tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20527197
25.10.2008
Phan Quang
Thiếp Lam Đình

Khen rằng bút pháp đã tinh


So vào với thiếp Lan Đình nào thua


(Kiều)


Tôi quen ông Lý Mạch Dực đã lâu. Mỗi lần tôi có dịp ghé Quảng Châu, thế nào ông cũng sắp xếp để gặp gỡ và cùng nhau trò chuyện. Có những lần ông đãi đằng trọng thể và cũng không ít lần một số bạn bè thân thiết cùng nhau gặm chân vịt và “nâng lên đặt xuống” ở cái căng tin nằm ngay trong khuôn viên tòa báo, cơ quan của đảng bộ tỉnh Quảng Đông. Thế mà mãi gần đây tôi mới biết ông không chỉ là nhà báo, nhà văn, giảng viên đại học mà còn là một nhà thư pháp có hạng.


Ông Lý nổi tiếng trong giới tân văn toàn Trung Quốc bởi ông là người lãnh đạo tập đoàn Nam Phương nhật báo tỉnh Quảng Đông, đồng thời là Phó Chủ tịch Hiệp hội tân văn ký giả (Hội nhà báo) toàn Trung Hoa. Tỉnh Quảng Đông, như mọi người biết, là nơi đi đầu trong cải cách mở cửa. Vốn là nơi gần gũi Hồng Kông về mặt địa lý, những thành tựu tỉnh này gặt hái được mấy chục năm gần đây có tác dụng cổ vũ và nêu gương cho các địa phương khác toàn Trung Hoa, kể cả Bắc Kinh và Thượng Hải. Tập đoàn báo chí Nam Phương nhật báo - lấy báo Nam Phương, cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Đông làm nòng cốt - do Lý Mạnh Dực làm Chủ tịch, cùng với tập đoàn Dương Thành vãn báo - tên tờ báo ra buổi chiều, cơ quan của Thành ủy Quảng Châu - tập hợp các báo chí trong toàn tỉnh dưới hai tổ chức, tạo thành hai quả đấm mạnh có nguồn lực hùng hậu, có sức cạnh tranh lớn, hiệu quả kinh tế và xã hội đều cao hơn so với thời gian trước.


Từ kinh nghiệm ấy, năm 1999 Trung ương cho phép thành lập thêm hai tập đoàn báo chí nữa ở Thượng Hải và Bắc Kinh, vẫn coi là làm thí điểm, ít lâu sau nữa mới mở rộng ra một số tỉnh và thành phố khác hội đủ điều kiện, rồi lan đến ngành phát thanh - truyền hình vốn cực kỳ hùng hậu và mang tính tập trung cao từ trước.


Với trọng trách lớn, đủ rõ ông Lý bận rộn thế nào, vậy mà ông vẫn có thời giờ viết văn, có tác phẩm tốt, được kết nạp làm hội viên Hội nhà văn toàn Trung Hoa. Lại còn có thời giờ trau dồi nét bút lông... Lần ấy, thấy tôi mải ngắm nghía bức thư pháp lớn chiếm gần hết mảng tường chính của phòng đại sảnh khách sạn Bạch Thiên Nga, người bạn dẫn đường hỏi nhỏ: “Có vẻ ông thích thư pháp Trung Hoa. Chắc ông hiểu bài thơ kia?”


Tôi cười:


- Tôi thích thư pháp. Như xưa nay tôi vẫn thích tranh trừu tượng...


- Ông chưa biết nhỉ - người bạn nói tiếp - Anh Lý hôm nay phấn chấn lắm, cho nên mời cánh ta đến đây. Anh ấy vừa khoe mua được một bộ sách hiếm, tổng quát lịch sử thư pháp Trung Hoa tự cổ chí kim. Giá hơn một vạn tệ (khoảng một ngàn hai trăm đô la Mỹ), mà có phải ai có tiền cũng có thể mua được đâu. Lý mua được vì anh ấy là hội viên kỳ cựu của Hội các nhà thư pháp Trung Hoa, và bút pháp của anh khá đặc sắc.


Ôi cái chuyện thư pháp, tôi đâu có dám là người đua đòi, bởi biết mình kém cỏi về học vấn và tiền tài. Không hiểu sao tính lại thích ngắm nhìn. Hồi còn rất bé, được cha cho theo thầy đồ học dăm chữ của thánh hiền (để đỡ lê la nghịch đất, nghịch cát ngoài vườn), viết chữ to chưa thẳng nét sổ, tôi đã say sưa ngắm các bức đại tự trong đình, chùa. Một đam mê khó lý giải. Trong đầu óc thơ ngây của tôi, mỗi chữ kia chắc đều có nghĩa có hồn. Thật ra chưa thể coi đấy là thư pháp, mà chỉ là “chữ tốt” mà thôi. Các bức thư pháp đích thực sau này được nhìn thấy ở Trung Hoa, Đài Bắc, Nhật Bản hoặc Hàn Quốc, tôi càng thấy rõ nó không chỉ đẹp về mặt tạo hình, mà sự hấp dẫn chủ yếu của nó có lẽ ở cái thần huyền bí tàng ẩn đằng sau từng ngữ nghĩa, từng nét mực đậm nhạt chăng.


Một điều làm tôi ngạc nhiên nữa là khi có dịp sang châu Âu, tôi nhận ra thư pháp ngày nay được các nhà văn hóa bên Tây thích lắm. Có bao nhiêu công trình nghiên cứu chuyên sâu về thư pháp Trung Hoa, đồng thời báo chí phổ thông cũng thường xuyên có bài đề cập. Một nhà thơ đồng thời là nhà thư pháp gốc Trung Quốc sống ở Paris, Francois Cheng, vừa được Viện Hàn lâm Văn học Pháp bầu làm viện sĩ. Đó là nhà văn người châu Á đầu tiên giành được một chiếc ghế bành trong cái điện văn chương già hơn ba trăm năm mươi năm tuổi này.


Trong nền văn hóa Trung Hoa với chiều dày ba, bốn nghìn năm lịch sử và vô cùng phong phú, ít có hiện tượng độc đáo như thư pháp. Thư pháp ra đời cùng với văn tự nhưng nó có đời sống riêng. Thực tình trên thế giới dân tộc nào đã có chữ mà chẳng quan tâm cải tiến, nâng cao tính thẩm mỹ của văn tự mình, song không đâu giống như ở Trung Hoa. Các nhà nghiên cứu Đông Tây đều nhất trí rằng thư pháp đã ghi một dấu ấn sâu sắc vào tất cả mọi biểu hiện nghệ thuật của văn hóa Trung Hoa, đặc biệt rõ rệt ở hội họa. Thư pháp hiện diện trong đời sống dân tộc Trung Hoa từ thượng cổ tới nay, tính từ khi xuất hiện chữ viết trên mui rùa, khắc lên bia đá nhiều nghìn năm về trước cho đến các tranh áp phích và biển quảng cáo thương mại đầy rẫy trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay. Hầu như phần lớn những người thuộc các tầng lớp thượng lưu chính trị, trí tuệ và xã hội Trung Hoa tự cổ chí kim - từ hoàng đế, chính khách, tướng lĩnh, cho đến thi nhân, đạo sĩ, thiền sư... chẳng mấy ai ít quan tâm rèn luyện và thực hành thư pháp, coi đấy không chỉ là phương tiện thể hiện cảm thụ nghệ thuật mà còn là một dấu hiệu của sự thành đạt và độ uyên thâm; là cơ hội để thi thố tài năng sở đắc và giao lưu với đại chúng lúc bình sinh và biết đâu chẳng lưu danh hậu thế.


Chủ tịch Mao Trạch Đông là một thí dụ. Chúng ta biết Chủ tịch Mao cũng như không ít vị lãnh tụ của nước Trung Hoa đương đại là những nhà chính trị lừng lẫy, đồng thời lại có danh tiếng và tài năng đích thực trong các trường thư pháp thế kỷ hai mươi. Một nhà Trung Hoa học phương Tây, rất khách quan, nhận định: “Mặc dù thiếu điều kiện để kinh qua sự đào tạo uyên thâm, thư pháp của Mao Trạch Đông không vì vậy mà kém chói ngời cá tính sáng tạo độc đáo”.


*


*     *


Còn nhớ một chuyến chúng tôi sang Bắc Kinh, cách đây đã lâu. Sau khi tham quan cố cung, lúc đi đến cổng xuất, tức là chuẩn bị ra bãi đỗ xe, tôi chợt nhìn thấy một số du khách khá đông xếp hàng trật tự, mỗi người tay cầm một cái tích kê. Có nhiều khách Tây ăn vận áo quần thể thao thoải mái, lại có những ông Nhật Bản hay Hàn Quốc comlê cà vạt nghiêm chỉnh, kiên nhẫn chờ đến lượt mình. Tôi chen vào ngó nghiêng cho biết chuyện gì. Thấy một cụ già, khoác chiếc áo bông xanh cũ kỹ, đang thực hành thư pháp. Ông cặm cụi làm việc, không chuyện trò, trao đổi với bất kỳ ai. Đơn giản có thế thôi. Một cảnh chẳng có gì lạ lẫm, trên các đường phố nước Trung Hoa.


Xe chuyển bánh, người phiên dịch nói: “Các vị có biết người nào đang cho chữ kia không? - Đích thân Hoàng đệ Phổ Kiệt em trai vua Phổ Nghi, vị Hoàng đế cuối cùng của nước Trung Hoa đấy. Cụ là một trong những nhà thư pháp nổi tiếng ở nước chúng tôi hiện nay”.


Tôi giật mình, tiếc rẻ: “Vậy ta có thể xin, hoặc mua, một bức của vị Hoàng đệ ấy hay không?”


Ông bạn đáp:


- Dĩ nhiên ai cũng có thể. Nhưng ông thấy đấy, chương trình của đoàn ta sít sao lắm, hôm nay mà xếp hàng chờ đợi, chắc không đủ thời giờ. Và cái quan trọng là ông phải “nghĩ ra chữ”, ông định xin cụ nội dung gì. Tốt hơn là cho chúng tôi biết, chúng tôi cố gắng thu xếp, nếu lần này không kịp thì sẽ xin gửi sang Việt Nam sau.


Bạn muốn vui lòng khách thì nói vậy, chứ làm sao tôi kịp “nghĩ ra chữ” lúc này. Lại nữa, xa xôi diệu vợi, ai lại dám phiền bạn đến thế. Thôi đành hy vọng lần sau. Lần sau đến Bắc Kinh, riêng tôi đâu có quên việc xin chữ “ông đồ già” đặc biệt của tôi, nhưng được biết cụ Phổ Kiệt đang dưỡng bệnh, đã lâu rồi không thấy nhà thư pháp xuất hiện trước công chúng. Lần sau nữa, thì vị cựu Hoàng đệ vừa mới qua đời do tuổi cao...


Tôi kể câu chuyện ấy cho Lý Mạnh Dực nghe. Ông nói, đúng như vậy. Phổ Kiệt là một trong những nhà thư pháp Trung Hoa nổi tiếng thuộc thế hệ cuối cùng trước ngày thành lập Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, xuất hiện thế hệ thư gia mới, có nhiều cây bút lông xuất sắc... “ Ấy, - Lý Mạnh Dực nói thêm - Chủ tịch Hiệp hội tân văn ký giả Trung Hoa Triệu Hoa Trạch, mà anh quen biết, cũng là một tay thư pháp có hạng đấy...”


Tôi từng nghe bạn bè ngợi khen nét bút ông Triệu. Dịp Đại hội lần thứ VII của Hội nhà báo Việt Nam, ông Triệu không sang Hà Nội dự được, có gửi đoàn đại biểu Hội nhà báo Trung Quốc mang tặng Đại hội của giới tân văn ta một bức liễn, tự tay ông viết ba từ Bút Truyền Tình khá tài hoa. Ông còn nhờ một người bạn chung thành viên trong đoàn, nhắn với tôi: Ong có dành riêng cho tôi một bức, sẽ trao tận tay, lúc nào tôi sang lại Bắc Kinh...


Tôi đã nhìn thấy nét chữ ông Chủ tịch họ Triệu. “Thế còn ông Phó Chủ tịch Hồ Hân Hoa thì sao?” - tôi hỏi anh Lý.


Lý Mạnh Dực có vẻ suy nghĩ: “Hình như không. Theo chỗ tôi biết, anh Hồ không chơi môn nghệ thuật này. Anh ta say mê lĩnh vực khác...”


Tôi hỏi vậy vì đối với Hồ Hân Hoa, tôi cũng có một kỷ niệm riêng liên quan đến chữ nghĩa. Anh Hồ là người lãnh đạo Hội tân văn ký giả thành phố Thiên Tân, một trong ba thành phố lớn trực thuộc chính quyền Trung ương (chưa tính Trùng Khánh, mãi sau này mới tách khỏi tỉnh Tứ Xuyên). Anh đã có lần dẫn đầu một đoàn nhà báo Trung Quốc sang thăm Việt Nam, với tư cách Phó Chủ tịch Hiệp hội toàn quốc. Rời Hà Nội, anh thiết tha nhắc đi nhắc lại lời mời các đồng nghiệp Việt Nam, lần tới nếu đến Bắc Kinh, không thể không ghé thăm thành phố anh. “Thiên Tân gần thủ đô Bắc Kinh lắm. Có một giờ xe lửa thôi mà” - anh Hồ nói vậy.


Thiên Tân đúng là một địa danh nhiều người biết tiếng trong lịch sử Trung Quốc đương đại. Đấy là nơi triều đình nhà Thanh ký với liên quân nước ngoài hòa ước bất bình đẳng. Thiên Tân còn nổi tiếng với trường Đại học Nam Khai, nơi Thủ tướng Chu An Lai từng theo học và hoạt động trong giới sinh viên thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất... Riêng với anh Hồ là người phụ trách ngành phát thanh - truyền hình khá hiện đại của thành phố, tôi biết trong thâm tâm anh còn có một niềm tự hào khác muốn phô với bạn bè. Đó là Tháp truyền hình Thiên Tân cao hơn bốn trăm mét, đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau có tháp Ostankino của Nga và tháp Toronto bên Canada, trước khi bị tháp Ngọc sáng Phương Đông của Thượng Hải xây dựng sau gạt xuống hàng thứ tư. Nhưng đấy là tháp truyền hình lớn được kiến thiết đầu tiên trong cả nước bằng vốn tự có của ngành và với công nghệ Trung Quốc; trong thành tích ấy có phần đóng góp quan trọng của họ Hồ...


Lúc chia tay ở Thiên Tân, nhác thấy cô nhân viên khệ nệ bưng ra một cái hộp dẹp bọc giấy bóng, tôi đã bắt đầu ngại ngùng nghĩ đến... trọng lượng của tặng phẩm. Hồ Hân Hoa chắc hiểu ý, tủm tỉm cười, nói ngắn gọn. Đây là một vật kỷ niệm nhỏ nói lên một nét tương đồng sâu xa về văn hóa giữa hai nước Trung - Việt chúng ta. Anh chậm rãi bóc lần giấy bọc, trân trọng mở chiếc hộp bìa cứng có trang trí hoa văn rất đẹp, lấy ra một súc gỗ sang trọng có gắn tấm biển đồng; mặt biển khắc toàn chữ Hán và chi chít dấu triện son: “Đây là tấm thiếp Lan Đình, đúng nét chữ của Vương Hy Chi đời Tấn, cách ta một ngàn bảy trăm năm mươi năm...” - Hồ Hân Hoa trang nghiêm giới thiệu.


Tôi đỡ lấy, và buột miệng một câu ngây ngô: “Sao lắm dấu đỏ thế này?” Hồ cười: “Để chứng minh rằng đây là bản chính, chứ không phải là bản ngụy tạo, người đời sau bắt chước”.


Người Việt Nam ta mấy ai không biết hai câu Hoạn Thư đánh giá nét chữ Thúy Kiều, khen người tình địch mà cố tình nói với đức ông chồng: “Khen rằng bút pháp đã tinh - So vào với thiếp Lan Đình nào thua”. Cụ Đào Duy Anh trong Từ điển truyện Kiều giải thích: “Lan Đình là bài tựa một tập thơ do Vương Hy Chi đời Tấn viết ở Lan Đình, đời sau truyền làm chữ tốt kiểu mẫu”. Giáo sư Nguyễn Thạch Giang hiệu đính và chú thích Truyện Kiều, còn cặn kẽ hơn: “...Năm Vĩnh Hòa (niên hiệu Tấn Mục đế ) thứ chín, tức vào năm Quý Sửu (253 năm sau Công nguyên) ngày mùng ba tháng ba, họ Vương cùng các hiền nhân danh sĩ đương thời hội tại Lan Đình huyện Sơn Ân đất Cối Kê tỉnh Chiết Giang... Vương Hy Chi có bài tự  tập Lan Đình nổi tiếng. Họ Vương dùng giấy kén, bút lông chuột, chính tay viết bài tự đó thành hai mươi tám hàng, ba trăm hai mươi bốn chữ với một thể đặc biệt, đẹp vô song...”


Thì ra “chữ tốt kiểu mẫu” và “thể đẹp vô song” mà người xưa người nay ca ngợi là thế này đây. Chữ viết chân phương, cho nên dù trong lúc vội vàng vẫn có thể nhận ra đầu đề Lan Đình tự, tên tác giả Vương Hy Chi, và cái niên hiệu: “Vĩnh Hòa cửu niên...” Hẳn nhà thư pháp hơn một ngàn bảy trăm năm trước đã phóng bút viết bài tựa luôn một mạch, vì tôi thấy có mấy chữ bị xóa đi, mà bản khắc đồng vẫn để nguyên như vậy.


Chủ tịch Triệu Hoa Trạch giữ đúng lời hứa. Lần tôi sang Bắc Kinh gần đây, ông trao tặng tận tay bức thư pháp đã làm từ trước. Ông giảng giải: “Chữ tặng bạn phải thực hiện lúc tâm trí nhà thư pháp thảnh thơi, đầu óc không vướng bận chuyện đời, lòng hướng về bằng hữu... Học tập cổ nhân, tôi chuẩn bị sẵn, nhỡ anh sang Bắc Kinh vào lúc mình lúi búi công việc, lúc ấy mới dở ra làm thì mất hay...”


Ông tặng tôi ba từ Sát Cổ Kim. Tay nâng ly rượu, ông bạn nhà báo già nói rõ ý tứ của mình: “Bạn cũng như tôi, chúng ta từng có nhiều dịp đi đó đi đây, trong đời từng nhìn thấy khối chuyện biển dâu, và ít nhiều chúng ta cũng đã có phần cống hiến. Nay đến lúc được thư nhàn mà quan sát đông tây kim cổ...”


Tôi có kinh nghiệm, người Trung Hoa, người Nhật Bản rất tài hoa trong ứng xử. Họ không tiếc lời khen bạn bè, lại khéo chọn ngôn từ. Song, mình hiểu phận mình. Tôi cười, thưa với bạn: “Rất cảm ơn về món quà quý. Nhưng mấy chữ anh cho, tôi chỉ dám treo ở thư phòng...”.


2002

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »