tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 11754219
18.05.2010
Tư liệu
Vài nét về Bá Hộ, Tháp Rùa là tháp Bá Hộ Kim xây để chôn cha mình

 Bá hộ là phẩm hàm cấp cho hào lý hoặc những người giàu có thời phong kiến, thời Pháp thuộc.


Bá hộ Xường, tên thật là Lý Tường Quan, tự Phước Trai, sinh năm 1842, mất năm 1896. Do ông còn có tên là Xường, lại rất giàu có nên người ta còn gọi là Bá hộ Xường, hay Hộ Xường. Ở thời kỳ đầu Pháp đến chiếm đóng Việt Nam, trong dân gian có câu: Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định[1]. Vậy, nếu căn cứ theo lời truyền này, thì ông được xếp ở vị trí thứ ba trong số bốn người giàu có nhất Nam Kỳ.


Cuộc đời


Cuộc đời và sự nghiệp của Bá hộ Xường, sách vở biên chép rất ít, chỉ biết đại khái ông là người Minh Hương, lánh nạn phong kiến nhà Thanh, sang đất Nam Kỳ, vào học trường Tây, rồi làm thông ngôn cho chính quyền Pháp.


Sách Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển chép:


Hộ Xường, vốn là thông ngôn xuất thân. Sớm xin thôi, ra lãnh thầu cung cấp vật dụng thức ăn cho thị xã. Nhờ khéo tay thêm phùng thời, cự phú không mấy hồi. Còn nhà thấp năm căn nửa xưa nửa nay toạ lạc đường Khổng Tử[2]. Vòng rào sắt trước ngõ chứng rằng mặt tiền ngó ra kinh có lẽ trước kia cao ráo, nay kinh đã lấp, thế vào đây là một con đường cái, thềm lộ bồi đất cao hơn sân nhà, thành thử sân như sâu xuống và vuông nhà đã thấp nay lại càng lụp xụp. Chủ nhà mất đã lâu, gia tài kếch xù, con cái nhiều giòng, phần ăn chia chưa xong.[3]


Báo Tuổi Trẻ chủ nhật số 5-98 có bài Mộ Bá hộ Xường của Nguyễn Thế Kỷ, đã cung cấp thêm một số thông tin, tóm lược như sau:


Rời bỏ vai công chức "quèn", Bá hộ Xường dốc tâm sức vào việc kinh doanh thịt cá xuất khẩu, mua đất xây cất biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán. Ông giàu lên rất nhanh, nổi tiếng khắp vùng. Sau khi ông chết, số tài sản kếch sù đều bị con cháu nhanh chóng bán tiêu xài hết. Cái mà nay còn lại là khu nhà mồ cổ khá kiên cố do “tôn tử tương tề đồng tâm” xây dựng vào tháng Chạp năm Bính Thân (1896), hiện ở gần di tích Địa đạo Phú Thọ Hòa, thuộc phường 18, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.


Toàn bộ công trình không đồ sộ nhưng trang khang, khoáng đạt, có nhiều hoa văn, họa tiết tinh tế. Tuy theo lối kiến trúc gôtich nhưng vẫn giữ được dáng dấp Á Đông.


Ở giữa nhà mồ, là một cái quách lớn đựng thi thể người chết, bằng đá xanh hình chữ nhật 3,4x2,2m, dày 0,3m, nhô cao 0,8m.


Lễ giỗ Bá hộ Xường vào ngày 20 tháng 10 âm lịch.[4]


Từ đường họ Lý tại số 292 đường Hải Thượng Lãn Ông, phường 14, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố, theo Quyết định số 1769/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2009.


Chú thích


1- Ba “đại gia” kia là: Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt, ông ngoại Nam Phương hoàng hậu), Tổng Đốc Phương, và Bá hộ Định (Trần Hữu Định, điền chủ ở Chợ Lớn.)


2- Nay là đường Hải Thượng Lãn Ông, quận 5, TP. HCM.


