tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087749
25.10.2008
Phan Quang
Trầm ngâm bên mộ vua Tần

Trong dòng người nườm nượp da trắng, da đen, da vàng - đông nhất là các đoàn du lịch từ các tỉnh xa của Trung Quốc đổ về đây chiêm ngưỡng lăng mộ vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước mình - tôi chú ý một đôi vợ chồng già. Đấy là hai người Âu. Ông chồng tóc bạc phơ nhưng vóc người vẫn thẳng, dong dỏng cao, phong thái lịch sự, vai bên trái khoác cái túi con của mình, vai bên phải là cái xắc đầm của vợ, tay cầm can. Đi cạnh là một bà lão vẻ già hơn ông nhiều, đầu đội chiếc mũ vải mềm màu trắng, lưng còng, tay chống gậy, chân lê những bước ngắn chậm chạp. Chỉ nhìn qua cũng biết đấy là một con người đã trải qua cơn tai biến nặng về tim mạch, may mà có thể phục hồi. Một cô gái địa phương, chắc là người vừa hướng dẫn vừa phiên dịch, giương chiếc ô đen che cho bà những giọt mưa lất phất bất thường của tiết vào thu nơi lưu vực sông Hoàng Hà, những giọt mưa nhẹ đến mức không làm cho bất cứ một du khách nào khác ngoài bà cụ ốm yếu quan tâm.


Tôi ngắm chiếc can bằng kim loại nhẹ hình dáng kỳ quái ông cầm ở tay và chợt hiểu ra: Đó là một cây gậy của người già, có thể dùng chống khi bước đi như mọi cây gậy khác bằng gỗ, bằng trúc, bằng song mây; nhưng phần dưới lại có gắn thêm hai nhánh hình chữ U dựng ngược và một tấm đĩa tròn bọc da. Vâng, cây gậy ấy khi cần có thể kéo hai cái nhánh phụ ra và lật cái đĩa lên thành một cái ghế để tạm ngồi mà thở, khi đôi chân già yếu không còn muốn kéo lê nữa, khi bộ ngực lép không còn đủ để hít không khí cho một sự vận động dù đã hết sức nhẹ nhàng và chậm rãi.


Hai cụ già này từ phương nào tới? Cuối cuộc đời khá dài, chắc họ đã qua nhiều lúc suy ngẫm và bàn luận với nhau về cuộc sống mai sau có thể là vĩnh hằng có thể là hư vô, và nay họ quyết định đi một chuyến “dối già” đến tận miền Tây Bắc này của lục địa Trung Hoa bao la để ngắm nhìn những di tích của một con người sống cách chúng ta hơn 2200 năm đã dày công suy nghĩ và “thiết kế” cho cuộc sống mai sau của mình.


Cái khái niệm về thời gian vô thủy vô chung so sánh với ý thức về cuộc đời ngắn ngủi đến là vô nghĩa của một sinh vật phù du quả đã làm day dứt biết bao người từ thời cổ đại đến ngày nay. Nhưng với Tần Thủy Hoàng mơ ước về cõi vĩnh hằng là sự vĩnh hằng cùng với quyền uy tuyệt đối, với sự độc đoán thậm chí cường bạo đến mức mất hết nhân luân mà ông muốn mang theo nguyên vẹn xuống nhà mồ.


Anh chàng Triệu Chính con của một người tì thiếp được lập làm Tần Vương, đã cất quân thôn tính sáu nước, lập nên đế chế phong kiến độc quyền đầu tiên ở Trung Quốc, tự phong cho mình danh hiệu vị hoàng đế đầu tiên (Tần Thủy Hoàng đế), và thâu tóm mọi quyền hành trên trời dưới đất vào một tay.


Vừa mới lên ngôi đã nghĩ tới chuyện xây lăng mộ. Điều động bảy mươi vạn người làm suốt ba mươi bảy năm; và để xóa hết dấu tích đã cho chôn sống tất cả những người hoàn tất việc thi công. (Theo các nhà sử học, dân số toàn Trung Hoa hồi ấy ước hai mươi lăm triệu người). Biết bao người theo lệnh vua đã lên núi xuống biển tìm thuốc trường sinh, song cái chết vẫn là cái chết, nó không biết nể vì quyền uy.


Và cả đại quân mà vua Tần tính mang theo mình về cõi bên kia đã rơi vào lãng quên hơn hai nghìn năm ngoại trừ mấy dòng ngắn ngủi mà nhà làm sử trứ danh Tư Mã Thiên đã ghi lại một cách khá mơ hồ trong bộ Sử ký của ông.


Sẽ còn bị lãng quên, nếu không nhờ một sự tình cờ. Năm 1973, một nông dân trong khi làm thủy lợi đã phát hiện một pho tượng chiến binh bằng đất nung to bằng người thật, vội báo cho cơ quan văn hóa. Trước ông, đã có người tìm thấy tượng, nhưng vì mê tín cho là điềm không lành, đã treo lên cây dùng gậy đập vỡ.


