộc


Tuổi bảy mươi còn duyên nợ đèo bòng.


 


Ôi cái ông già mặc áo năm thân  tóc dài búi tó


Mà sao ông hiện đại quá chừng


Tôi không biết thời bây giờ


                                 có bao nhiêu người như Ông


Mà ngày nay thông mọc nhiều đến thế


Nhưng chưa ăn thua gì đâu


Chúng tôi còn trồng thành rừng, thành lũy


Chúng tôi làm người của thời bây giờ


Và làm thông của thời bây giờ.


                                                1986


 


  Nguyễn Ngọc San, sinh năm 1944 (Giáp Thân), tại Trường Thành, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tốt ngiệp Đại Học Tổng hợp Văn. Nguyên Giáo viên Trường Trung học Nghiệp vụ, Bộ Thủy Lợi. Thơ đã in:


     *  Quả chín bên sông. Hội VHNT Hải Dương, 1990;


     *  Sắc đỏ chiều thu. NXB Thanh Niên, 1998;


     *  Lục Bát sông Bầu. NXB Hội Nhà Văn, 2004.


 


  Nhớ đò


 


Con đò như một lá diều


Mỏng manh tôi ngại sông chiều không sang


Để rồi bên ấy lỡ làng


Để rồi tôi chịu muộn màng mình tôi


Ngày đi mưa gió sập  sùi


Những năm bom đạn không nguôi nhớ đò


Rút neo, thuyền vội xa bờ


Giận hờn giây phút hững hờ mất em


 


Để rồi trên bến có đêm


Đò như nghiêng ngả cồn lên sóng tràn


Một thuyền hai kẻ ngổn ngang


Đò ơi mau chở dùm sang tới bờ.


 


Sao Hôm một chấm xa mờ


Con đò một đợi một chờ, người ơi


 


 


Và tôi


 


Tôi lang thang suốt dặm đường


Đã gần đến cuối con đường phải đi


Gió Lào bạc áo màu ghi


Sốt rừng chôn bạn từ quy hú dài


Người về nằm dưới tượng đài


Còn bao người gửi xác ngoài ngàn lau


Toi về bạn gái đi đâu


Tìm nhau thì đã thấy nhau bế bồng


Lá vàng lá rụng như không


Thương là thương những mùa đông gió lùa


Thắp hương châm nến vào chùa


Giật mình sư bác ngày xưa vá đường


 


Bờ ao tu hú kêu sương


Và tôi đang cuối con đường phải đi.


                                             (1998)


 


Viết cho em


 


Nghiệp đời đã trót đa mang


Em và ngọn lúa thành trang thơ này


Nửa mơ nửa tỉnh nửa say


Vầng trăng bến nước thấm đầy nỗi quê


Một thời trận mạc đam mê


Một thời cơ chế ê chề dại khôn


Câu vui lẫn với câu buồn


Cỏ đê sương sớm, chiều hôm cánh buồm


Thơ không qua nổi áo cơm


Gồng xiêu gánh mếch vai còm em tôi.


 


Văn chương lặn ngụp giữa đời


Đắng cay tôi viết cho người tôi yêu


Mai này chiều đổ bóng chiều


Thơ tôi biết có đỡ nghèo cho em?


                                     (1994)


 


 


Lê Quang Sinh


 Bên bến đò làng


 


Trở về gặp bến đò xưa


còn câu hò vọng bên mùa ngô non?


dấu chân cát phủ thành cồn


mắt người bỏng cả hoàng hôn cuối ngày


thu tàn lắc thắc lá bay


tiếng chim về muộn bên cây duối già.


 


Làng đồn trước lúc đi xa


mấy đêm liền thấy người ra bến ngồi


bần thần rứt rứt cỏ hôi


vầng trăng như chỉ riêng soi một người


tháng giêng thấp thỏm tháng mười


sông suông còn sót nụ cười dở dang.


 


Tôi ăn hạt gạo của làng


bấy nhiêu năm sống lang thang cửa trời


ánh đèn điện lấp trăng soi


xập xình tiếng nhạc méo lời mẹ ru


tấm thân quay tít con cù


tâm tư va đập đồng xu méo tròn.


 


Nắng mưa không bạc dấu son


câu hò văng vẳng vẫn tròn bóng trăng


 


 Thế Triện


                       Lam Kinh


 


Bên sông Ngọc bụi thời gian khỏa lấp


Chim ríu ran từ phía cuối rừng lim


Những cung điện, đền đài, thành quách?


Cỏ lên xanh chân cột đá im lìm.


 


Lần theo dấu từng viên gạch vỡ


Khói còn om mặt kẻ đốt thành


Lam Kinh cháy, đât Lam Kinh không rữa


Đa hóa trầm ôm thị cùng xanh.


 


Tôi gặp con rắn nhỏ mào rồng


Ngỡ hồn vua Lê về trong sắc cỏ


Thế đất triện, bốn bề âm âm gió


Lòng Ức Trai tạc hồn đá Lam Kinh


 


Nén hương trầm tôi  đốt trước anh minh


Lắng tiếng lá thu rơi về nguồn cội


Trời đã định hình sông, thế núi


Việc muôn dân nhân nghĩa dựng thành.


                                    (Lam Kinh, 10  2001)


Nguồn: Rút từ Tiếng Việt qua thơ tình mười thế kỷ, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, NXB Văn hóa Thông tin, quý I năm 2010.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Điệu valse xứ núi - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Những ngọn sóng tỏa hương - Trần Mai Hường 22.03.2017
Đọc lại vài bài thơ Nguyễn Đình Thi - Nguyễn Đình Thi 18.03.2017
Chùm thơ Hoàng Kim Vũ (9) - Hoàng Kim Vũ 18.03.2017
Gửi… - Lê Khánh Mai 17.03.2017
Chùm thơ Vũ Thanh Tùng - Vũ Thanh Tùng 16.03.2017
Chùm thơ Hoàng Kim Vũ (8) - Hoàng Kim Vũ 16.03.2017
Chùm Thơ PN.Thường Đoan - Phan Ngọc Thường Đoan 16.03.2017
Vang mãi bản hùng ca - Hoàng Kim Vũ 15.03.2017
Cầu thang - Hoài Anh 15.03.2017
xem thêm »