3- Xem Sài Gòn năm xưa tại đây:


4- Tuổi Trẻ chủ nhật, số ra ngày 8 tháng 2 năm 1998, tr. 27.


 


 


Tháp Rùa: Tháp Bá Hộ Kim


Tháp xây trên gò Rùa nơi xưa từ thời vua Lê Thánh Tông đã dựng Điếu Đài ở đó để nhà vua ra câu cá[1]. Sang thời Lê Trung Hưng (khoảng thế kỷ 17-thế kỷ 18) thì chúa Trịnh cho xây đình Tả Vọng trên gò nhưng sang thời nhà Nguyễn thì không còn dấu tích gì nữa.

Sau khi Pháp hạ thành Hà Nội năm 1883 thì dân vùng ven hồ xiêu tán cả. Các quan Việt cũng bỏ sở nhiệm. Riêng có Nguyễn Ngọc Kim chức dịch làng Tự Tháp được cử làm trung gian giữa quân Pháp và người Việt, lại được chính quyền mới tín nhiệm nên ít lâu trở thành bá hộ, tục gọi là Bá hộ Kim.

Năm 1886 thấy huyệt đất trên gò Rùa hợp phong thủy ông xuất tiền xây tháp trên gò với ý định chôn hài cốt của cha vào đó. Việc không thành nhưng ngọn tháp ba tầng vẫn được hoàn tất. Vì vậy nên ban đầu Tháp này có tên là Tháp Bá hộ Kim. Vì vị trí đẹp giữa hồ, tháp nghiễm nhiên biến thành thắng tích Hà Nội.

Ngọn tháp kết hợp phong cách kiến trúc Âu châu với hàng cửa cuốn gôtích hai tầng dưới nhưng phần mái cong giữ quy thức kiến trúc Việt Nam.

Thời Pháp thuộc, trên đỉnh Tháp Rùa có dựng một phiên bản của tượng Nữ Thần Tự Do (1890-1896) (hay còn được gọi là tượng Đầm Xòe). Sang thập niên 1950 tượng này đã bị phá bỏ khi chính phủ Đế quốc Việt Nam của thủ tướng Trần Trọng Kim nắm chính quyền thay cho quân Pháp.


Tìm hiểu về mộ hợp chất Bá Hộ Quới Bình Dương
Mộ hợp chất - Theo giới khảo cổ học là dành riêng cho một loại hình mộ táng rất đặc thù và “phải theo trong tục lệ triều đình” của vua quan phong kiến Việt của vài thế kỷ.


Tục chôn cất bằng mộ hợp chất với một ước nguyện “giữ xác vĩnh hằng”, với một kỹ thuật kết cấu xây dựng ngoài quách kết gắn với kỹ thuật “ướp xác” trong quan, hướng tới một môi trường khử trùng tốt nhất cho “mồ yên, mả đẹp”.


Mộ hợp chất dùng chỉ lớp quánh vật liệu đúc huyệt bằng vôi - vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như mật, mật đường, mật ong, nhựa dây tơ hồng, ô dước, giấy gió, than hoạt tính… để bao kín mui luyện quách ngoài, tạo nên bức tường thành kiên cố không thấm nước, nhằm “giữ xác” dài lâu, “bảo tồn vĩnh cửu” thi hài và tùy táng phẩm trong quan.


Mộ hợp chất được kiến tạo rất công phu, dầy công và tốn kém, quy mô rất đồ sộ… thường dành cho tầng lớp hoàng gia quý tộc, những người giàu có quyền sang vương giả…


Trên đất Bình Dương có mộ hợp chất song táng của Bá hộ Hạ Quang Quới. Đây là một ngôi mộ chung của vợ chồng thương gia, nằm trên ngọn đồi hướng về phía mặt sông Bình Dương. Nay thuộc khu vực Tỉnh ủy UBND tỉnh, có diện tích khoảng 70m2 (chu vi khoảng 115m) do nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật và Võ Sỹ Khải khai quật vào ngày 27-12-1985 đến ngày 13-1- 1986. Theo khẩu truyền, chủ nhân mộ là một thương gia tên Quới giàu có và hào hiệp được chúa Nguyễn phong cho chức Bá Hộ vì thường ủng hộ cho chính quyền địa phương thuở đương thời, cũng như cứu giúp cho nhiều dân cư trong vùng, chết đã 200 năm và có chôn theo 2 người nô bộc để có người phục dịch và hầu hạ khi về “thế giới bên kia”. Mặc dầu ông đã chết cách nay 200 năm nhưng tên tuổi của ông vẫn chưa thực sự nguôi quên trong lòng người dân bản xứ.


Mộ có cổng vòm xây bằng hợp chất cát, vôi, ô dước, mật đường, cao 2,5m, mỗi trụ cỡ 13x8cm, với bề mặt trang trí 2 câu đối cạnh 2 bình phong đắp nổi hình hạc vươn cao cổ dưới gốc cây. Ở bên ngoài, từ sườn dốc cách bờ móng mộ 1,65m. Từ cổng vào chân móng khu chính 4m, người thợ còn lót khít 7 khối đá ong. Mộ có cấu trúc bình đồ 3 phần ghép: quách 6x7m, sân bia 8,5x2,8m và tiền sảnh 8,5x4,6m, với tường bao quanh và ngăn cách nhau bằng gạch đinh, dày 0,8m, có 14 trụ sen xây bằng hợp chất đặt ở các góc và cột các cửa rộng 1,5m, một tấm bia lớn dựng trên bệ 2,56x0,7m chấn cửa ngăn sân tiền và sân giữa, trên tấm bia có một bài thơ chữ nho. Móng mộ đổ bằng hợp chất dài 8,5m. Bao bọc quách phía sau là bình phong tạo hình giống như tam cấp, với bia lớn đặt trên bệ dài 2,3m.


Quách có cấu tạo lạ - hình khối chữ nhật đúc bao hợp chất rất vững chắc, quy mô 3x2,8m, cao 2,6m. Trong lòng quách, cổ nhân đúc 2 khoang tạo khối chữ nhật rỗng, mỗi bên cỡ 2,35x0,95m, sâu 2,17 - 2,2m, mỗi khoang đều có 2 đường chỉ ở tâm 2 đầu để định vị lúc hạ quan, nhưng không phủ phần đáy huyệt bằng hợp chất mà gia cố nền phẳng bằng đất vàng nện chặt hoặc lớp cát mịn màu trắng và đặc biệt còn tạo thêm 2 hộc sâu vào lòng đất, ở thành trước của huyệt để đựng đồ tùy táng: hộc A có vành miệng gần như hình nhân bán thân rộng 22cm ở trên - 56cm ở dưới, thân cao 46cm, đường gấp khúc tạo vai 10cm và cổ 3cm, sâu 33cm hình cung quy mô 22 - 46x33x32cm, di vật gốm sứ thống kê theo bộ tam trong hộc này đều úp miệng xuống, hộc B thiết kế vòm hình cung quy mô rộng 51cm, cao 59cm, sâu 32cm, di vật gốm sứ thường đặt ngửa trên cùng mặt bằng. Sau khi phủ lớp tro dày 1cm, họ xếp một lớp gạch rồi đặt quan, sau đó lấp đầy các lớp cát mịn màu trắng, vàng, lẫn ít sỏi, than…


Trong huyệt song táng Bá hộ Hạ Quang Quới, quan tài được ghép bằng gỗ xẻ và chốt bằng đinh sắt, bị mối phá hỏng nhiều, rời các ván thành, nhưng còn nguyên nắp thiên khum tròn giống thân cây. Ở mộ A, nắp thiên cách mặt đất 1,83m, quy mô 1,95 (đầu) x 0,67 (chân), cao 0,3m có tấm ván gắn giữa khắc nhiều hoa văn và phủ bằng tấm phướn khi liệm đã bị hủy thành lớp đen. Đáy áo quan bằng có tô lớp vôi bên ngoài. Di hài mộ A, còn sọ, tóc đã tiêu, trán dô, răng đen, xương mục nát, xương chậu hẹp và thô mang đặc điểm nam. Cách thức mai táng đơn giản, chủ nhân khi liệm có mặc 2 áo nỉ xanh đậm và đỏ thẫm, dọc thân từ cổ đến gần chân còn 23 cúc mã não màu đỏ nhạt, 3 cúc chai màu trắng, 5 cúc bằng đồng. Đồ tùy táng gồm những di vật: mão có gắn biển mạ vàng đã bị nát vụn, 1 khuyên màu vàng bọc trong lớp vải đã mục, 1 di vật sắt hình móng ngựa, giấy sách, khung gỗ, đồ đồng có nồi, mâm, thau, siêu... đồ sứ có tô, tách, muỗng, bình trà, bình rượu...


Ở mộ B, tấm thiên cách mặt huyệt 1,62m, có quy mô 195 (đầu) x 0,5 (chân), được sơn đỏ, trang trí hoa văn mờ. Di hài mộ B có sọ mục nhưng còn tóc màu ngà đỏ, xương chậu rộng và ống xương nhỏ mang đặc điểm nữ và có 26 cúc áo màu đỏ nhạt và 2 cúc bằng đồng.


Đồ tùy táng đa số được đặt ngửa gồm có nồi đồng còn nguyên nắp, có ly, đĩa, tô, muỗng... bằng sứ, nồi bằng đất nung...


Những hiện vật thu được trong song mộ hợp chất Bá hộ Hạ Quang Quới rất đa dạng và là đồ dùng của “Thế giới bên này” được tang gia chôn theo chủ nhân ở “Thế giới bên kia”. Thể hiện một vị thế và tiềm lực của một Bá hộ thương gia “có tiếng” trên đất Bình Dương ngày xưa. Đồng thời mộ hợp chất là một bằng chứng cụ thể và sinh động nhất, là tiếng nói trực tiếp của dĩ vãng, là diện mạo quá khứ lịch sử văn hóa vật chất - tinh thần - tư duy cổ nhân, trên mảnh đất này.


Tất cả đều chứa đựng nhiều giá trị, nhiều thông tin khoa học để chúng ta nghiên cứu về khảo cổ học, về đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội - tín ngưỡng của một thời kỳ.


BÙI KIM TUYẾN


Bảo tàng Bình Dương


Nguồn: www.sugia.vn


 


Tài liệu tham khảo:


- Hồ sơ hiện vật của mộ cổ Bá hộ Hạ Quang Quới - Bảo tàng Bình Dương.


- Bản văn bia trên mộ Bá hộ Quới ở Bình Dương - Võ Sĩ Khải - Viện KHXH  TP.HCM.


- Đôi nét về văn hóa tiền sử ở Bình Dương - Lê Xuân Diệm - Viện KHXH TP.HCM.


- Địa phương chí 1975.


- Những phát hiện về “văn hóa mộ táng” - Đỗ Đình Truật năm 1996.


- Nam bộ Đất và Người của tạp chí Xưa và nay.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
ALKESTIS (1), Bi kịch Hy Lạp - EURIPIDE 23.07.2014
Công hàm của ông Phạm Văn Đồng - Nguyễn Văn Tuấn 23.07.2014
ALKESTIS (2, tiếp & hết), Bi kịch Hy Lạp - EURIPIDE 23.07.2014
Vai trò của Liên Xô trong Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương - Hồ Tố Lương 22.07.2014
Trung Quốc và quá trình ký kết Hiệp định Genève 1954 - Hồ Khang 22.07.2014
Vài nét về tỉnh Khánh Hòa - Tư liệu 21.07.2014
Vài nét về tỉnh Bình Định - Tư liệu 15.07.2014
Làng Rượu Bàu Đá Bình Định - Tư liệu 15.07.2014
Đầm Thị Nại - Bán đảo Phương Mai, Bình Định - Tư liệu 15.07.2014
Hệ thống tháp Chăm Bình Định - Tư liệu 15.07.2014
xem thêm »