tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18460261
Những bài báo
27.08.2008
Hoài Anh
Tiểu thuyết của Triệu Xuân - Những trang viết nghệ thuật tâm huyết, giàu tính tư tưởng

Đối với người làm công tác nghiên cứu phê bình, thì những lời phát biểu của nhà văn về mục đích sáng tác, chủ đề, phương pháp sáng tác tác phẩm của mình là rất cần thiết và quan trọng. Như vậy tránh được cái tệ “thầy bói xem voi” không nhìn được toàn diện tác phẩm để có được ấn tượng chung nhất về nó, tránh khỏi khi phê bình “gãi không đúng chỗ ngứa”, dẫn tới khen chê không chính xác, chỗ đáng khen không khen, chỗ đáng chê không chê, lời phê bình như “nước đổ đầu vịt” không giúp ích gì cho tác giả và bạn đọc.


May mắn cho tôi khi viết về tác phẩm của Triệu Xuân, lời nói đầu của tiểu thuyết hay lời phát biểu trên báo chí, thông tin in trong kỷ yếu hội viên Hội Nhà văn... đã giúp ích tôi rất nhiều khi anh thể hiện: vì sao viết, viết cái gì và viết như thế nào.
Trong lời Cùng bạn đọc của tiểu thuyết Đâu là lời phán xét cuối cùng (tái bản lần thứ hai, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2002), Triệu Xuân viết:


“Dân tộc Việt Nam bước vào công cuộc Đổi mới đã hơn mười năm. Muôn sự đã đổi thay rất nhiều - theo chiều hướng tốt đẹp - so với hơn chục năm trước đó. Trong hoàn cảnh đầy thử thách khắc nghiệt của thời hậu chiến, vấn đề nhìn nhận, đánh giá con người, sử dụng nhân tài... còn nhiều bất cập. Ai cũng biết chính sách chiêu hiền đãi sĩ, khuyến khích tài năng, tạo cơ hội thăng tiến cho người lương thiện có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại, thịnh suy của một dân tộc. Khoảng thời gian mười lăm năm từ sau 1975, đất nước phải trải qua muôn vàn thử thách, nhiều cơ hội vuột khỏi tầm tay, kinh tế suy sụp, đời sống khốn khó... Từ trong bối cảnh ấy, có những người tiên phong mở đường, dũng cảm đương đầu với những lề luật lỗi thời, góp phần thúc đẩy đất nước thực hiện Đổi mới vì mục tiêu Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội công bằng văn minh. Không ít những người tiên phong của thời kỳ đó đã chịu mất mát, hy sinh...


... Con người và những mối quan hệ trong xã hội luôn luôn là vấn đề lớn nhất của văn học. Tôi suy nghĩ nhiều về mối quan hệ giữa con người sau chiến tranh, quan hệ cha con, quan hệ giữa hai thế hệ, cả hai đều nồng nàn yêu nước, giàu tâm huyết, nhưng cái cách yêu nước rất khác nhau. Tôi viết cuốn tiểu thuyết này theo lối tân văn, nhằm thể hiện sự nhìn nhận con người khác hẳn với kiểu đánh giá con người một cách cứng nhắc, phiến diện, không nhân văn.


Hiện nay chúng ta đang tập trung chống tham nhũng, giải quyết những vấn đề nhức nhối của xã hội, làm lành mạnh hóa xã hội, lập trật tự, kỷ cương, phép nước. Thiết nghĩ, chỉ có thực sự phát huy dân chủ, trân trọng, nâng niu nhân tài, tôn trọng và lắng nghe tâm nguyện của con người, mau chóng và kiên quyết loại thải những kẻ giá áo túi cơm, sâu mọt, bất tài, tà tâm... thì xã hội mới yên bình, nước mới giàu, dân mới mạnh. Cuộc sống thôi thúc chúng ta phải nhanh chóng hoàn thiện chu trình giáo dục đào tạo con người. Đất nước đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi phải đổi mới chính sách cán bộ nhằm quy tụ và phát huy khả năng của những người có tài có tâm, như Bác Hồ đã chủ trương ngay từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám thành công”.


Tuy là lời Cùng bạn đọc viết cho tiểu thuyết Đâu là lời phán xét cuối cùng (xuất bản năm 1987), nhưng mục đích, chủ đề và phương pháp sáng tác của Triệu Xuân ở đây vẫn áp dụng chung cho các tiểu thuyết: Những người mở đất (1983), Giấy trắng (1985), Nổi chìm trong dòng xoáy (1987), Trả giá (1988), Bụi đời (1990), Sóng lừng (1991), Cõi mê (2004).


Trước hết tôi rất hoan nghênh mục đích viết, và chủ đề tác phẩm của Triệu Xuân. Tất cả những tác phẩm của Triệu Xuân đều mang tính hiện thực, tính tư tưởng cao, tác động mạnh vào công cuộc Đổi mới của đất nước. Tiểu thuyết Triệu Xuân phản ánh tâm nguyện của nhân dân, xoáy sâu vào chủ đề phải đánh giá đúng con người, tôn trọng và lắng nghe tâm nguyện của con người, tạo điều kiện cho con người phát huy khả năng cống hiến cho xã hội, cho đất nước, hoàn thiện chu trình giáo dục đào tạo con người. Tiểu thuyết của Triệu Xuân có tính dự báo thời đại rất cao, đồng thời là những trang nghệ thuật ca ngợi con người chân chính, dũng cảm phanh phui những kẻ quyền cao chức trọng mà phi nhân, sâu dân mọt nước.


***


Con người là đề tài bất tận của văn học. Trên vấn đề con người và bản chất con người, Marx, Engels một phương diện trực tiếp kế thừa nguyên tắc cơ bản duy vật chủ nghĩa của Feurbach, khắc phục tính trực quan thoát ly hiện thực xã hội của nó; một phương diện khác lại tiến một bước cải tạo triết học Hegel hấp thu tư tưởng về “bản chất của lao động của con người” và đem sản sinh tự ngã của con người coi là quá trình của hoạt động mang tính đối tượng ẩn chứa trong tư biện trừu tượng của nó. Đồng thời phê phán quan điểm của Hegel đem tinh thần tuyệt đối coi làm chủ thể cao nhất, và lấy cái đó làm cơ sở để trình bày bản chất con người và hoạt động đối tượng hóa của nó, không chỉ đem con người biến thành khách thể bị động, biến thành thủ đoạn và công cụ tinh thần tuyệt đối mượn để biểu hiện mình; mà còn đem nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người đều trừu tượng hóa và tinh thần hóa, con người thành ý thức tự ngã, đối tượng thành ý thức đối tượng, hoạt động đối tượng hóa thành sự thiết lập của ý thức, lấy, bỏ của dị hóa thành tự trở về của ý thức, tóm lại nội dung hiện thực đều bị rút mất, cái còn lại chỉ là tinh thần, “trong vòng quay thuần túy, không ngừng nghỉ của nội bộ tự thân” (lời Marx). Chính là trên cơ sở phê phán, kế thừa và phát triển tư tưởng của người trước, Marx, Engels cụ thể luận chứng vấn đề bản chất thực tiễn, bản chất xã hội của “con người hiện thực” và phát triển lịch sử của bản chất con người, khác với “con người tinh thần” của Hegel, và “con người cảm tính” của Feurbach.


Cái mà triết học quan tâm là bản chất con người, nhưng muốn thăm dò bản chất của con người, đầu tiên phải thừa nhận con người là tồn tại khách quan có sinh mệnh, là con người hiện thực có máu có thịt, mà không phải là thứ tinh thần hoặc ý thức không có nhân thân nào đó. Có thể thấy, tư tưởng về bản chất con người của Marx, Engels đầu tiên hấp thu nhân tố hợp lý trong chủ nghĩa duy vật của Feurbach, cho rằng bản thân con người là sự thống nhất của vật chất và tinh thần, xác thịt và linh hồn, tinh thần lấy vật chất làm cơ sở, linh hồn lấy xác thịt làm cơ sở, nói một cách cụ thể, tinh thần, ý thức là cơ năng của đại não, tinh thần, ý thức thoát ly đại não chẳng qua là “hư vô”, đồng thời cho rằng con người là vật tồn tại đối tượng hóa, con người cần phải “nhờ vào đối tượng hóa để biểu thị bản chất của mình”. Nhưng khảo sát của Feurbach đối với bản chất con người trước sau dừng lại trên cơ sở tự nhiên, trực quan cảm tính của con người, dù cho dính dấp đến tính xã hội của con người, cũng đem nó quy kết làm “tổng hòa của tất cả mọi nhu cầu và bản chất bản năng của con người”. Hoặc giả quy kết làm “tính chung nội tại, vô danh, đem rất nhiều cá nhân với lý tính, lòng yêu, sức ý chí mà những cá nhân đơn lẻ đó vốn có liên hệ với nhau một cách thuần túy tự nhiên”. Feurbach tuyên bố thẳng thừng: “Chỉ có nhân loại học là chân lý, chỉ có quan điểm của cảm tính, trực quan là chân lý, bởi vì chỉ có quan điểm đó cấp cho chúng ta tính chỉnh thể và tính cá biệt”.


Nhưng Marx, Engels không dừng lại ở đây, mà là lấy cái đó làm điểm xuất phát, tiến một bước đề ra vấn đề bản chất con người khu biệt với động vật rốt lại là gì. Marx, Engels chỉ ra, có thể căn cứ vào ý thức, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa hoặc tùy tiện cái gì khác để khu biệt con người và động vật. Rất nhiều nhà tư tưởng trên lịch sử thực tế đã từ những phương diện đó tiến hành khu biệt. Nhưng, đặc trưng bản chất nhất của con người khu biệt với động vật lại là lao động sản xuất. “Hành động lịch sử đầu tiên của những cá nhân đó khiến mình khu biệt với động vật không phải là ở họ có tư tưởng, mà là ở họ bắt đầu sản xuất tư liệu sinh hoạt mà mình cần thiết”. Từ ý thức bầy đàn của con người hoang dã phát triển đến ý thức của con người đích thực, trên thực tế trải qua một quá trình dài dặc, mà hoạt động lao động là cơ sở phát sinh của quá trình biến hóa đó, bởi vậy con người là sản vật của lao động, lao động sáng tạo con người.


Trong Bản thảo triết học kinh tế học năm 1844; Marx tiến hành trình bày cụ thể đối với bản chất lao động của con người và đề ra một định nghĩa đầu tiên về bản chất con người. Marx cho rằng lao động sản xuất trên thực chất là hoạt động đối tượng hóa của bản chất con người, ông nói: “Sản phẩm lao động là cố định trong một đối tượng nào đó, vật hóa là lao động của đối tượng, đó là đối tượng hóa của lao động, thực hiện của lao động là đối tượng hóa của lao động”. Chính là trong hoạt động đối tượng hóa đó, con người một phương diện đem bản chất của mình thể hiện ra một cách khách quan, một phương diện khác lại không ngừng sinh thành và phát triển bản chất của mình. Mà đối tượng hóa của tinh thần, của ý thức con người là sản sinh trên cơ sở đối tượng hóa của lao động, không có hoạt động đối tượng hóa của lao động, đối tượng hóa của tinh thần, của ý thức chỉ có thể là hư cấu trong đầu óc. Căn cứ vào đó, Marx định nghĩa bản chất của con người là “hoạt động tự do, tự giác của con người”.


Cái gọi là “hoạt động tự do, tự giác” là nói hoạt động của con người không phải bản năng kiểu động vật, mà mang tính sáng tạo cải tạo tự nhiên dưới sự chỉ đạo của ý thức tự ngã. Bởi vì lao động của con người thoát khỏi nhu cầu bản năng đơn thuần, anh ta không chỉ có thể dựa theo “thước đo bên trong”, mà còn có thể dựa theo “bất kỳ loại thước đo nào”, cho đến “quy luật của cái đẹp” để tiến hành sản xuất. Bởi vậy, đem bản chất con người định nghĩa làm “hoạt động tự do, tự giác” mới đích thực nắm được căn bản của con người.


Nhưng, Marx, Engels không dừng ở đây, mà đi tới trả lời: con người dưới điều kiện vật chất và xã hội như thế nào tiến hành sản xuất? Họ dùng phương thức như thế nào để sản xuất? Theo Marx, Engels, chỉ có đem con người đặt vào trong điều kiện lịch sử xã hội cụ thể để khảo sát, mới có thể vạch rõ bản chất hiện thực chân chính của con người hiện thực.
Bởi vậy, “cá nhân trong hiện thực chân chính” không chỉ là “theo đuổi hoạt động, tiến hành sản xuất vật chất” mà còn “là ở giới hạn, tiền đề và dưới điều kiện vật chất nhất định không bị họ tùy ý chi phối, biểu hiện mình một cách năng động”. Đó là sự thuyết minh khái quát nhất của Marx, Engels đối với cái gì là “con người hiện thực”. Căn cứ vào đó, Marx trong Về đề cương của Feurbach mùa xuân năm 1845, lại hạ một định nghĩa như thế này đối với bản chất con người: “Trên tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa của tất cả mọi quan hệ xã hội”.


Hai định nghĩa nói trên, Marx cấp cho bản chất con người về bản chất là nhất trí. Khi Marx coi bản chất con người là “hoạt động tự do, tự giác”, thì cái mà ông nhấn mạnh là tính sáng tạo trong lao động của con người; khi Marx coi bản chất con người là “tổng hòa của quan hệ xã hội”, cái mà ông nhấn mạnh là tính xã hội lịch sử của bản chất con người. Chỉ có đem xem xét hai định nghĩa đó trong mối quan hệ mật thiết với nhau, mới có thể nắm vững toàn diện tư tưởng về bản chất con người của Marx, nhận thức đích thực được cái gì là “con người hiện thực hoàn chỉnh”.


Thời gian dài đến nay, chúng ta nhận thức tư tưởng về bản chất con người của Marx theo kiểu giáo điều: Nếu bản chất của con người đã là tổng hòa của quan hệ xã hội, thế thì trong xã hội có giai cấp, do tính chất giai cấp của quan hệ kinh tế chiếm địa vị chủ đạo, bản chất con người biểu hiện chủ yếu là tính giai cấp. Khi phán định tính giai cấp của một cá nhân thì nhìn vào địa vị kinh tế của anh ta, nhân đó cho rằng tính giai cấp của con người là do thành phần giai cấp của anh ta quyết định (như chia tách ra giai cấp vô sản, tư sản, bần nông, địa chủ v.v...). Xuất phát từ đó, rút ra kết luận: anh xuất thân giai cấp vô sản, anh liền có tính người cao cả của giai cấp vô sản; anh xuất thân giai cấp tư sản, anh nhất định có tính người của giai cấp bóc lột xấu xa! Tính người của giai cấp lao động và tính người của giai cấp bóc lột là hoàn toàn đối lập, nước lửa không dung nhau. Trong xã hội có giai cấp, chỉ có cái gọi là tính người giai cấp, không có cái gọi là tính người chung…


Thời kỳ đầu sau ngày giải phóng miền Nam, đặc biệt là trong giai đoạn cải tạo tư sản, xuất hiện “chủ nghĩa thành phần”, “chủ nghĩa lý lịch” là biểu hiện cực đoan và tất nhiên của thứ lý luận này. Dưới sự chi phối của thứ lý luận này, gia đình xuất thân thành điều kiện căn bản có khi là duy nhất quyết định số phận một cá nhân. Giả dụ anh không may sinh trong gia đình giai cấp hữu sản thế thì anh mất quyền làm người, bị coi là phần tử không đáng tin cậy. Trong thân thuộc của anh có người xuất thân từ gia đình thuộc giai cấp bóc lột hoặc sống trong nước tư bản chủ nghĩa, thế thì dòng máu của anh bị coi là thẩm thấu vật ô nhiễm mà biến thành không trong sạch. Cách nhìn nhận đó có nguyên nhân lịch sử phức tạp, không thể đơn thuần quy lỗi do sai lầm trên lý luận. Cả một thời gian dài đã diễn ra việc đánh đồng tính người với tính giai cấp, đem tính giai cấp đẩy đến cực đoan, phủ nhận tính chung trong tính người, phủ định tính kế thừa và tính liên tục của phát triển tính người, phủ định tổng hòa của tất cả mọi quan hệ xã hội (mà không chỉ là quan hệ kinh tế) quyết định bản chất của con người, đặc biệt là phủ định quyền tự chủ lựa chọn đối với thuộc tính giai cấp và đường đời của con người, và tác dụng quyết định của tính năng động, sáng tạo tự giác của con người; quy con người và bản chất con người là sản vật tiên thiên do huyết thống và xuất thân quyết định. Lối lý luận “tả” cực đoan đó cung cấp nền tảng triết học cho việc đẩy mạnh cách làm “tả” trong thực tiễn, ngăn cản sự phát triển toàn diện của con người.


Thăm dò con người, tính người và bản chất con người, cuối cùng là để thực hiện giá trị của con người, thúc đẩy sự phát triển của con người và tiến bộ xã hội.


Marx chỉ ra: “Khái niệm phổ biến giá trị là sản sinh từ trong quan hệ của người ta đối đãi với vật bên ngoài thỏa mãn nhu cầu của họ”. Do nhu cầu của con người là đa dạng, có nhu cầu vật chất, có nhu cầu tinh thần, bởi vậy, khách thể giá trị có thể thỏa mãn những nhu cầu đó của người ta, không chỉ có sản phẩm vật chất mà cũng có sản phẩm tinh thần. Con người coi là chủ thể giá trị, tự thân nó cũng có giá trị. Giá trị của con người là ở anh ta có thể sáng tạo giá trị. Bởi vậy, giá trị của vật trên thực chất là đối tượng hóa giá trị của con người. Con người là giá trị sáng tạo giá trị, nhân đó mà là giá trị cao nhất của tất cả mọi giá trị. Con người trong quá trình sáng tạo giá trị, một phương diện thực hiện giá trị tự ngã, một phương diện thực hiện giá trị xã hội. Cái gọi là giá trị tự ngã là tự ngã căn cứ vào nhu cầu của tự thân, đi sáng tạo, thực hiện và chiếm hữu giá trị, cái đó chủ yếu biểu hiện là theo đuổi đối với công tích và thành quả trên sự nghiệp và kỳ vọng mình có thể được xã hội tôn trọng và thừa nhận. Cái gọi là giá trị xã hội là cống hiến của mình đối với thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội trong công tác. Một cá nhân cống hiến đối với xã hội càng lớn, giá trị xã hội của anh ta cũng càng cao. Giá trị cá nhân và giá trị xã hội không phải là hai thứ hoạt động giá trị không giống nhau, chúng thống nhất tồn tại trong hoạt động giá trị tự ngã của con người.


Giá trị cá nhân và giá trị xã hội cũng tồn tại mâu thuẫn. Nếu một cá nhân để thực hiện giá trị tự ngã, không ngần ngại làm tổn hại giá trị của người khác và xã hội, thế thì giá trị cá nhân của anh ta cũng trái với giá trị xã hội, do đó bị mọi người chửi rủa, vứt bỏ.


Dưới cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp, thời gian dài đến nay, về quan hệ của giá trị cá nhân và giá trị xã hội vẫn giữ một thứ quan điểm như thế này: hoạt động của cá nhân trực tiếp là hoạt động giá trị xã hội, giá trị cá nhân đã hoàn toàn hòa tan vào trong giá trị xã hội. Vì thế, quan điểm tách giá trị cá nhân và giá trị xã hội ra bị quy kết là sai lầm! Ở cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp, hoạt động kinh tế của người ta là chấp hành lệnh của Nhà nước, tuột móc với lợi ích cá nhân, cá nhân thành một khách thể tiêu cực bị động không mấy quan trọng trong hành vi kế hoạch, một chiếc bánh răng và đinh ốc có thể tùy ý điều phối, tính năng động, tự do, tự chủ, tự giác và bản chất sáng tạo của cá nhân mất đi, bị vật hóa trong bộ máy Nhà nước. Trạng huống đó phản ánh trên lý luận, là đem giá trị xã hội thành thực thể giá trị duy nhất tách rời giá trị cá nhân, hoặc giả một cách biến tướng cho rằng giá trị cá nhân chỉ bám dựa trên giá trị xã hội không có liên quan với mình.


***


Thực tế đó đã được nhà văn Triệu Xuân phản ánh sinh động trong các tiểu thuyết: Những người mở đất, Giấy trắng, Đâu là lời phán xét cuối cùng, Nổi chìm trong dòng xoáy, Trả giá, Bụi đời, Sóng lừng, Cõi mê.


Trung (Những người mở đất) nói: “Mục tiêu cao nhất là hoàn thành kế hoạch Nhà nước. Nhưng tôi nghĩ chúng ta còn có một việc rất quan trọng, thậm chí có tính chất quyết định cho việc có hoàn thành kế hoạch được hay không: đó là vấn đề con người. Phải nhanh chóng rèn luyện cho mỗi công nhân của chúng ta, mỗi cán bộ chúng ta trở thành một con người mới, mang phẩm chất tốt đẹp của một công nhân xã hội chủ nghĩa. Vấn đề được đặt ra là: Phải thực hiện quyền làm chủ tập thể của giai cấp công nhân”. Ngược lại Hoàng, đội phó, không lo lắng cho lợi ích tập thể, mà chỉ vun vén cho lợi ích cá nhân, cốt sao giữ được cái ghế của mình, không tiếc vu cáo, hãm hại Trung, như vậy là đã hy sinh giá trị xã hội cho giá trị cá nhân. Ngược lại, ở Trung, giá trị cá nhân thống nhất cao độ với giá trị xã hội, giá trị của những người khác trong tập thể, do biết tôn trọng và tin tưởng vào con người, thực sự quan tâm đến con người, tạo điều kiện tốt để con người cống hiến nhiều hơn cho đất nước, cho xã hội.


Thịnh (Giấy trắng) nói với với Tư Phát: “Tôi không hiểu anh ác cảm, đố kỵ anh em làm gì. Họ tốt hay xấu bây giờ là trách nhiệm của chúng ta, của tôi, của anh. Những người trẻ bằng tuổi con anh như cậu Hải, cô Thy, họ đến với cách mạng như tờ giấy trắng. Những người đã sống qua hai chế độ như Hai Bảng, Ba Bình, đầy mặc cảm với cách mạng, nay đã hợp tác, đã thể hiện nhiệt tình. Còn gì đáng quý hơn, đáng nâng niu trân trọng lắm chứ. Vì sao cứ lấy cái quá khứ của họ trùm lên con người họ. Vả chăng con người như một dòng sông, luôn luôn biến động. Có gì mà anh khăng khăng cho họ là đồ bỏ, xài tạm chứ không thể tin. Nếu không tôn trọng người ta, không tin người ta thì làm sao anh đòi hỏi người ta tin yêu anh được”. Tư Phát là nhân vật điển hình cho “chủ nghĩa thành phần”, “chủ nghĩa lý lịch”, khư khư bám lấy những cơ chế lỗi thời, ngụy trang bằng chiêu bài “bảo vệ quan điểm, lập trường của Đảng, kế hoạch, nguyên tắc của Nhà nước”, đã tự biến mình thành tay sai cho phần tử cơ hội, mưu đồ quyền lợi bất chính, vu cáo hãm hại Thịnh. Ngược lại, Thịnh biết khai thác tiềm năng lao động và nhiệt tình của mỗi một người, đã làm ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, sản phẩm lao động là thước đo cao nhất bản chất con người của anh trong hoạt động sáng tạo tự do, tự chủ, tự giác.


Trong lời Cùng bạn đọc của Đâu là lời phán xét cuối cùng viết: Giám đốc một nông trường cao su Đông Nam Bộ “là một cán bộ giàu nhiệt tình cách mạng, nhưng không có tri thức quản lý kinh tế. Nông trường Hòa Bình, sau là công ty, nhanh chóng lụn bại, công nhân đói, vườn cây kiệt quệ. Những người tài năng, tâm huyết như ông Định và hàng loạt người có tay nghề cao không được trọng dụng. Con trai giám đốc là một kỹ sư trẻ, khuyên nhủ, góp ý với cha nhiều lần nhưng không được lắng nghe. Công nhân nông trường kiến nghị cấp trên thay giám đốc, không được đáp ứng... Đến khi giám đốc bị cách chức, người thay thế chính là con trai ông. Dưới sự lãnh đạo của Hiếu, công ty Hòa Bình phục hồi và phát triển với tốc độ nhanh, trở thành một doanh nghiệp mạnh. Thế nhưng, vì nhiều lý do, Hiếu bị cản phá quyết liệt, bị thay thế... Đâu là lời phán xét cuối cùng? Tiểu thuyết có kết thúc bỏ ngỏ”.


Tác phẩm là một minh chứng: quan điểm lấy tính giai cấp thay thế tính chung của con người, và cách làm “tả” đã mang lại tai hại lớn lao cho xã hội như thế nào? Bên cạnh đó tư tưởng bảo thủ, trì trệ và thái độ cá nhân chủ nghĩa lo giữ ghế của một số người có chức có quyền, đã dẫn tới “kinh tế suy sụp, đời sống khốn khó... không ít những người tiên phong của thời kỳ đó đã chịu mất mát, hy sinh”; ngay cả tác giả, một nhà văn tài năng, giàu tâm huyết, cũng từng bị phê phán gay gắt, chụp mũ… một cách bất công, hoặc dè dặt không chịu chấp nhận, với tâm lý khôn lỏi “ăn cơm đi trước, lội nước đi sau”. Có thể nói chính chủ trương Đổi mới do Đảng phát động, đã cứu tác giả khỏi bị vùi dập!


Nổi chìm trong dòng xoáy “mượn bối cảnh ở một công ty vận tải sông biển, với những thủy thủ và thuyền trưởng chuyên nghề buôn lậu, ăn cắp hàng hóa và chơi bời trụy lạc. Giải phóng, những cán bộ cách mạng về tiếp quản công ty đã không những bất lực trước thực trạng tồi tệ này mà còn buông thả, để bị cuốn theo dòng xoáy tiền và gái, vô hình trung tiếp tay cho tội ác! Kỹ sư Thắng được điều về Công ty khi mà mọi sự nát như tương bần... Anh bắt đầu vực Công ty dậy bằng cách cứu lấy từng thủy thủ, không cho họ sa đọa nữa! Ngay lập tức, anh bị cái đám đông đồng lõa với cái ác chống phá. Rồi anh bị khủng bố! Thế nhưng, giữa muôn trùng vây của âm mưu đen tối và tội ác, vẫn lóe sáng lên nhân cách và niềm tin yêu của con người. Biết trân trọng những điều ấy, Thắng đã thành công. Anh bị trọng thương, đồng đội của anh hy sinh, nhưng những thủy thủ phạm tội giết người, cướp tàu vượt biển bị bắt. Những thủy thủ ngộ ra sai lầm của mình, vừa toan gượng dậy làm lại cuộc đời thì bị bọn xấu thủ tiêu. Thế nhưng con người đã chiến thắng!” (trích lời phê bình của Ngô Thanh Hương).


Đến tiểu thuyết Trả giá, “chuyện kể về gia đình ông Hai Mắm - chủ xưởng tôm đông lạnh trước giải phóng. Để trở thành một ông chủ xưởng đông lạnh, ông Hai đã phải trải qua biết bao trôi nổi đắng cay. Dường như gần trọn đời ông đã bỏ công vì nó, nhưng sau năm 1975 ông đã “hiến” cho Nhà nước, bởi ông biết rõ ông là công dân của nước Việt Nam thống nhất, là gia đình cách mạng (vợ bị chính quyền cũ giết hại, con trai đi quân Giải phóng, nên không thể không chấp hành chính sách “cải tạo” kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được. Nhưng không ngờ, cái hành động yêu nước và đầy tinh thần công dân ấy của ông Hai đã đẩy ông nhanh chóng bị phá sản bởi một ông chủ mới tên là Phái - một con người đội lốt cách mạng, ham quyền, ham gái, vừa dốt về quản lý lại vừa thất nhân tâm. Từ khi xưởng vào tay hắn, ngư dân chán nản không đi biển nữa, sản xuất bị ngưng trệ. Hai Mắm mất niềm tin, bỏ đi; con cả ông là Hai Đước - một sĩ quan hải quân đầy công tích, về can thiệp, bị vu oan tội chống đối và phải vô khám biệt giam. Người con thứ hai của ông là Lê Ngọc Trầm - một trí thức trẻ, giàu năng lực, cũng bị “vạ” theo, không được đi nước ngoài và “có anh bị tù”, “có cha đi di tản”, không được trọng dụng vì gia đình “chống đối chủ trương cải tạo tư sản” (trích lời giới thiệu của nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình).


“Có thể nói ngay rằng với tiểu thuyết Sóng lừng, Triệu Xuân là nhà văn đầu tiên viết về Mafia Việt Nam. Tác giả đề cập vấn đề Mafia Việt Nam một cách nghiêm túc và toàn diện. Qua nhân vật Tám Đôn, ta hình dung ra cuộc chiến chống Mafia là vấn đề sống còn của xã hội hiện nay chứ không chỉ là sự sai lầm về một mặt nào đó của đội ngũ cán bộ để rồi chỉ “xử lý nội bộ”. Tám Đôn hiện nguyên hình là một bố già Mafia như các bố già ở Mỹ, Ý... Song do tính chất độc đáo của xã hội Việt Nam, Bố già Tám Đôn cũng độc đáo hơn các bố già quốc tế. Và chính vì vậy, cuộc đấu tranh chống Mafia ở Việt Nam sẽ phải trả giá đắt khó mà hình dung nổi! Điều đó đã được tác giả thể hiện rõ bằng hình tượng nhân vật Lê Dung, người chiến sĩ an ninh dũng cảm đương đầu với Tám Đôn... Người đọc tin rằng cuộc chiến đấu của Lê Dung sẽ không bao giờ đơn độc, bởi đúng như tác giả đã viết trong lời đề ở đầu sách: “Còn xã hội, còn loài người thì luôn luôn có cuộc chiến đấu chống lại tội ác...” (trích lời phê bình của Ngọc Thạch).


Tiểu thuyết VN. Mafia được nhà văn Triệu Xuân viết trong vòng hai năm: 1989-1990, lần lượt gửi tới hai Nhà xuất bản lớn, nhà nào cũng trả lời: Tác phẩm rất hay, rất muốn xuất bản nhưng… ngại! Đến khi tác giả gửi cho NXB Giao thông Vận tải thì được chấp nhận nhưng với điều kiện phải đổi tên là Sóng lừng! Sách in đợt đầu 3.000 bản, phát hành đầu tháng 5-1991, sau một tuần thì hết sạch. Đang chuẩn bị in tiếp 10.000 bản thì phải ngưng lại… (Cơ quan chức năng ở thành phố Hồ Chí Minh làm công văn đề nghị Ban Nội chính Thành ủy cho khởi tố tác phẩm, vì bôi nhọ ngành công an, bôi nhọ Đảng và chế độ!).


Tác giả đã gặp trực tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại nhà riêng ở đường Trần Quốc Toản Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, trước giờ ông ra sân bay đi Hà Nội để tiếp bà Daniel Mitterant, Phu nhân Tổng thống Pháp Francois Mitterant. Sau cuộc gặp này, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã thành lập Hội đồng Giám định Trung ương do nhà thơ Huy Cận làm Chủ tịch, ông Thái Ninh, Phó Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương làm Phó Chủ tịch cùng bẩy nhà văn nhà phê bình lý luận khác. Sau ba tháng, Hội đồng Giám định kết luận: “Tác giả là nhà văn có trách nhiệm công dân cao, dũng cảm chống tham nhũng, chống tiêu cực…”. Thế nhưng, từ đó đến nay, VN. Mafia, tức Sóng lừng vẫn chưa được tái bản!


Mười sáu năm năm sau khi VN. Mafia được viết xong, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam khủng khiếp hơn, tinh vi hơn rất nhiều so với hiện thực được thể hiện trong tác phẩm. Vụ án Năm Cam là một thí dụ nhỏ!Dư luận đánh giá rất cao nhà văn Triệu Xuân về lòng dũng cảm, tính dự báo… trong các tác phẩm.


Cõi mê xoay quanh số phận các nhân vật trong hai gia đình: gia đình ông Hòa và gia đình ông Hoàng... Gia đình ông Hoàng gồm ông và các con trai là những người có năng lực, có tâm huyết với sự nghiệp Đổi mới nhưng nhiều lúc đã chịu thất bại cay đắng bởi cỗ máy bảo thủ và sự tranh giành quyền lực của những kẻ xấu. Gia đình ông Nguyễn Kỳ Hòa (hay là gia đình cụ Nguyễn, bố ông Hòa, tuổi đã tròn trăm) là một gia đình yêu nước có truyền thống, đời đời theo Nguyễn Tri Phương, Trương Định chống thực dân Pháp xâm lược. Ông Hòa là bộ đội tập kết, lên đến chức đại tá. Anh em ông, các con trai ông đều là liệt sĩ, chỉ để lại đứa cháu nội là thằng Thăng. Do sự cưng chiều và dựa cậy thần thế, thằng Thăng, cái hạt giống duy nhất của một gia đình yêu nước, trượng nghĩa, chưa đến tuổi mười lăm đã đua xe cán chết người, đã làm nát đời con gái người ta rồi tiếp đó là du nhập băng đảng xã hội đen, lao vào vòng đời thác loạn (trích lời phê bình của nhà văn Nguyễn Sĩ Đại).


Có thể nói chủ đề của tiểu thuyết Bụi đời (1990) lại được tiếp tục đào sâu thêm trong Cõi mê, với sự đề cập đến nguyên nhân và hậu quả của sự tha hóa và băng hoại trong xã hội, mang tính chất điều tra xã hội học, đi tiếp con đường của Nguyên Hồng trong Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Vũ Trọng Phụng trong Làm đĩ, Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô... nhưng được viết theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Có thể coi tám tác phẩm của Triệu Xuân như một kịch dài, với Những người mở đất là khai từ, Giấy trắng là màn một mâu thuẫn xung đột bắt đầu nổ ra và kịch tính ngày càng thêm gay gắt trong màn hai Đâu là lời phán xét cuối cùng, màn ba Nổi chìm trong dòng xoáy, màn tư Trả giá, và dần đi tới cao trào trong màn năm Sóng lừng, tiếp đó là hai màn vĩ thanh Bụi đờiCõi mê. Qua tám tác phẩm liên tiếp ra đời trong hơn hai mươi năm qua của Triệu Xuân, tác phẩm nào cũng được tái bản nhiều lần - chúng ta càng thêm cảm phục trước tâm huyết đối với đất nước, ý thức trách nhiệm và nghĩa khí công dân, tinh thần đấu tranh dũng cảm của một nhà văn cho chân lý, cho tiến bộ xã hội, ngay từ trước thời kỳ Đổi mới. Tác phẩm vừa có lượng thông tin cao của những luận chứng kinh tế - xã hội với tư liệu mới mẻ, cập nhật, dữ kiện phong phú, đa dạng, vốn sống đầy ắp, nội lực dồi dào, vừa có giá trị nghệ thuật hấp dẫn người đọc, nhiều đoạn trữ tình ngoại đề như những bài thơ văn xuôi ca ngợi con người, đất nước quê hương, ca ngợi niềm vui lao động. Đúng như lời giới thiệu của Website Văn nghệ Sông Cửu Long: “Cõi mê có tiết tấu nhanh, lối viết hiện đại, chất sống tươi rói và ngồn ngộn, tư liệu được dùng công phu, chính xác, tình yêu tình dục được xử lý hợp lôgích với từng loại nhân vật, văn chương trong sáng... đã thể hiện tấm lòng tác giả tha thiết với đời, hết lòng với sự nghiệp Đổi mới vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Tôi cũng rất tâm đắc với lời đánh giá của Ngô Vĩnh Bình: “Đọc Trả giá thấy cộm lên một cảm hứng phê phán, nhưng đó là giọng phê phán có phân tích, có lý lẽ của một người có phương pháp tư duy khoa học, thấu hiểu thế thái nhân tình, chứ không phải lối phê phán độc những lời giễu cợt kêu gào rễnh roãng”. Riêng tôi, người hân hạnh được đọc truyện dài Những người mở đất từ khi mới là bản thảo, thành công của Triệu Xuân qua những tiểu thuyết từ Những người mở đất đến Cõi mê là sự đền đáp lớn cho niềm kỳ vọng của tôi!


CÕI MÊ 
Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái


Tiểu thuyết Cõi mê tái hiện thân phận con người thuộc năm thế hệ của một gia đình Việt Nam trong thời gian hơn một trăm năm đầy biến động lịch sử. Cõi mê là bước tiến mới của nhà văn Triệu Xuân về nội dung, tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật, khi anh trực diện với vấn đề tha hóa của con người. Thông qua gia đình cụ Nguyễn, Triệu Xuân dựng lại bức tranh toàn cảnh vô cùng sinh động về hiện thực của đất nước hơn một trăm năm, từ khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh, nhất là trong hai cuộc kháng chiến từ năm 1945 cho đến khi hòa bình thống nhất, rồi khủng hoảng, tụt hậu, cuối cùng là thời kỳ đất nước Đổi mới. Đây là tác phẩm hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau thương, bi kịch cũng như niềm tự hào, vinh quang, là tác phẩm thấm đẫm lòng nhân ái.


Trên thế giới, loại tiểu thuyết viết về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc trong khoảng một thế kỷ không hiếm. Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez viết về một trăm năm của Colombia, châu Mỹ La Tinh, là một trong những tác phẩm hay nhất của loại tiểu thuyết gia đình. Ở Pháp, có bộ tiểu thuyết Gia đình Rougon Macquart của Émile Zola, gồm 20 quyển, được Gorki đánh giá là “bản hùng ca của sự xâu xé”. Nhà văn Đức Thomas Mann đã viết về gia đình Buddenbrook, phát triển và tàn tạ như thế nào qua bốn thế hệ. Cuốn Gia đình Forsyle của nhà văn Anh John Galsworthy là chuyện một thế gia vọng tộc Anh ở thế kỷ 19 và 20. Nhà văn Pháp, George Duhamel viết Biên niên sử của dòng họ Pasquier, gồm nhiều cuốn, mô tả cuộc đời thăng trầm của một gia đình trung lưu xuất thân là nông dân. Một nhà văn Pháp nữa là Roger Martin du Gard viết cuốn Dòng họ Thibault. Dòng họ này thuộc loại dân thành thị, sau khi gây dựng được một sản nghiệp đồ sộ, họ khéo léo gửi tiền vào một nơi chắc chắn để sinh lợi. Qua lịch sử một gia đình, tác giả đã phản ảnh nhân tình thế thái trong đại chiến thứ nhất 1914-1918. Tại Trung Quốc có tiểu thuyết Tứ đại đồng đường của nhà văn Lão Xá, viết về bốn thế hệ cùng sống trong một nhà. Cụ Kỳ đắng cay vất vả mấy chục năm kiếm tiền mua một cái nhà nhỏ ở hẻm Chuồng Dê thành phố Bắc Bình (nay là Bắc Kinh). Con trai Thiên Hựu mở sạp vải. Ba đứa cháu thì hai đứa đã có vợ, cháu thứ ba Thụy Toàn còn đang học cấp hai. Vợ chồng cháu trưởng Thụy Tuyên lại sinh cho cụ cháu trai và cháu gái gọi bằng cố. Khi phát xít Nhật xâm lược, con cả Thiên Hựu không chịu nổi sự làm nhục của kẻ thù, nhảy xuống sông tự vẫn. Thụy Toàn sống trong vùng tạm chiếm Bắc Bình không lâu liền trốn ra khỏi thành phố, sau lại lén về Bắc Bình triển khai cuộc chiến đấu bí mật, chính tay xử tử người yêu làm tay sai cho đặc vụ Nhật, rồi động viên anh cả tham gia chiến đấu bí mật. Chỉ có cháu thứ hai cụ Kỳ, Thụy Phong, không làm ăn chính đáng, chỉ lo ăn diện, tự tư tự lợi, sau trở thành Hán gian, cuối cùng bị giặc Nhật giết. Tác giả thông qua câu chuyện bốn thế hệ một gia đình, miêu tả quá trình biến hóa tư tưởng và từng trải trong đời sống trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Nhật của nhân dân trong vùng tạm chiếm Bắc Bình từ sợ hãi, cầu an đến giác ngộ, phản kháng.


Nếu tôi không lầm thì Cõi mê của nhà văn Triệu Xuân là cuốn tiểu thuyết gia đình đầu tiên của Việt Nam không chỉ viết về năm thế hệ của một gia đình sống chung một nhà, mà còn viết về bốn thế hệ của một gia đình khác - gia đình ông Hoàng- từ đó khái quát được dòng tiến triển của cả dân tộc trong hơn một trăm năm, từ khi thực dân Pháp xâm lược đến ngày nay. Nếu như trong các tiểu thuyết gia đình nước ngoài câu chuyện diễn tiến trong cùng một chế độ xã hội, thì trong Cõi mê, các nhân vật đã trải qua sáu chế độ xã hội: Thời cụ Nguyễn Công là Triều Nguyễn, thời cụ Nguyễn Quang Minh, con trai độc nhất của Nguyễn Công, là chế độ thực dân Pháp, tiếp đó là chế độ Cộng hòa Dân Chủ Việt Nam, rồi chế độ Pháp - Bảo Đại, chế độ Mỹ - Ngụy, cuối cùng là chế độ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


Trong các tiểu thuyết gia đình nước ngoài, câu chuyện xảy ra chủ yếu trong nội bộ dân tộc, nhưng trong Cõi mê, nhân vật phải tiếp xúc với người Pháp, người Mỹ, người Nga, người Trung Quốc, người Nhật, đủ mọi thái độ chính trị. Trong các tiểu thuyết gia đình nước ngoài, nhân vật chỉ thuộc vài giai cấp chủ yếu: tư sản, quý tộc, tiểu tư sản… nhưng trong Cõi mê có đủ loại người thuộc nhiều giai cấp xã hội: nho sĩ phong kiến, tiểu tư sản trung lưu, tư sản, công nhân, nông dân, tầng lớp lưu manh, mafia, bụi đời, đĩ điếm, những người cách mạng chân chính cũng như những cán bộ đảng viên bị tha hóa. Bao trùm và khái quát toàn bộ hiện tượng xã hội trong một thế kỷ không phải là chuyện dễ dàng, đòi hỏi tác giả phải có tư duy lịch sử sáng suốt và cảm quan lịch sử nhạy bén để theo kịp dòng chảy mạnh như vũ bão của đời sống hiện thực, để vừa thể hiện dòng đời, vừa quan tâm đến số phận từng cá nhân trong tập đoàn, điều mà trong nhiều tiểu thuyết gia đình nước ngoài thường bỏ qua.


Trong các tiểu thuyết gia đình của nước ngoài, sự xung đột về ý thức hệ thường chỉ là sự xung đột của ý thức tư hữu với với ý thức tự do dân chủ và vị tha, nhưng trong Cõi mê vừa có sự xung đột giữa ý thức cách mạng với ý thức phản cách mạng, mà ngay trong ý thức cách mạng cũng có sự xung đột: đổi mới, hành động phù hợp quy luật, phù hợp với yêu cầu tất yếu của lịch sử và một bên là nhân danh bảo vệ cách mạng nhưng thực chất là bảo thủ, trì trệ, cản đường lịch sử tiến lên.


Với thế hệ cụ Nguyễn Công, cha cụ Nguyễn Quang Minh, cách mạng là chiến đấu chống thực dân xâm lược Pháp và bè lũ Việt gian. Thế hệ cụ Nguyễn Quang Minh, cách mạng là giữ mình trong sạch, tin tưởng vào tiền đồ của cách mạng giải phóng dân tộc. Thế hệ các con cụ Nguyễn Quang Minh: Nguyễn Kỳ Dũng hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Nguyễn Kỳ Hòa tham gia chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ và bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội, về hưu với hàm Đại tá. Thế nhưng, trong giai đoạn cuối đời đã bị tha hóa. Nguyễn Kỳ Khoa sống tại Sài Gòn, trở thành một công chức, sau 1975 di cư ra nước ngoài, nhưng lòng vẫn luôn hướng về Tổ quốc.


Thế hệ các con Nguyễn Kỳ Hòa: Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Anh Trung chiến đấu trên chiến trường miền Nam trở thành liệt sĩ. Con gái út Phương Nam có nhan sắc, tâm hồn lãng mạn, cao cả, thông minh. Phương Nam mang trong mình những đức hạnh ưu việt của cha và mẹ. Cô được học hành đến nơi đến chốn, từ nước ngoài về, biết nhìn xa trông rộng, tiếp thu văn minh thế giới, suy nghĩ tìm biện pháp đi tắt đón đầu đưa đất nước tiến lên văn minh hiện đại.


Nguyễn Ngọc Bắc là con riêng của Nguyễn Kỳ Hòa với một nữ trí thức Hà Nội. Bắc mồ côi, do nghèo khổ, đã từng sa ngã hư hỏng, nhưng sớm tỉnh ngộ. Bắc quyết tâm làm lại cuộc đời, ham học hỏi, phát huy óc sáng tạo, hội nhập với thế giới, nhiệt tâm làm giàu cho đất nước, là con người giàu tình nghĩa, hiếu thảo, có tình yêu mãnh liệt và trong sáng...


Con trai ông Nguyễn Kỳ Khoa là Nguyễn Hùng Tâm không di cư theo cha mẹ mà ở lại thành phố Sài Gòn, chỉ vì yêu thành phố quê hương. Tâm ham ăn chơi nhưng nhạy cảm với thương trường, giỏi tính toán, quyết chí làm giàu, góp phần xây dựng đất nước, làm đẹp quê hương. Ngọc Bắc, Phương Nam cùng với Hùng Tâm là niềm tự hào chính đáng của gia đình cụ Nguyễn.


Chắt đích tôn của cụ Nguyễn tức là cháu đích tôn của ông Kỳ Hòa là Nguyễn Quốc Thăng, con của Nguyễn Anh Trung (đứa con được Nguyễn Kỳ Hòa đưa ra Bắc khi tập kết, sau hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam). Quốc Thăng được gia đình quá chiều chuộng đâm ra hư hỏng, trượt xuống đáy xã hội, trở thành lưu manh, bụi đời, làm tay chân cho trùm mafia. Thằng Thăng gây án, bị bắt, bọn mafia đầu độc giết chết thằng Thăng trong trại giam để bịt đầu mối.


Như vậy, vấn đề không chỉ là có giữ vững được truyền thống cách mạng hay không, mà là phải biết suy nghĩ để tiến bước vững vàng trong những thời kỳ cách mạng chuyển sang bước ngoặt. Do đó, diễn biến câu chuyện của Cõi mê không đơn tuyến như trong những tiểu thuyết gia đình nước ngoài (có trung thành với nếp sống tư hữu hay không) mà là phức tuyến, những tuyến này đan xen với nhau hết sức chằng chịt, phức tạp, xung đột gay gắt, đầy kịch tính, tạo thành cấu trúc mở.


Song song với gia đình cụ Nguyễn, bốn thế hệ trong gia đình ông Nguyễn Ngọc Hoàng, sống ở miền Bắc, vô Sài Gòn sau năm 1975, cũng có những diễn biến tương ứng. Bố của ông Hoàng là một nhà tư sản giàu có, nổi tiếng ăn chơi đàn hát. Hoàng đi theo cách mạng, trở thành Phó bí thư Tỉnh ủy phụ trách quân sự. Sau ngày giải phóng miền Bắc, Hoàng làm Phó chủ tịch phụ trách công nghiệp một thành phố lớn, rồi lên Thứ trưởng, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Biển, cuối cùng về hưu. Các con ông: Nguyễn Thành Đạt, giám đốc Công ty Dịch vụ biển, đầy tài năng, hợp tác làm ăn kinh tế với nước ngoài, do sơ hở trong quản lý, bị bọn xấu hãm hại, đi tù hai lần, cuối cùng được ân xá nhưng mắc bệnh tâm thần. Nguyễn Ánh Dương, giám đốc Công ty vật tư, cũng bị bọn xấu đánh, phải đi tù, sau được minh oan. Con gái Nguyễn Thành Đạt là Nguyễn Minh Thảo, sau khi du học nước ngoài, đỗ Thạc sĩ, trở thành Giám đốc điều hành khu Du lịch Công viên Văn hóa Dân tộc và Thể thao giải trí Ngọc Viễn Đông.


Hai gia đình này lại có những quan hệ chồng chéo với nhau: Do xin việc cho thằng Thăng không được, ông Hòa đã tìm cách trả thù ông Hoàng. Khi Hòa làm thanh tra chống tham nhũng, đã về hùa với bọn xấu, hãm hại Đạt và Dương. Thằng Thăng là người tình của Ngọc Tiên, bồ của ông Hoàng. Đạt con trai Hoàng là người yêu của Phương Nam, cô ruột thằng Thăng. Phương Nam từng yêu say mê Đạt, con ông Hoàng. Hai gia đình Kỳ Hòa và Ngọc Hoàng tưởng chừng là tử thù truyền kiếp của nhau, nếu không có mối tình tuyệt vời của hai đứa cháu nội ông Hòa và ông Hoàng là Ngọc Bắc và Minh Thảo. Ông Hòa cứ trượt dốc hoài trong cõi mê, phạm những sai lầm kinh khủng, kể cả tội lỗi, đến khi ngộ ra thì quỹ thời gian đã hết mất rồi! May phước cho ông còn có con trai là Ngọc Bắc. Ông Hòa chủ động làm hòa với ông Hoàng. Ông Hoàng độ lượng bao dung. Nguyễn Ngọc Bắc kết hôn với Minh Thảo... Đám cưới của họ tổ chức tại khu du lịch Văn hóa dân tộc Ngọc Viễn Đông như là biểu tượng tuyệt vời của tình yêu, lòng nhân ái, khát vọng tự do… đã chiến thắng sự vị kỷ, độc ác, độc tài, phi nhân…


Trong các tiểu thuyết gia đình nước ngoài, câu chuyện thường xảy ra ở một ngôi nhà, một thành phố hay một vùng quê nào đó. Trong Cõi mê, do hoàn cảnh chiến tranh, gia đình ly tán. Các nhân vật phải di chuyển đến những địa điểm khác nhau, không thông tin liên lạc được với nhau. Người ở lại đô thị miền Nam, người thì tập kết ra Bắc. Người ở hậu phương miền Bắc, người thì vô chiến trường miền Nam… Do đó đã xảy ra biết bao chuyện éo le. Ngọc Bắc con riêng ông Hòa, đi tìm cha, không biết Phương Nam là con gái út của ông Hòa. Nếu hai người yêu nhau, lấy nhau thì đã xảy ra chuyện loạn luân rồi! Đời sống đô thị sau năm 1975, nhất là thời mở cửa, kinh tế thị trường, làm cho người ta xa nhau, vô tình với nhau. Nhà ông Hòa và ông Hoàng rất gần nhau, đấu lưng với nhau mà họ không hề biết nhau, “đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ”. Phương Nam yêu Đạt, bị ông Hòa cấm đoán, trong khi Đạt lại bị chính ông Hòa đánh đến phải đi tù. Ai ngờ sau này, người anh cùng cha khác mẹ của Phương Nam lại yêu và kết duyên với con gái Đạt. Cụ Nguyễn Quang Minh làm thầy giáo nghèo, nhưng đến thời các con cháu cụ lại là những doanh nhân, tỷ phú. Cuối đời, cụ Nguyễn được sống trong ngôi nhà sang trọng, hiện đại mà trước thời đổi mới, trong mơ cụ cũng không tưởng tượng ra được. Ông Hòa ham tình dục đã đành, đến ông Hoàng suốt một đời đấu tranh gian khổ, tận tâm với sự nghiệp, cuối đời cũng đâm ra “háo ngọt”. Điều đó hoàn toàn có thể hiểu được! Freud từng khám phá ra: con người càng cố gắng ẩn giấu dục tình trong đáy sâu vô thức bao nhiêu thì dục tình càng phá phách nhân cách bấy nhiêu. Xuân Tóc Đỏ từ chỗ nhặt banh sân quần vợt, thoắt một cái thành ông đốc tờ, thành nhà thể thao có hạng, thành bậc vĩ nhân cứu quốc, thì thằng Thăng nghịch tử nghịch tôn, nhặt banh quần vợt, chỉ cần làm tay chân cho bọn mafia đã tiền bạc rủng rỉnh, đến nỗi cụ nó, ông bà nó cũng phải lác mắt. Ở một đất nước đói nghèo, lạc hậu, trải qua trăm năm nô lệ và ba mươi năm chiến tranh ác liệt như Việt Nam, chuyện gì cũng có thể xảy ra được!


Xử lý những mâu thuẫn chằng chịt như lần sợi chỉ Arianne và gỡ dần từng nút thắt một cách hợp lôgic, hợp nhân tình rồi cuộn lại hoàn chỉnh là một kỳ công! Chúng ta vui mừng thấy Triệu Xuân khá cao tay trong việc gỡ nút câu chuyện, cũng như giải bài toán thời đại trong giai đoạn đất nước đổi mới, tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Nhà văn Triệu Xuân nói về tác phẩm của mình: “Thông điệp tôi muốn gửi tới bạn đọc qua Cõi mê là: Thời Đổi mới, con người Việt Nam thật sự đối diện với, sống với Tự do, Dân chủ, những khái niệm xưa nay đã có, nhưng mỗi người hiểu và hưởng theo cấp độ khác nhau! Ngày nay, mỗi người chúng ta phải quý giá, nâng niu, phải đầy lòng tự trọng khi hưởng quyền tự do và dân chủ! Cõi mê là tiểu thuyết viết về sự tha hóa, thông qua việc phê phán con người tha hóa mà tôi ca ngợi con người nhân bản, nhân văn. Tha hóa từ xa xưa là thuộc tính của con người. Có tiến hóa thì tất phải có tha hóa và có tha hóa mới có tiến hóa! Tha hóa cùng với tình yêu là đề tài muôn thuở của văn học. Tôi phanh phui sự tha hóa với tất cả tấm lòng tha thiết với cái đẹp, tôi nâng niu trân trọng những ai vì dân vì nước, vì cuộc sống thanh bình của dân tộc, của nhân loại. Trong Cõi mê, tôi phê phán thẳng thừng và quyết liệt những kẻ quyền cao chức trọng mà tha hóa, những kẻ mang danh trí thức mà tha hóa, những nhà doanh nghiệp mượn gió bẻ măng, nhân thời Đổi mới - pháp luật đang còn nhập nhoạng - để chụp giựt, làm giàu bất chính, bằng mọi giá… Đồng thời tôi ca ngợi hết lời những cán bộ đảng viên, những trí thức, doanh nghiệp, những người dân bình thường, những người dưới đáy xã hội đã sống, làm việc lương thiện, nhân bản… Trong Cõi me, tôi cũng thẳng thắn cảnh báo rằng trong guồng máy quản lý Nhà nước, trong Đảng, có một bộ phận, một số cán bộ đảng viên tha hóa ghê gớm, nhưng tinh vi, có vỏ bọc chắc chắn, chưa bị lộ.


Như thế, muốn chống tham nhũng, muốn sự nghiệp Đổi mới thành công, muốn dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì phải kích hoạt ý thức dân tộc, lòng tự tôn dân tộc, phải trọng dụng người hiền tài, phải kiên quyết loại thải, cắt bỏ những kẻ đớn hèn, phi nhân cách như cắt bỏ khối ung thư, phải kích hoạt sức sáng tạo và trách nhiệm công dân. Trên hết, phải dùng hệ thống pháp luật để hạn chế, ngăn chặn sự tha hóa về nhân cách, nhất là trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên quản lý đất nước!


Trong Cõi mê, có hai nhân vật ám ảnh tôi suốt đời nếu tôi không thể hiện được trong tác phẩm. Thứ nhất là ông Hoàng. Đó là tiêu biểu cho những con người trải qua hai cuộc kháng chiến, tài năng, sung sức, vô cùng nhiệt tâm với sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thế nhưng, Hoàng suốt đời không bao giờ được phát huy tối đa thế mạnh tài năng và tâm huyết của mình! Hoàng khổ vì có trí tuệ và tình cảm. Hoàng là típ người mà nếu không được làm việc, không được cống hiến cho nhân dân thì thà chết cho rồi! Trong xã hội ta hiện nay có biết bao nhiêu người như Hoàng. Giá gì những người ấy được trọng dụng, được chắp cánh, thì chắc chắn dân sẽ giàu, nước sẽ mạnh! Nhân vật thứ hai mà tôi rất cưng là Ngọc Bắc. Ngọc Bắc là con của một bác sỹ giỏi tại chiến trường, đã hy sinh sau ngày giải phóng khi cứu dân ở vùng A Sầu A Lưới. Cha dượng của Bắc là một trí thức từ thành Huế lên chiến khu, bị nhiễm chất độc hóa học, sau giải phóng sống khổ sở rồi chết thảm hại. Bắc côi cút phải tìm về Hà Nội sống với ông bà ngoại. Rồi, vì sỹ diện, Bắc lao vào kiếm sống bằng mọi giá, từng bị tù tội vì tội ăn cắp. Thế mà… Do thời thế thay đổi, Bắc ý thức được chí làm trai, đã tự học tiếng Anh, tự học lái xe, học đại học… Nhờ kiếm được chân chạy taxi tại khách sạn Metropol mà quen biết với một doanh nhân nước ngoài… Cơ duyên đến với anh, Bắc trở thành người môi giới mua và thuê máy bay cho hãng hàng không quốc gia thời Việt Nam còn bị cấm vận… Rồi Bắc trở thành một doanh nhân cỡ bự, giỏi tiếp thu khoa học quản lý, biết hòa nhập với thế giới, làm được những chuyện mà thời bao cấp có mơ cũng chẳng dám! Ngọc Bắc là hiện thân của giới doanh nhân, trí thức trẻ của Việt Nam tận dụng được thời cơ mà phất lên một cách chân chính. Đó là nhờ công cuộc Đổi mới do Đảng lãnh đạo. Khi Ngọc Bắc gặp Minh Thảo, cặp trai tài gái sắc này trở thành điển hình của tuổi trẻ Việt Nam ham sáng tạo, ham học hỏi, sống lành mạnh. Họ là điển hình của lớp doanh nhân mới, cũng là điển hình của tình yêu đôi lứa Việt Nam, thời kinh tế thị trường mà vẫn giữ được vẻ đẹp trong sáng, thủy chung; niềm khát khao tình dục vô cùng mãnh liệt nhưng rất đẹp và vô cùng lành mạnh”.


Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez là một mẫu mực thành công về việc mượn lịch sử một gia tộc để phản ảnh lịch sử, thành tấm gương chiết xạ hình ảnh rút gọn của châu Mỹ La Tinh. Một trong những nhân vật chính là đại tá Buendia đã tham gia cuộc nội chiến, phát động 36 cuộc khởi nghĩa vũ trang, cùng 17 tình nhân sinh 17 đứa con, trong một đêm bị thảm sát, diệt vong. Đại tá Hòa ở Cõi mê, đã tham gia đánh Pháp, đánh Mỹ, có hai bà vợ, một người tình, có bốn con đẻ và một con riêng, trong đó có bốn người con và cháu hy sinh trong chiến tranh. Khi được hỏi nguyên nhân sự cô đơn của gia đình Buenđia trong Trăm năm cô đơn là do đâu, Marquez trả lời: “Tôi nghĩ rằng do thiếu tình yêu. Buenđia không có khả năng để yêu - chính ở đây chứa đựng sự cô đơn và bất hạnh của ông. Đối với tôi tình cảm cô đơn hoàn toàn đối lập với tình đoàn kết”. Gia đình Nguyễn Kỳ Hòa cũng ham mê nhục dục như gia đình Buenđia, nhưng không đến nỗi diệt vong, chính vì tình yêu của Kỳ Hòa với hai người vợ, một người tình là Thanh Lịch, Hải Yến và Việt; tình yêu của Trung với Thiên Trang, tình yêu của Phương Nam với Đạt rồi sau là Nghĩa. Tình yêu của Ngọc Bắc với Minh Thảo đã cứu cả gia đình này. Trong hơn một trăm năm qua, dân tộc ta đã bao lần đoàn kết với nhau để đánh giặc và xây dựng đất nước. Ngay sau ngày giải phóng, ông Khoa là em trai ông Hòa đã ra nước ngoài định cư nhưng vẫn giữ vẹn tình yêu quê hương, dân tộc. Con ông Khoa là Hùng Tâm kiên quyết ở lại Sài Gòn, đoàn kết với toàn dân để xây dựng đất nước. Gia đình không tan vỡ, gia đình là tế bào của xã hội. Trong Cõi mê, hơn một trăm năm qua, dù có lúc mất nước, đau thương, nhưng dân tộc ta không cô đơn là nhờ sống trong tình đoàn kết đồng bào đồng chí. Người Việt Nam còn được bạn bè quốc tế chia sẻ, ủng hộ, đạt được thành công chưa từng có trong lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc.


Khi được hỏi về vấn đề thể hiện tình dục trong Cõi mê, Triệu Xuân trả lời: “Tình dục muôn đời vẫn là niềm khát khao mãnh liệt và vô cùng chính đáng của con người. Nếu ai phản bác điều đó thì một là đồ mộc thạch (gỗ đá, nói như các cụ) và hai là… đạo đức giả. Phàm là những cái gì chân chính mà con người khao khát thì không xa lạ đối với tôi. Tôi chỉ viết về sinh hoạt tình dục theo đúng tính cách nhân vật, nhân vật tha hóa thì sinh hoạt tình dục trụy lạc, nhân vật tiến hóa thì sinh hoạt tình dục mãnh liệt mà cao đẹp, lành mạnh. Nhân vật mà tôi cho là biểu tượng của tuổi trẻ Việt Nam thời nay thì yêu đương theo cách tuyệt vời như Ngọc Bắc và Minh Thảo. Tôi không kích dục! Với người bình thường, lành mạnh, đã dục thì việc gì phải kích! Chỉ có những kẻ bệnh hoạn mới phải coi phim con heo! Cần phải hiểu tình dục theo con mắt nhà khoa học. Có nhiều bạn đọc Cõi mê viết thư hoặc trực tiếp khen tôi là: Viết bạo lắm, bạo hơn cả Mạc Ngôn và Máckét, nhưng rất hợp logic và tính cách nhân vật. Tôi không bao giờ dám so sánh mình với ai. Tôi là tôi, tôi viết với tất cả dũng khí và với tất cả tấm lòng.


Đã là con người thì phải sống cho đáng con người. Đam mê nhục dục mà không trụy lạc, không phạm thuần phong mỹ tục, không phạm pháp, không phương hại đến bầy đàn, không phương hại đến xã hội, không phá vỡ hạnh phúc của người khác thì… đâu có chết thằng Tây nào!”.


Trăm năm cô đơn của Marquez đã phân biệt tình dục tiến hóathoái hóa: Tính ham mê nhục dục của cha con nhà Buenđia làm cho dòng họ thêm đông đúc, nhân khẩu trấn Macondo tăng vọt, con đẻ, con riêng, con nuôi tiếp nối sinh sôi nẩy nở không ngừng, ngay cả đàn gia súc họ nuôi cũng dồi dào hưng vượng. Chỉ có loạn luân mới sinh con quái thai, làm cho dòng họ tuyệt diệt, thị trấn biến mất. Theo tôi, nhu cầu sinh lý thuộc về bản năng sinh tồn của loài người, cần phải đối đãi với nó một cách khoa học, thực sự cầu thị. Rainer Maria Rilke viết: “Khoái cảm nhục thể là một kinh nghiệm của đời sống giác quan không khác thị giác thuần túy hay vị giác thuần túy mà một trái cây tươi đẹp rưới đầy đầu lưỡi ta, đó là một kinh nghiệm vĩ đại, không cùng, hiến dâng cho chúng ta, một sự hiểu biết về thế giới, sự tràn đầy và huy hoàng của tất cả sự hiểu biết. Và không phải sự chấp nhận nó của chúng ta xấu xa, điều xấu xa là đa số lạm dụng và phung phí kinh nghiệm này và dùng nó như một kích thích trong những lúc mệt mỏi của cuộc đời họ và như một trò giải trí thay vì một cuộc tập trung hướng về những khoảnh khắc xuất thần (…) Ôi! Ước gì con người có thể cung kính hơn đối với sự phong phú của hắn, sự phong phú này là một mặc dù nó có thể là tinh thần hay vật chất, bởi sự sáng tạo tinh thần cũng xuất phát từ vật chất đồng một bản chất với nó và chỉ như sự lặp lại khoái cảm vật chất một cách dịu dàng hơn, xuất thần hơn, và trường cửu hơn thôi. Cảm thức mình là kẻ sáng tạo, có thể sinh sản, tạo tác không là gì cả nếu không có sự chuẩn nhận và thể hiện vĩ đại thường trực trên thế giới, không là gì cả nếu không có sự phối hợp muôn ngàn sự vật và thú vật – và sự hân hưởng khả tính đó đẹp đẽ và phong phú vô tả chỉ bởi nó chứa đựng những kỷ niệm thừa kế về thai nghén và sinh đẻ của muôn triệu người. Trong một tư tưởng sáng tạo một ngàn đêm ân ái lãng quên, phục sinh và làm chan hòa tư tưởng ấy với vẻ siêu phàm và xuất thần ngây ngất…”.


Nhà văn Anh D. H. Lawrence trong Người tình của bà Chatterley nhấn mạnh mối liên hệ nội tại giữa tính dục và văn minh công nghiệp, nhân tính lành mạnh, tiến hành sự thăm dò táo bạo và miêu tả triệt để. Lawrence thông qua Người tình của bà Chatterley nói với mọi người: tính dục hoàn mỹ vừa là nguồn suối của sinh mệnh, vừa là sự vật duy nhất đáng tôn sùng trên “đồng hoang” hiện đại, nó tượng trưng cho sự sống lại của sinh mệnh và sự trở về của nhân tính. Ông đạt tới cao độ nghệ thuật khi diễn tả xung đột giữa lương tâm có ý thức và những sức thúc đẩy thầm kín, áp bức luôn luôn hoạt động trong tiềm thức con người. Ông cho thấy tầm quan trọng của những vấn đề tình dục trong đời sống tâm lý và mối quan hệ giữa con người. Ông viết: “Tôn giáo của tôi là niềm tin vào máu, vào thịt, vì máu và thịt khôn ngoan hơn trí não. Tất cả cái tôi đang cần là trả lời trực tiếp cho máu của tôi, không hề có sự can thiệp vớ vẩn của trí não hay cái gì khác nữa. Tôi quan niệm thân xác đàn ông như một loại lửa, giống một cây nến, luôn luôn đứng thẳng và chảy giọt, còn trí não thì đúng như ngọn lửa đang tỏa ánh sáng vào những vật chung quanh”. Bóng tối mà ông bí ẩn nói đến là bóng tối nội tâm của vô thức, giếng sâu của đời sống bản năng. Năm 1928, chính phủ Anh cho Người tình của bà Chatterleydâm thư bị cấm phát hành. Năm 1960, chính phủ Anh đã thu hồi lệnh cấm này!


Thiết tưởng nay là năm 2006, chúng ta không thể ấu trĩ như năm 1936, khi nhiều báo lên án tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là dâm thư. Từ sau 1954, tác phẩm Vũ Trọng Phụng lại không được nhắc đến một thời gian dài, mãi đến thời kỳ Đổi mới mới được in lại. Những năm 60 của thế kỷ 20, người ta lên án những cuốn tiểu thuyết Mở hầm của Nguyễn Dậu, Sương tan của Hoàng Tiến vì có miêu tả những cảnh làm tình, nhưng lập lờ gán cho nó cái tội là “tự nhiên chủ nghĩa”- trong khi chủ nghĩa tự nhiên lại miêu tả chi tiết hiện thực với tinh thần khoa học thực nghiệm! Cõi mê không hề nhằm mục đích kích dục mà là thông qua sinh hoạt tình dục lành mạnh cũng như nhục dục thấp hèn để khắc họa sinh động tính cách, tâm lý nhân vật và thể hiện những băn khoăn đích thực về vấn đề bản tính con người.


Cõi mê ngồn ngộn chất liệu đắt giá của đời sống, chứng tỏ nội lực của tác giả khá thâm hậu. Triệu Xuân chọn một cách thể hiện dung dị, tiết tấu nhanh, nhiều hình ảnh, hành động đầy tính kịch. Trong xã hội ta hơn một trăm năm qua đã xảy ra biết bao nhiêu chuyện thần kỳ, nhiều tình tiết éo le ly kỳ mà thông thường không sao tưởng tượng nổi. Triệu Xuân không cần đến phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo hay thủ pháp đảo ngược thời gian… Anh vẫn viết theo phương pháp của mình: hiện thực phê phán.


Gabriel Garcia Marquez viết: “Các nước Caribes không thuần túy là một khái niệm địa lý và là một vùng đất thuần dạng về văn hóa. Ở đây những yếu tố tín ngưỡng nguyên thủy địa phương và tục thờ cúng các thế lực huyền bí - có từ thời châu Mỹ chưa được người Âu phát hiện - hòa lẫn với các yếu tố của nhiều nền văn hóa khác nhau, kết quả là tạo nên một thể hỗn dung huyền ảo mà sức mạnh và hiệu năng sáng tạo là vô tận. Ở ngã tư này của thế giới, cảm giác tự do vô hạn được rèn đúc, cái thực được bén rễ sâu, không thần thánh, luật lệ nào cai quản nổi. Ở đây mọi người dân đều cảm thấy mình có thể làm được tất cả nếu muốn, không có bất cứ sự hạn chế nào. Một người có thể tối đi ngủ còn là kẻ cướp, sáng ngủ dậy đã là vua, những tay khổ sai vượt ngục biến thành đô đốc, những ả gái điếm - thành tỉnh trưởng và ngược lại”.


Nếu theo Marquez: “Bản thân thực tại đã huyền ảo” thì trong một trăm năm qua theo Graham Greenne: “Thế giới đã biến đổi sâu sắc, hoàn toàn khác hẳn”. Nếu Tản Đà từng viết: “Trăm năm thì ngắn, một ngày dài ghê”, thì Tsingghiz Aimatov cũng viết: “Một ngày dài hơn thế kỷ”. Trong Cõi mê đúng là có khi một ngày dài hơn thế kỷ, khi cụ Nguyễn Quang Minh nhìn lại cuối cuộc đời hơn trăm năm của mình, đứa chắt nội phản bội lại truyền thống gia đình. Ông Hòa, ông Hoàng, từng đắm chìm trong cõi mê, chạy theo ham hố bản năng, trải qua biết bao lần một ngày dài hơn thế kỷ, cuối đời mới ngộ ra thì quá trễ rồi! Quỹ thời gian cạn rồi! Đạt, Dương, Hùng Tâm, Phương Nam, Ngọc Bắc, Minh Thảo đều đã phải trải qua một ngày dài hơn một thế kỷ để chọn con đường đi quyết định số phận cả đời mình. Trên tinh thần đó, Cõi me là tiếng chào mừng, tôn vinh Con Người qua suy nghĩ, đấu tranh nhằm thoát khỏi cõi me trong hơn trăm năm qua để trở về cõi thực - nơi tình yêu, lòng nhân ái nở hoa và bừng sáng!


Nhà văn Hoài Anh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9-2006.


Nguồn: Rút từ tác phẩm Xác và hồn của tiểu thuyết. 650 trang. Nhà xuất bản Văn học. 2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »