tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20543197
Thơ
07.07.2010
Đỗ Phủ
Chùm thơ Đỗ Phủ (8)

Hiểu vọng

Bạch Đế canh thanh tận
Dương Đài sắc tự phân
Cao phong thượng hàn nhật
Điệp lĩnh túc mai vân
Địa sách giang phàm ẩn
Thiên thanh mộc diệp văn
Kinh phi đối mỹ lộc
Ưng cộng nhĩ vi quần

Dịch Nghĩa
Thành Bạch Đế tiếng trống tan canh
Trên Dương Đài ánh sáng hiện ra
Ngọn núi cao mặt trời mọc còn lạnh
Núi trùng điệp, mây mờ nằm thu lại
Đất lở, buồm trên sông lúc ẩn lúc hiện
Trời xanh, nghe tiếng lá cây rụng
(Ngồi ngoài) cửa tre nhìn đàn hưu nai
Muốn cùng lũ ngươi làm bạn


 


Dịch Thơ
Sáng sớm xem phong cảnh

Tiếng trống tan canh Bạch Đế thành,
Dương Đài rực sáng ánh bình minh.
Đầu non vầng nhật còn trong lạnh,
Sườn núi làn mây chửa bủa nhanh.
Đất lở, buồm phơi thay sắc thái,
Trời thanh, đá đổ dội âm thanh.
Trông nai ngoài ngõ thong dong bước,
Những muốn cùng nai kết bạn lành.

Bản dịch:Chi Điền


 


 


Kỷ

Vĩnh dữ thanh khê biệt
Mông tương ngọc soạn câu
Vô tài trục tiên ẩn
Bất cảm hận bào trù
Loạn thế khinh toàn vật
Vi thanh cập hoạ xu
Y quan kiêm đạo tặc
Thao thiết dụng tư tu



Dịch Nghĩa
Con hoẵng

Vĩnh biệt khe suối trong trẻo
Sắp bị dọn lên cùng với thức ăn ngon
Không có tài theo các bậc tiên ở ẩn
Đâu dám giận bọn đầu bếp
Đời loạn coi thường mọi vật
Tiếng kêu nhỏ mà tai hoạ cũng đến
Bọn áo mũ cũng như bọn trộm cướp
Ăn uống nhồm nhoàm thoáng chốc hết ngay


 


Dịch Thơ

Vĩnh biệt suối khe trong
Món ngon sắp dọn cùng
Theo thiên tài chẳng kịp
Giận bếp dám sinh lòng
Đời loạn không gì vẹn
Thầm kêu cũng mắc vòng
Quan quyền cùng trộm cướp
Ngốn ngấu chốc là xong!

Lê Nguyễn Lưu dịch


 


Ký Đỗ Vị

Hàn nhật kinh thiềm đoản
Cùng viên thất mộc bi
Giáp trung vi khách cửu
Giang thương ức quân thì
Thiên địa nhân hà tại
Phong trần bệnh tán từ
Phong thư lưỡng hàng lệ
Triêm sái ấp tân thi


Dịch Nghĩa
Ngày rét, mặt trời :Dng qua thềm
Mất ổ, cùng đường, vượn buồn rầu
Nấn ná lâu ngày ở gửi nơi kẽm sông
Khi ở trên sông lại nhớ đến bác
Khắp trời đất biết gửi thân nơi nào ?
Bước phong trần đau ốm biết nài sao!
Gửi lá thư, hai hàng lệ nhỏ
Đầm đìa bám vào lòng thơ mới


 


Dịch Thơ
GỬI ÔNG ĐỖ VỊ

Bóng trời rét qua thềm thoăn thoắt
Vượn cùng đường mất ổ những bi ai
Nơi kẽm sông nấn ná bấy lâu rồi
Trên sông đó nghĩ người thêm tưởng nhớ
Khắp trời đâu biết đâu là chốn ở
Bước phong trần đau ốm nữa nài sao!
Phong thư hàng lệ tuôn trào
Đầm đìa lã chã thấm vào hàng thơ

Á Nam dịch


 


Khách chí

Xá nam xá bắc giai xuân thủy,
Ðản kiến quần âu nhật nhật lai
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo,
Bồng môn kim thủy vị quân khai
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm,
Cách ly hô thủ tận dư bôi

Dịch Nghĩa
Khách đến

Phía nam, phía bắc nhà toàn là nước xuân Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới Trươc đây chưa từng có vì khách nào mà quét đường hoa bây giờ mới vì bạn mà mở cửa cỏ bồng
Vì chợ xa, nên bữa ăn không có đủ vị nhà nghèo, chỉ có chén rượu cũ chưa lọc Thôi đành đối ẩm với lão hàng xóm cách rào, gọi mang ra hết chén rượu còn lại


 


Dịch Thơ

Khách đến

Nước xuân đầy rẫy bắc nam;
Ngày ngày âu vẫn thường sang chơi nhà.
Chưa vì khách quét lối hoa,
Cửa bồng nay mới mở ra vì người.
Chợ xa thiếu vị dâng mời;
Nhà nghèo chỉ có rượu ôi lâu ngày.
Với ông hàng xóm cùng say,
Gọi đem hết rượu ra ngay bên rào.

Bản dịch: Trần Trọng San


 


Khách tòng

Khách tòng nam minh lai
Di ngã tuyền khách châu
Châu trung hữu ẩn tự
Dục biện bất thành thư
Giam chi kíp tư cửu
Dĩ sĩ công gia tu
Khai thị hoá vi huyết
Ai kim trưng liễm vô!

Dịch Nghĩa
Khách từ

Khách từ biển Nam tới đây
Cho tôi một hạt ngọc người cá
Trong ngọc có nét chữ mờ mờ
Cố phân biệt mà không nhận rã câu gì
Giấu nó trong hộp đã lâu rồi
Đợi để nhà quan dùng đến
Mở xem, nó biến thành cục máu
Thương thay! Nay không còn gì nộp thuế!


 


Dịch Thơ

Khách từ Nam hải tới
Cho một hạt tuyền châu
Trong ngọc in mờ chữ
Lần xem chẳng rõ câu
Giấu hoài trong hộp kín
Chờ để các quan thâu
Mở ngó hoá thành máu
Thương thay! Thuế má đâu ?

Lê Nguyễn Lưu dịch


 


Khương thôn kỳ I

Tranh vanh xích vân tây
Nhật cước há bình địa
Sài môn điểu tước táo
Qui khách thiên lý chí
Thê noa quái ngõa tại
Kinh định hoàn thức lệ
Thế loạn tao phiêu đãng
Sinh hoàn ngẫu nhiên toại
Lân nhân mãn tường đầu
Cảm thán diệc hư hí
Dạ lan cánh bỉnh đăng
Tương đối như mộng mị

Dịch Nghĩa
Ðám mây đỏ cao ngất ở phía tây; gót chân mặt trời bước xuống mặt đất bằng. Trước cổng nghèo, chim sẻ kêu xao xác, khi khách từ nơi xa ngàn dặm về đến nhà.
Vợ con đều sửng sốt khi thấy tôi còn sống; khi đã hết kinh sợ, vẫn còn chùi nước mắt. Ðời loạn, gặp cảnh lưu lạc; được sống sót trở về, thực là ngẫu nhiên.
Những người hàng xóm đứng đầy tường, cũng đều cảm động, bùi ngùi. Ðêm khuya, lại thắp đèn lên; nhìn nhau, tưởng chừng như đang ở trong giấc mộng.


 


Dịch Thơ
Thôn người Khương

Mây đỏ ngất bên tây
Mặt trời bước xuống đất
Cổng nghèo, chim xao xác
Ngàn dặm khách về đây
Vợ con đều sửng sốt
Rồi gạ lệ trào tuôn
Ðời loạn, mình lưu lạc
Sống về, thực thỏa lòng
Ðầy tường người sớm cũ
Cảm động cũng thương ai
Ðêm khuya, đèn vẫn thắp
Trông nhau, ngỡ mộng rồ

Bản dịch Trần Trọng San


 


Khương thôn kỳ II

Vãn tuế bách thâu sinh,
Hoàn gia thiểu hoan thú.
Kiều nhi bất ly tất,
Úy ngã phục khước khứ.
Ức tích hiếu truy lương,
Cố nhiều trì biên thụ.
Tiêu tiêu bắc phong kính,
Vũ sự tiễn bách lự
Lại tri hòa thử thu,
Dĩ giác tao sàng trú.
Như kim túc châm chước,
Thả dụng ý trì mộ.

Dịch Nghĩa
Tuổi đã già nên phải cẩu thả cầu sống. Về nhà, thấy ít thú vui. Những đứa con thân yêu không rời khỏi đầu gối, vì sợ tôi lại ra đi.
Nhớ lại khi xưa thường thích hóng mát, nên tôi lại đi quanh hàng cây bên ao. Gió bắc ào ào thổi mạnh. Những việc trái ý nung nấu nổi lo âu.
Vì biết lúa đã gặp rồi và hèm rượu đã rót, nên nay tôi co’ đủ rượu uống, để khuây khỏa lúc tuổi già.


 


Dịch Thơ
Thôn người Khương

Tuổi già cầu sống vội,
Về nhà, ít thú vui.
Con thơ không rời gối,
Sợ ta lại đi thôi.
Nhớ xưa thích hóng mát,
Dạo quanh cây bên ao.
Ào ào gió bắc thổi,
Nung nấu bao lo âu.
Nghe tin lúa gặt rồi,
Hèm rượu cũng có nhiều.
Nay ta đủ rượu uống,
Khuây khỏa lúc trời chiều.

Bản dịch Trần Trọng San


 


Dịch Thơ
Thôn người Khương

Tuổi già cầu sống vội,
Về nhà, ít thú vui.
Con thơ không rời gối,
Sợ ta lại đi thôi.
Nhớ xưa thích hóng mát,
Dạo quanh cây bên ao.
Ào ào gió bắc thổi,
Nung nấu bao lo âu.
Nghe tin lúa gặt rồi,
Hèm rượu cũng có nhiều.
Nay ta đủ rượu uống,
Khuây khỏa lúc trời chiều.

Bản dịch Trần Trọng San


 


Khương thôn kỳ III

Quần kê chính loạn khiếu,
Khách chí khê đấu tranh.
Khu kê thướng thụ mộc,
Thủy văn khấu sài kinh.
Phụ lão tứ ngũ nhân,
Vấn ngã cửu viễn hành.
Thủ trung các hữu huề,
Khuynh kháp trọc phục thanh.
Khổ từ tửu vị bạc,
Thử địa vô nhân canh.
Binh cách ký vị tức,
Nhi đồng tận đông chinh.
Thỉnh vị phụ lão ca,
Gian nan quí thâm tình.
Ca bãi ngưỡng thiên thán,
Tứ tọa lệ tung hoành.


Dịch Nghĩa
Khương Thôn (bài ba )

Ðàn gà đang rối rít kêu; khi khách đến, gà đá lộn nhau. Sau khi xua gà lên cây, mới nghe thấy tiếng gõ cổng.
Bốn năm ông già lại hỏi thăm tôi đã đi xa lâu ngày. Ông nào cũng mang theo bầu rượu nơi tay, cùng tôi rót uống say sưa.
Các ông phàn nàn rằng vị rượu nhạt, ruộng lúa không có người cày, chiến tranh vẫn còn chưa yên, con cái đều phải đi đánh miền đông.
Xin vì các phụ lão mà hát. Tự thấy hổ thẹn trước tình cảm sâu xa của các vị đối với nổi gian nan của mình. Hát xong, ngẩng nhìn trời than thở, khiến cho các ông ngồi bốn bên rỏ lệ chứa chan.


Dịch Thơ
Thôn người Khương

Gà đang rối rít kêu,
Thấy người, liền đá lộn.
Xua gà lên trên cây,
Mới nghe tiếng gõ cổng.
Phụ lão bốn năm ông,
Hỏi ta đi lâu ngày;
Tay đều mang theo rượu,
Nghiêng bầu cùng ta say.
Phàn nàn vị rượu nhạt,
Không người cày ruộng đồng,
Cjiê1n tranh còn chưa hết,
Con cái đều sang đông.
Xin vì phụ lão ca,
Hổ thẹn tình sâu xa.
Hát xong nhìn trời than;
Bốn bên lệ chan hòa.


 


Lâm giang tống Hạ Tiêm

Bi quân lão biệt lệ chiêm cân
Thất thập vô gia vạn lý thân
Sầu kiến chu hành phong hựu khởi
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân


Dịch Nghĩa
Buồn bã vì phải từ biệt người bạn già, lệ ướt đầm khăn
(Bạn) đã bẩy mươi tuổi, thân không nhà cửa
Buồn trông thuyền đi, gió lại nổi lên
Dặm sóng bạc đầu, người cũng bạc đầu


 


Dịch Thơ
Tới sông tiễn Hạ Tiêm

Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu
Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu ?
Buồn trông trận gió theo thuyền nổi
Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu

Tản Đà



Bảy mươi một kiếp không nhà
Thương anh vạn dặm mắt nhoà lệ châu
Thuyền đi gió lại dâng sầu
Bạc đầu con sóng bạc đầu ly nhân

Vi Nhất Tiếu


 


Lạc nhật

Lạc nhật tại liêm câu
Khê biên xuân sự u
Phương phi duyên ngạn phố
Tiều thoán ỷ than chu
Trác tước tranh chi truỵ
Phi trùng mãn viện du
Trọc giao thuỳ tạo nhữ ?
Nhất chước tán thiên ưu



Dịch Nghĩa
Mặt trời lặn

Bóng mặt trời đã ngang bức mành
Bên khe, vẻ xuân vắng lặng
Cỏ thơm đầy vườn bên bờ sông
Người đốn củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác
Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống
Côn trùng bay chơi khắp sân
Rượu đục ai chế ra mày ?
Uống một cuộc tan hết nghìn mối lo âu


 


Dịch Thơ

Ác lặn xế ngang mành
Khe xuân cảnh vắng tênh
Bếp tiều thuyền cạnh thác
Cỏ biếc bãi bên ghềnh
Sâu giỡn bay đầy viện
Chim sa mổ cướp cành
Rượu giao ai cất chế ?
Một cuộc hết lo quanh!

Lê Nguyễn Lưu dịch


 


Lữ dạ thư hoài

Tế thảo vi phong ngạn
Nguy tường độc dạ chu
Tinh thuỳ bình dã khoát
Nguyệt dũng đại giang lưu
Danh khởi văn chương trứ
Quan ưng lão bệnh hưu
Phiêu phiêu hà sở tự
Thiên địa nhất sa âu

Dịch Nghĩa
Đêm ở đất khách,viết nỗi lòng

Trên bờ cỏ lăn tăn dưới gió hiu hiu
Chiếc thuyền vươn cao cột buồm trong đêm quạnh
Sao rũ xuống cánh đồng bằng phẳng bao la
Trăng tung toé trên sông chảy cuồn cuộn
Danh tiếng há nhờ văn chương mà lừng lẫy
Làm quan cũng nên về nghỉ khi già ốm
Chơi vơi giống như cái gì ?
Một con chim âu giữa trời đất


 


Dịch Thơ
Nỗi niềm đêm đất khách

Gió êm bờ cỏ mượt
Thuyền chiếc cột buồm cao
Sông rộng trôi vầng thỏ
Đồng bằng rợp ánh sao
Thơ văn danh há cậy
Già yếu chức nài bao
Âu trắng trong trời đất
Chơi vơi tựa chốn nao ?

Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu


Bên bờ cỏ dợn gió hiu hiu,
Cô quạnh thuyền con dưới bóng chiều.
Đồng rộng mênh mông sao rủ thấp,
Sông dài cuồn cuộn bóng trăng thâu.
Văn chương mấy thuở lừng danh tiếng,
Hoạn lộ già nua phải cáo lui.
Thân thế chơi vơi tuồng ngoại vật,
Bãi sa trời rộng giống chim âu.

Bản dịch: Chi Điền


 


Lưu Cửu pháp tào Trịnh Hà Khâu Thạch Môn yến tập

Thu thủy thanh vô để
Tiêu nhiêu tịnh khách tâm
Duyến tào thừa dật hứng
An mã đáo hoang lâm
Năng lại phùng liên bích
Hoa diên trực nhất kim
Vãn lai hoành xuy hảo
Hoằng hạ diệc long ngâm

Dịch Nghĩa

Nước mùa thu trong vô cùng
Rất tịch mịch làm sạch lòng người khách
Một nhóm quan duyến tào nhân dịp hứng thú
Đi ngựa đến rừng hoang
Vị quan nhỏ, tài, gặp viên ngọc bích giá liên thành.
Chiếu hoa giá trị bằng một nén vàng
Chiều tối nghe tiếng sáo thổi rất hay
Dưới chỗ nước sâu cũng có rồng ngâm.


 


Dịch Thơ
Cùng Lưu Cửu pháp tào và Trịnh quê ở Hà Khâu ăn tiệc ở Thạch Môn

Nước thu trong biết bao
Lòng sạch, lâng lâng sầu
Hứng thú quan quyền cảm
Rừng hoang vó ngựa vào
Ngọc nhiều thành, đức độ
Mâm một nén, sang giàu
Chiếu tối vẳng đưa sáo
Rồng ngâm đáy vực sâu

Bản dịch: Nguyễn Huy Hùng


 


Mao ốc vi thu phong sở phá ca

Bát nguyệt thu cao phong nộ hào,
Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao
Mao phi độ giang sái giang giao
Cao già quái quyến trường lâm sao,
Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao
Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực,
Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc
Công nhiên bão mao nhập trúc khứ,
Thần tiều khẩu táo hô bất đắc
Qui lai ỷ trượng tự thán tức
Nga khoảnh phong định vân mặc sắc,
Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc
Bố khâm đa niên lãnh tự thiết
Kiều nhi ác ngọa đạp lý liệt
Sàng đầu ốc lậu vô can xứ,
Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt
Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên,
Trường dạ chiêm thấp hà do triệt
An đắc quảng hạ thiên vạn gian,
Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,
Phong vũ bất động an như san
Ô hô, hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc,
Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc

Dịch Nghĩa
Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ
Tháng tám, trời thu cao, gió giận dữ gào thét, cuốn đi ba lớp cỏ tranh trên mái nhà ta Cỏ tranh bay qua sông, rải xuống miền đất bên sông Cao thì vắt vẻo treo trên ngọn cây rừng thấp thì tả tơi rơi chìm xuống ao nước
Lũ trẻ xóm nam khinh ta già yếu, nhẫn tâm làm giặt cướp ngay trước mặt ta Chúng công khai ôm cỏ tranh đi vào trong xóm trúc ta khô môi rát miệng, kêu thét mà không được Trở về, chống gậy, thở than
Một lát sau, gió yên mây đen như mực Trời thu bát ngát đen tối lúc chiều tà Chiếc chăn vải dùng nhiều năm, lạnh như sắt, bị đứa con thơ khó ngủ đạp rách toang Ở đầu giường mái nhà dột, không chổ nào khô vết mưa nhiều nhưng gai vẫn còn chưa hết Từ khi gặp cơn hoạn lạc, mình ít ngủ, suốt đêm dài, ướt đẫm, biết làm sao hết được!
Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn, để giúp cho các hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui vẽ, không bị kinh động vì mưa gió, yên ổn như núi non! Hỡi ôi, biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao sững trước mắt dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ, mình có chịu rét đến chết, cũng thỏa lòng!


 


Dịch Thơ
Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ

Tháng tám, trời cao, gió thu gào,
Thổi tung mái nhà, cuốn tranh pheo
Tranh bay qua sông, rơi lao xao
Cao thì trên rừng treo vắt vẻo,
Thấp thì phơ phất chìm trong ao
Lũ trẻ xóm nam khinh ta già không sức,
Nỡ lòng ngang nhiên làm trộm giặc
Ôm bừa cỏ tranh vào trong trúc
Rát cổ, bỏng họng kêu không được
Trở về, chống gậy mà tấm tắc
Phút chốc, gió yên mây như mực
Chiều đến, trời thu đen bát ngát
Chăn vải lâu năm lạnh như sắc,
Con thơ khó ngủ, đạp rách nát
Ðầu giường, mái dột, khắp nơi ướt
Mưa nhiều như gai, vết chưa nhạt
Từ khi loạn lạc, ít ngủ ngon
Ðêm dài ướt đẫm, làm sao bớt!
Mong sao nhà lớn có ngàn gian,
Giúp cho hàn sĩ trên đời đều hân hoan,
Gió mưa chẳng đọng, vững như non!
Hỡi ôi, bao giờ thấy được nhà cao này trước mắt
Nhà mình có vỡ, chết rét, cũng thỏa lòng!

Bản dịch Trần Trọng San


 


Mạn hứng kỳ I

Nhãn khan khách sầu sầu bất tỉnh
Vô lại xuân sắc đáo giang đình
Tức khiển hoa khai thâm tháo thứ
Tiện giác oanh ngữ thái đinh ninh.

Dịch Nghĩa
Mắt nhìn thấy khách buồn buồn không tỉnh
Xuân sắc thật vô lại, đến bên đình ven sông
Làm cho hoa nở vội vàng tưng bừng
Và khiến chim oanh hót rộn ràng.


 


Bản điện tử của vinagames.org

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cây bàng cuối thu, Cảm tác - Nguyễn Bính 18.09.2017
Trường huyện, Chân quê, Một trời quan tái, Giời mưa ở Huế - Nguyễn Bính 18.09.2017
Nhớ cha - Hoàng Kim Vũ 18.09.2017
Thu hứng kỳ 1 秋興其一 • Cảm xúc mùa thu (1) - Đỗ Phủ 11.09.2017
Ngẫu đề - Đỗ Phủ 11.09.2017
Thương Mẹ - Hoàng Kim Vũ 10.09.2017
Chân quê - Một trời quan tái - Nguyễn Bính 10.09.2017
Chùm thơ Phạm Sỹ Sáu - Phạm Sỹ Sáu 22.08.2017
Điểm danh đồng đội - Phạm Sỹ Sáu 21.08.2017
Muôn đời đã vậy, không quên! - Phạm Sỹ Sáu 21.08.2017
xem thêm »