Thế là một cuộc khai quật lớn bắt đầu, kéo dài đã một phần tư thế kỷ và đến nay người ta vẫn tiếp tục kiên trì và cẩn thận moi từng tấc đất để tìm các di vật, nhiều cái đã vỡ thành trăm mảnh, chắp nối lại nguyên hình. Cái mới là bên trên khu khai quật, người ta đã làm mái che cao rộng như mái một sân vận động ngoài trời và xây dựng những tiện nghi cần thiết để đón khách du lịch từ khắp năm châu đổ về.


Tiền của theo đoàn khách du lịch chảy về cố đô Tràng An. Còn người nông dân đã phát hiện ra khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng được phần thưởng duy nhất là ngày ngày đến một phòng trong khu lưu niệm, để ký tên phục vụ những du khách hiếu kỳ thích sưu tập chữ ký những người lừng danh.


Sáu nghìn tượng ngựa chiến, xe chiến, bộ binh, kỵ binh, có tả quân, hữu quân, tiền quân... to lớn như người ngựa thật (có khi còn hơn người thật vì chiều cao của tượng nguyên mẫu mà tôi thấy bày trong nhà kính kia cao đến 1m82, còn ngựa đến 1m70), hàng ngũ chỉnh tề. Mà không phải đúc bằng khuôn, vì không gương mặt nào giống gương mặt nào. Còn quân phục thì tùy theo binh chủng, quân hiệu mà khác nhau: những chiếc áo giáp đồng hoặc đan bằng mây; tóc búi (cho những quân hầu trong trung quân) hoặc đội mũ (cho lính chiến ở tuyến đầu) v.v... Có điều là không có tướng chỉ huy. Chẳng có gì đáng cho ta ngạc nhiên, vì Tần Thủy Hoàng quan niệm chính ông ta sẽ là Tổng tư lệnh vĩnh viễn của đạo quân ấy chứ tuyệt đối không chia sẻ quyền hành cho một ai khác. Gần đây người ta còn phát hiện hai cỗ xe bằng đồng, rất tinh xảo, có xe, có ngựa, với đầy đủ yên cương, có người đánh xe trang bị kiếm cung. Cỗ xe đầu là xe của vị tướng tiên phong, không có mui, vị tướng cầm cương đứng thẳng, hông đeo kiếm, vai khoác cung, bên trái là giỏ đựng tên đồng. Cỗ xe sau người cầm cương ngồi, dáng cung kính, xe có mui, có cửa sổ và bên trong trống không, vì người ngồi bên trong ấy sẽ là Tần Thủy Hoàng và chỉ có Tần Thủy Hoàng mà thôi chứ tuyệt đối không phải là một ai khác.


Tất cả những vật tùy táng ấy nằm yên dưới đất, không sâu. Vì thật ra lúc đầu nó được xây trên mặt đất, có mái che, cột nhà bằng gỗ như một đền thờ sau này bị cháy đổ, phù sa và cát bụi Hoàng Hà đã dần dần phủ lên nhận chìm mọi dấu vết.


Gần một phần tư thế kỷ trôi qua kể từ ngày phát hiện, nhưng cho đến nay ngày ngày dưới ánh đèn pha, các nhà khảo cổ, các công nhân giúp việc vẫn tiếp tục công việc nạo từng tấc đất để moi lên các cổ vật hoặc còn tương đối nguyên vẹn hoặc đã vỡ vụn trăm ngàn mảnh để chắp nối lại và xếp nguyên vào chỗ cũ của nó đúng như hơn hai ngàn năm trước.


Đã có quá nhiều bài báo và cuốn sách, đã có không biết bao bức ảnh và thước phim về khu mộ táng này được giới thiệu khắp thế giới. Và còn biết bao công trình nghiên cứu nữa đã và sẽ ra đời. Khách du lịch tò mò đổ về đây, để được tận mắt nhìn, hiếu kỳ trong vô tư hoặc trầm ngâm trong suy tưởng về quá khứ và hiện tại, về hôm nay và ngày mai, về cái hiện hữu và điều hư vô, về tham vọng và sự bất lực của con người...


Trở về thành phố Tây An tức Tràng An xưa, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, tôi lại gặp đôi vợ chồng già ngồi nghỉ chân dưới gốc cây móng rồng (long trảo) trước tháp Đại Nhạn, mà Đường Tam Tạng đã cho xây để tàng trữ các bộ kinh sau chuyến hành hương thỉnh kinh từ Tây Trúc trở về. Ôi cái tên Tràng An xiết bao gợi cảm. Chúng ta gặp tập trung nơi đây một phần lịch sử Trung Quốc, một phần nền văn hóa Trung Hoa. Trong hơn một nghìn năm, đây là kinh đô của mười hai triều đại, trước khi được dời về Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay. Anh bạn Trung Quốc của tôi nói:


- Chế độ phong kiến Trung Hoa từ cổ đại đến nay tập trung thể hiện ở hai kinh đô: Tràng An với bốn triều đại rất lớn: Tần, Hán, Tùy, Đường và Bắc Kinh với bốn triều đại lớn khác: Tống, Nguyên, Minh, Thanh cùng những tên tuổi lừng lẫy như Hán Cao Tổ, Đường Tam Tạng, Đường Minh Hoàng, Võ Tắc Thiên... và Chu Nguyên Chương, và Càn Long và Khang Hy... tôi hy vọng còn có dịp ghi lại những cảm xúc của mình về những tên đất, tên người ấy. Nhưng xin hãy được trở lại với đôi vợ chồng già người Âu hôm nay.


Vâng, tôi lại gặp hai ông bà trước tháp Đại Nhạn. Họ không hề nói gì với nhau. Bỗng dưng tôi cũng trở lên trầm ngâm như hai cụ. Trầm ngâm về những con người đồ sộ như Tần Thủy Hoàng, Đường Tam Tạng và những dấu tích họ để lại. Trầm ngâm trước sự nhỏ bé về tầm vóc, sự ngắn ngủi trong đời sống con người, của tất cả những nhân vật trong quá khứ dù cuộc đời, sự nghiệp và tham vọng của họ vĩ đại đến bao nhiêu, so với chiều dài lâu của lịch sử và sự trường tồn của nhân dân.


Và mấy câu mở đầu bài Tương tiến tửu của Lý Bạch chợt trở về trong trí tôi:


Quân bất kiến


Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai


Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!


Hựu bất kiến


Cao đường minh kính bi bạch phát


Triêu như thanh ti mộ thành tuyết...


(Bác chẳng thấy


Sông Hoàng từ trời nước đổ xuống


Một mạch xuống biển không về lui


Lại chẳng thấy, gương sáng lầu cao buồn tóc bạc


Sớm mới xanh tơ, chiều đã tuyết...)


 (Bản dịch của Khương Hữu Dụng)


Kìa, hai vợ chồng già đã đứng lên. Bà cụ dựa vào tay cô gái chậm rãi lê những bước chân. Ông cụ gấp chiếc can - ghế, lặng lẽ bước đi bên cạnh. Đến cả cô hướng dẫn du lịch mà nghề thường có thói quen nói nhiều, hôm nay dường như cũng trầm ngâm nốt.


Họ sẽ còn đi về những nơi đâu, đôi vợ chồng già ấy những ngày cuối đời?


Tôi chợt nghĩ đến một hình ảnh khác: Bác Hồ. Tháng 8 năm 1959, Bác đã đặt chân đến đây sau một chuyến đi hai vạn ba ngàn ki lô mét qua các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu, Mông Cổ về Trung Hoa. Chúng ta đều biết những chuyến đi thăm nước ngoài của một nguyên thủ quốc gia, chương trình bận rộn và nặng nhọc đến thế nào. (Mặc dù Bác cũng có một số ngày được nghỉ ngơi và Bác đã khiêm tốn gọi chuyến đi của mình là “cuộc nghỉ hè”). Thế mà Bác đã đến đây, cố đô của nhà Đường, lúc xế chiều Bác ung dung viếng cảnh chùa Đại Từ Ân, rồi ung dung leo lên tận tầng cao của tháp Đại Nhạn, tới đỉnh tháp, Bác nói vui: “Hôm nay, Hồ Chí Minh đã lên được tháp Đại Nhạn của đời Đường!”.


Một điểm vừa nói lên nhân sinh quan và phong thái của Người, là Bác vừa leo lên tầng cao bảo tháp, vừa ngâm hai câu thơ của Vương Chí Hoán - cũng là một thi sĩ đời Đường.


Dục cùng thiên lý mục


Cánh thướng nhất tầng lâu


(Muốn nhìn xa được ngàn dặm


Hãy lên cao thêm một tầng lầu)


Lúc này Bác đã sáu mươi chín tuổi, sắp bước vào tuổi mà cùng một nhà thơ khác đời Đường - Đỗ Phủ, đã gọi là xưa nay hiếm.


Mười năm sau, Bác sẽ ra đi vào cõi vĩnh hằng cùng chiếc áo vải, chỉ gửi gắm lại cho người sau muôn vàn tình thương yêu và một sự nghiệp vĩ đại.


Thì ra thời gian cứ trôi đi, nhưng đối với mỗi con người, mỗi số phận, nó trôi đi theo những hướng khác nhau.


Tây An, 1996


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »