tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282895
Lý luận phê bình văn học
05.05.2010
Hoài Anh
Nguyễn Đình Thi, Nhà văn đi tiên phong trong văn học cách mạng

Nếu nói đến vai trò tiên phong của một nền văn học, thì người phụ trách tòa soạn tạp chí Tiên phong của Hội Văn hóa cứu quốc ấy quả xứng đáng là một người đi tiên phong của văn học cách mạng. Trước hết là đi tiên phong trong lĩnh vực lý luận phê bình. Là sinh viên ban Triết, từng viết những cuốn sách giới thiệu triết học phương Tây, nhưng Nguyễn Đình Thi đã sớm đưa quan điểm mác-xít vào những bài nghiên cứu của mình như Xây dựng con người, đặc biệt là bài Sức sống của dân tộc Việt Nam trong ca dao và cổ tích, đã đặt vấn đề tìm về dân tộc. Anh viết: “Trong văn học Việt Nam hiện nay đang nổi một khuynh hướng rất mạnh quay về dân tộc. Khắp nơi luôn luôn vang dội những tiếng kêu gọi quay về với tinh thần Việt Nam cho thuần túy...


Nhưng muốn tìm hiểu tinh thần Việt Nam, thực là khó. Ta thấy một vài điều nhận xét vội vàng trong văn học hiện đại. Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Trên đường nghệ thuật, khi tìm đặc tính văn chương Việt Nam, đã nói rằng đặc tính ấy là buồn. Điều nhận xét của ông, theo ý chúng tôi, là một điều dễ đưa tới những tư tưởng bi quan, và nghi ngờ, yếu ớt.


Nền văn hóa nước ta xưa là công trình của lớp người nông tang. Vì vậy, muốn hiểu tinh thần Việt Nam không thể đem riêng cái văn chương thượng lưu của một số ít người chịu khuôn khổ của Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo mà xét được. Làm môn đồ của Thích Ca và Lão tử, họ chán đời. Theo Khổng Tử, họ “lễ giáo”, họ tôn ty, họ phục tùng. Nhưng, cũng chính vì thế, nên họ không thể xứng đáng là đại biểu cho tinh thần chân chính của dân tộc ta. Muốn hiểu rõ cái nguồn sống chạy trong mạch máu dân tộc chúng ta, phải tìm đến văn chương của dân chúng, tuy bình dị, nhưng thực biểu lộ được ý nghĩ, tình cảm và đời sống của dân ta. Nền văn chương đại chúng đó, khi đã thành hình là ca dao, khi chưa thành hình là cổ tích vậy...”


Nếu bài nói chuyện ở hội nghị sinh viên đầu năm 1944 trên mang tính chất lời kêu gọi cách mạng, thì sau khi cách mạng Tháng Tám mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, những bài Nhận đường, Thực tại với văn nghệ lại mang tính chất cương lĩnh của văn nghệ cách mạng. Trong bài Tìm nghĩa hiện thực mới (Tạp chí Văn nghệ, số 10.1949), Nguyễn Đình Thi viết: “Văn nghệ không nói chuyện với riêng trí tuệ mà nói chuyện với tất cả tâm hồn, nhất là với cảm xúc, nó là mặt sống thường nhất, và cũng sâu nhất, “người” nhất. Nghệ sĩ nói chuyện với lòng chúng ta, với tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong chúng ta. Nghệ sĩ gửi thêm vào cuộc sống khóc cười, sướng khổ mỗi giờ mỗi phút của chúng ta, góp một phần, một món quà, một ánh mắt nhìn, cái ấm áp của một cái bắt tay, một giọt sương trong sáng, một hạt thóc vàng vui tin tưởng, một tiếng chim hót, một giây phút hồi hộp trước khi nổ súng... nghệ sĩ muốn mở rộng và nâng cao cái vốn cảm xúc của xã hội. Cảm giác, tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ”.


Trung thành với quan niệm “nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm”, Nguyễn Đình Thi đã đi tiên phong trong lĩnh vực âm nhạc cách mạng, với những bài hát Diệt phát xít (1945), Thanh niên cứu quốc (1945) thể hiện tình cảm mãnh liệt của toàn thể dân tộc trước bước biến chuyển to lớn, quan trọng của lịch sử: giai đoạn tiền khởi nghĩa. Đến bài Người Hà Nội (1947) viết khi nổ ra cuộc Toàn quốc kháng chiến, thì lại mang âm hưởng “nửa đêm truyền hịch”. Anh kể lại buổi chiều ngày 19 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, anh được đồng chí Trường Chinh giao cho bản đánh máy lời Hồ Chủ Tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến đến Ủy ban kháng chiến Hà Nội để đưa in ngay và truyền bá bằng mọi phương tiện thông tin. Sau đó anh lại đến làng Sét, đưa lời kêu gọi của Bác Hồ cho anh Thép Mới để đăng lên báo Cứu quốc Thủ đô. Xúc động trước tấm gương hy sinh của các chiến sĩ quyết tử Liên khu Một, anh đã sáng tác bài Tiếng hát của một người Hà Nội (sau sửa lại thành Người Hà Nội) được in trọn một trang báo Cứu quốc thủ đô số đặc biệt Tết kháng chiến đầu tiên 1947. Bài hát được dùng làm bài hát chủ đề trong vở kịch Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng.


Hồi kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đình Thi là một trong những người đi tiên phong trong lĩnh vực lý luận về thơ cách mạng. Trong Hội nghị tranh luận ở Việt Bắc năm 1949, anh Thi trình bày rõ quan niệm về thơ của mình: “Tôi muốn đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đến một độ cảm xúc mãnh liệt. Nếu cần nói một hơi dài, dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn... Những bài thơ cũ, cùng một nhịp đều đều, tôi không thể chịu được!” Anh sáng suốt nhận ra rằng nhịp thơ cần phải thay đổi cùng với nhịp sống. Anh nhấn mạnh: “Nhịp sống chúng ta, từ sau cách mạng, đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ra ào ạt. Chúng ta không còn sống khoan thai như một thời nào trước. Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn đủ cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức đang lên như thổi”. Anh nhận thức đúng đắn rằng mỗi nhà thơ cách mạng vừa phải là một chiến sĩ chiến đấu cho nhân dân và đất nước, vừa phải là một nghệ sĩ có con mắt nhìn từ bên trong, và thơ đòi hỏi sự cá thể hóa, nhìn cả vũ trụ và cuộc đời qua lăng kính của một con người cụ thể, cảm thụ, rung động và ghi nhận cảm xúc và ấn tượng riêng của mình.


Nguyễn Đình Thi là người đi tiên phong trong thể thơ tự do của văn học cách mạng. Cho đến hôm nay tôi còn nhớ như in trong óc bản đầu tiên của bài Đất nước viết năm 1948:


Sáng mát trong như sáng năm xưa.


Gió thổi mùa thu hương cốm mới,


Cỏ mòn, thơm mãi dấu chân em,


Gió thổi mùa thu vào Hà Nội.


Phố dài xao xác heo may,


Nắng soi ngõ vắng,


Thềm cũ lối ra đi,


Lá rụng đầy


Ôi nắng dội chan hòa


Nao nao trời biếc,


Gió đượm hương đồng ruộng,


Hương rừng chiến khu


Tháp rùa lim dim nhìn nắng,


Những cánh chim non


Trông vời nghìn nẻo,


Mây trắng nổi tơi bời


Mấy đứa giết người


Hung hăng một buổi


Tháng Tám về rồi đây


Hôm nay nghìn năm gió thổi,


Trời muôn xưa,


Đàn con hè phố


Môi hớn hở


Ngày hẹn đến rồi


Các anh ngậm cười bãi núi ven sông


Hà Nội


Ôi núi rừng.


Nhà thơ đã chấm vào những thoáng cảm xúc gợi nhiều liên tưởng với những ý thơ linh hoạt, dồi dào, nhất là nhạc điệu trong thơ hoàn toàn mới mẻ và vươn tới một trình độ khá cao. Đến hôm nay tôi còn bồi hồi nhớ lại cái cảm giác khi nâng tờ tạp chí Văn nghệ còn hăng mùi giấy giang giấy nứa từ chiến khu Việt Bắc gửi về vùng địch hậu Khu Ba. Hồi đó chúng tôi căng mắt, ngửa cổ chờ đón từng dòng thơ văn như đứa trẻ khát từng giọt sữa, như người lính bị thương thèm từng giọt máu tiếp cho cơ thể mình. Lần đầu đọc số báo có đăng bài thơ Đêm mít tinh, Đường núi... của anh Nguyễn Đình Thi, tôi có cảm giác là lạ, tưởng như thơ anh còn mang nguyên cái vỏ xanh và mùi hăng hăng của những cây giang cây nứa mọc phóng khoáng giữa đại ngàn Việt Bắc. Thơ anh như những trái xanh còn chan chát vị rừng làm tê tê đầu lưỡi, chứ không giống những trái chín ngọt ngào mà tôi từng nếm trước đây.


Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm


Ngây ngất sương mây


Lối mòn không dấu chân


Gió nổi


Ta nghe ta hát một mình


(Đường núi)


Trong bản in lần sau, anh đã sửa câu Ta nghe ta hát một mình, thành Đâu đây tiếng suối rì rào, nhưng thực tế, sau cuộc tranh luận về thơ tự do, anh vẫn là người lữ hành cô độc trên đường thơ “Ta nghe ta hát một mình”. Và anh cứ lầm lũi đi trên con đường ấy từ năm 24 tuổi đến nay đã hơn 70 tuổi. Trong khoảng thời gian khá dài ấy đã có bao nhiêu sự đổi thay: Hồi kháng chiến chống Pháp người ta thích lối thơ có vần du dương để có thể ngâm được, tấu được (bài Không nói của anh Thi khi đăng là thơ tự do, không vần, đến khi lưu hành lại được thêm vần vào cho dễ ngâm). Sau ngày hòa bình lập lại có một thời kỳ người ta thích lối thơ hô hào, khẩu hiệu nói là để “phục vụ kịp thời”. Anh Thi không “kịp thời” theo kiểu thực dụng, mà thơ anh vẫn “cập nhật hóa” được cuộc sống bình thường hàng ngày. Thơ anh lúc nào cũng là thơ của “ngày hôm nay” thể hiện những cảm xúc, suy tư của một người trong một ngày, từ đó mà nắm bắt cái không khí cái tâm thế, cái chiều cao tinh thần, cái chiều sâu trí tuệ của một thời. Anh đã có được sự “tự do tinh thần” rất lớn, anh không mắc nợ gì “thơ tiền chiến” để phải đa mang cả cái quá khứ huy hoàng cũng như cái nghiệp chướng dai dẳng của nó, anh là con người do cách mạng sinh ra, lớn lên theo từng bước đi của cách mạng, nên anh không cần phải “lột xác”, cải tạo tư tưởng” lôi thôi, vì anh vững tin ở mình, vững tin ở cái tâm thành của mình đối với cách mạng, đối với con người và cuộc đời. Về thơ, anh vẫn giữ sao cho “sáng mát trong như sáng năm xưa” trân trọng quá khứ, nhưng khao khát tương lai, “Từ ấy đã bao tháng ngày, con chim cánh biếc phía trước tôi vẫn bay”. Anh luôn luôn e sợ chín nục đem theo nó sự già cỗi, anh mong sao cho thơ luôn giữ được cái tươi xanh. Như người “bay đêm” đến những vùng trời mới lạ, anh tỉnh táo biết dừng lại ở cái “biên độ” khiến thơ trở thành khoa trương, giả tạo hay phù phiếm mà mất đi cái sự thật tươi như lá non, thậm chí trong veo như nước mắt. Triết lý trong thơ anh xuất phát từ đời sống bình thường nên giản dị mà đằm thắm, không hề mang dấu vết tư biện hay kinh viện. Anh ít viện dẫn sách vở, mà vẫn toát ra dáng dấp trí thức, anh không dựa vào thế của truyền thống oanh liệt của ông cha, mà vẫn mang được sức mạnh cả trong sức nhìn, sức nghĩ của dân tộc, để có cách nói mang dấu ấn riêng biệt của mình. Trong khi cùng nhiều nhà thơ làm thơ về đề tài Phú Lợi, anh vẫn có cách nói riêng: “Hôm nay miếng cơm ta ăn có mùi thuốc độc”. Trong khi cả Hà Nội đứng lên chiến đấu chống B.52 Mỹ, anh nói về những người trẻ tuổi chia tay người yêu để ra tiền tuyến “Nhìn em anh hãy còn bỡ ngỡ, như sợ bất ngờ em biến đi đâu”. Anh muốn là người tình nhân muôn đời của sự sống, chỉ đơn ca mà không hòa theo dàn đồng ca, không muốn ngụy biện hay dạy dỗ ai hết, mà chỉ đại diện cho bản thân mình và tự nhắc nhở mình.


Từ năm 1949, anh đã trình bày rõ ràng quan niệm của mình về thơ: “Những hình ảnh tươi nguyên mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng. Vì nhà thơ nhìn bằng con mắt của người đầu tiên. Đó là những hình ảnh mới tinh, chưa có vết nhòa của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước. Mượn câu nói của một nhà văn Pháp, nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất. Nhưng những hình ảnh mới lạ ấy đều ở trong đời thực, chúng ta đều thấy, hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ. Câu thơ đột ngột làm cho ta nhận thấy những cái gần gụi nhất với chúng ta. Trước kia, ta vẫn gặp mà không biết nhìn”.


Quan niệm ấy đã được thể hiện trong bài thơ mới đây Hoa không tên:


Điểm biếc trên vách đá


Một đóa hoa


Bé nhỏ cười với núi mây, lộng gió


Đóa hoa không quên


Từ rất lâu


Từ rất xa


Một ngày bỗng nở


Đóa hoa không tên


Từ rất lâu


Từ rất xa.


Phải có cái nhìn bên trong mới thấy được bông hoa bé nhỏ mới nở từ rất lâu, rất xa và do đó đóa hoa không tên bỗng trở thành đóa hoa không quên.


Theo với bước tiến lên của thời đại, từ những tập thơ Người chiến sĩ, Bài thơ Hắc Hải cho đến Dòng sông trong xanh, Tia nắng, thơ Nguyễn Đình Thi vẫn đi theo hướng cách tân nhưng ngày càng nhuần nhuyễn, anh có những câu thơ trong suốt, như con chim bay nhẹ tênh bằng đôi cánh nhẹ tênh, nhưng mãi mãi vẫn bay về phía trước. Anh đã thực hiện được điều tâm nguyện buổi đầu: “Câu thơ giản dị như câu nói thường mà ngân vang mãi. Thơ là nơi tư tưởng, tình tự quấn quýt với hình ảnh như hồn với xác để tạo ra cái biết của tâm hồn, không phải chỉ biết bằng ý niệm, bằng tri thức”.


Tôi rất tâm đắc với nhận xét của nhà báo cộng sản Pháp Michel Boué về Nguyễn Đình Thi: “Một trí tuệ nồng nhiệt”.


Cùng với sự khai phá đường thơ tự do, thơ anh như những lớp phù sa sông Hồng âm thầm bồi đắp nên thơ “quên những chông gai quên tất cả, để lại sau lưng mọi bến bờ”, để từ đó mọc lên những bãi ngô non bắp tròn căng sữa “Một chút trắng hồng dào dạt vàng” trong vô tận cuộc đời.


Nguyễn Đình Thi còn đi tiên phong trong lĩnh vực tiểu thuyết cách mạng, khi anh “xung kích” vào đề tài mũi nhọn trong cuộc kháng chiến chống Pháp: khắc họa chân dung tập thể.


 Trong Xung kích, Nguyễn Đình Thi đã miêu tả cả một khối người đông đảo ở “cận cảnh”: cảnh dân công đi phục vụ chiến trường, cảnh bộ đội hành quân và đánh đồn, cảnh chiến thắng nói lên được không khí phấn khởi, nhộn nhịp của những ngày chuẩn bị vào chiến dịch và khi chiến dịch đã kết thúc thành công, với những chi tiết sống mang nhiều âm điệu khác nhau, khi thì trên bình diện hài kịch, khi thì trên bình diện bi kịch, cái khẩn trương căng thẳng xen lẫn với những phút im lặng đầy chất chứa, cái tầm thường xen lẫn cái hùng tráng, cái thô kệch bên cái trang trọng, giọng văn khi tả thực khách quan khi trữ tình tha thiết. Tuy miêu tả một đám người, nhưng trên nền bức tranh kháng chiến với quy mô khá rộng vẫn nổi lên hình ảnh những nhân vật có phần rõ nét và sinh động như Sản, Kha, Thông, Cốc, Mẫn, Lũy... để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc.


Trong tập truyện ngắn Bên bờ sông Lô, mỗi truyện như một bài thơ văn xuôi ghi lại những nét ấm áp và cảm động trong kháng chiến, nhưng tác giả không né tránh nói đến những đau thương, mất mát trong cuộc sống như nỗi băn khoăn của một anh bộ đội sau khi bị thương tật tàn phế, những hậu quả thương tâm mà cán bộ và nhân dân ta ở vùng địch chiếm phải chịu đựng, tâm trạng bi thảm của một ông già có con đi lính ngụy bị chết thiêu mà người đưa đường lại là ông cụ, nỗi buồn của anh bộ đội trên đường hành quân tạt qua nơi công tác cũ tìm thăm mộ người yêu nhưng không thấy... chứng tỏ anh không nhìn cuộc sống theo kiểu đơn giản hóa một chiều, mà từ tác phẩm đã lóe lên tia sáng nhân đạo đáng quý.


Đến bộ tiểu thuyết sử thi Vỡ bờ, anh không viết theo kiểu minh họa sự kiện chính trị đã thành công thức, mà hướng thẳng tới cách viết hiện thực tâm lý của Lép Tônxtôi. Anh đã miêu tả được những nhân vật có số phận riêng như Khắc, An, Xoan, Quyên, Tư... những con người bình dị mà phi thường, giàu tình cảm yêu thương với gia đình, bạn bè, đồng chí, tuyệt đối trung thành với Đảng, với cách mạng nhưng nặng lòng căm thù đối với bọn giặc cướp nước và bán nước, những lượn sóng ngầm góp lại dấy lên thành cuộc Vỡ bờ. Nhưng đối với những nhân vật xuất thân từ giai cấp khác, như Nghị Khanh, Phượng... anh cũng không miêu tả bằng ngòi bút biếm họa độc địa, mà vẫn có thái độ đôn hậu, trân trọng đối với con người.


Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì Nguyễn Đình Thi lại dũng cảm lao “Vào lửa” viết về người chiến sĩ pháo binh ra đa, tên lửa trong những ngày đầu chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ và những chiến sĩ không quân - binh chủng mới của quân đội ta - ở Mặt trận trên cao.


Nguyễn Đình Thi còn là người đi tiên phong trong lĩnh vực kịch triết lý, với những vở Con nai đen, Hòn cuội, Giấc mơ...


Song song với cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước, con người Việt nam còn phải chiến đấu để bảo vệ sự độc lập của tư tưởng và tự do của nhân phẩm. Bởi vì cái ác có khi lại đội lốt cái thiện, như Quận Khung đội lốt nhà vua trong kịch Con nai đen, Hoàng Phúc đội lốt nhân từ, trừng trị những tên bán nước Nguyễn Đại, Bùi Bá Kỳ để mua chuộc lòng dân ta trong kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan... Vì vậy cuộc chiến đấu chống lại cái ác thường đi kèm với cuộc chiến đấu chống lại sự dối trá để bảo vệ sự thật. Muốn khám phá ra sự dối trá phải suy nghĩ bằng cái đầu của mình, nhìn vào chính cái tâm của mình. Nhân vật Xác Ông Lão trong Con nai đen đã nói: “Thường muốn nhìn rõ mọi sự vật thì ta phải mở mắt cho tinh, nhưng nhiều khi muốn nhìn rõ một con người thì ta phải nhắm mắt lại. Có thế ta mới quên được cái hình ngoài nhiều khi nó đánh lừa ta và hai con mắt trí tuệ của ta mới mở được ra để soi vào đến tận bên trong tâm hồn, nơi đó ta mới thấy được sự thật”. Nhân vật Nguyễn Trãi trong Nguyễn Trãi ở Đông Quan phê phán một số trí thức lớn đương thời: “Các ông muốn đánh lại chúng nó, nhưng mà cái đầu của các ông chỉ nghĩ được trong vòng cái khuôn của chúng nó”, và nhận định: “May mà chúng ta còn biết sống theo lẽ phải của ta, nghĩ bằng cái đầu của ta”. Nguyễn Trãi cho rằng: “Ở ta, con người sống với nhau phải lẽ hơn... bày đặt ra lắm thứ trói buộc, khuôn ép, trái tự nhiên thì thành ra khô héo, chỉ nuôi cái ác ngầm!... Sống ở đời có nhiều nỗi... ở với nhau cho có tình thương... cái gốc có lẽ cũng ở bấy nhiêu”. Chính vì thế mà ông chủ trương vừa lấy lại nước từ trong tay giặc, vừa phải lấy lại từng người từ trong tay nó. Nhân vật Xác Ông Lão trong Con nai đen cũng nói: “Tình yêu thường cảm thấy trước sự thật mà con mắt ta chưa kịp nhận ra”. Chính tình yêu thương đã cảm hóa được con người, một người sắt đá như Trần Thủ Độ trong kịch Rừng trúc cũng phải xúc động khi thấy anh em Trần Cảnh vẫn thương yêu nhau nhất là sự hy sinh cao cả của Chiêu Thánh, sự trung thành của những người dân thường đối với đất nước; một cô gái quyền quý như Mỵ Nương trong Trương Chi cũng phải rỏ nước mắt trên chiếc chén kết tụ khối tình của anh thuyền chài nghèo khó, khiến anh phải nói: “Một lời em nói với anh, một giọt nước mắt em nhỏ xuống là như vậy mãi mãi rồi”. Còn khi sống theo thành kiến xã hội thì sẽ xảy ra bi kịch, như người chồng nhìn cái bóng trên tường ngờ là tình nhân của vợ khiến vợ phải chết oan (Cái bóng trên tường). Cũng có khi tìm thấy sự thật rồi lại xảy ra bi kịch, như nhân vật người đàn ông bỏ nhà đi trong Người đàn bà hóa đá trong khi người đàn bà vẫn dồn tụ tình yêu thương trong khối đá bền vững mãi với thời gian. Tình yêu thương chiến thắng cả cái chết, như nhân vật Người lính trong Giấc mơ, khi bị thương nặng sắp chết, chính vì nhớ tới mẹ, tới người yêu, tới quê hương đất nước, đến cả một ngôi sao Hôm hiện trên nền trời đen kịt khói bom đạn, nên đã níu lấy được sự sống; sau đó anh mắc bệnh mất trí nhớ nhưng cũng tình yêu thương đã giúp anh nhớ lại dần... Nhiều khi cái chết không nguy hiểm, ghê gớm bằng sự dối trá, nếu Thần Chết trong Giấc mơ mang theo lưỡi hái và tay đẫy để gặt lấy những thể xác, thì anh lái buôn lại mang theo bàn tính và tay đẫy để cân mua những linh hồn sống. Trong chiến tranh, ngay giữa lúc con người đang lo lắng về cái chết, vẫn còn phải băn khoăn về sự nhận định con người, như Ngần trong Hoa và Ngần nói: “Người ta sống lạ lắm. Ở ngoài một bộ mặt, ở nhà một bộ mặt! Tao lạ nhất là sao họ có thể ác mà cứ thản nhiên như thường”. Dù chiến tranh tạo nên chia ly, mất mát vẫn không xóa mờ được tình yêu thương giữa người và người, như Khánh và Bình trong Hoa và Ngần. Người đàn bà và người đàn ông trong Tiếng sóng...; trong khi những kẻ ích kỷ, vụ lợi như Toàn trong Hoa và Ngần, ông X. trong Tiếng sóng, đều đi đến chỗ bế tắc, thất bại. Anh thương binh trong Giấc mơ, phê phán những kẻ “Lòng chỉ đi tìm mọi thứ của cải, mắt chỉ nhìn thấy cái lý của mình” và cho rằng “Khi yêu thương thì sẽ thông minh và có lòng can đảm”. Hàng loạt nhân vật như Hoa, Ngần, Duyên trong Hoa và Ngần, cô Việt kiều, cô gái cứu thương, cô y tá... trong Tiếng sóng, đạt tới niềm vui và sự thanh thản trong tâm hồn thấy đời có cái gì đẹp, lạ, đáng sống, chính vì đã biết bám vào cái gốc yêu thương ấy. Bà giáo trong Tiếng sóng nói: “Một tình thương yêu không bao giờ mất cả. Nó bay đến một chỗ nào đấy, nó gieo vào một tình cảm, một ý nghĩ nào đấy của một người nào, có khi nó truyền đi tận đâu, nảy nở những gì không ngờ được... Ừ, con người ta có một đời sống tâm hồn chứ, mà càng là con người thì đời sống tâm hồn càng mạnh hơn tất cả”.


Xưa nay người ta thường cho Cuội là nhân vật điển hình của sự dối trá, nhưng trong kịch Hòn cuội, nhân vật Cuội ở đây lại được đem đối lập với biết bao kẻ đạo đức giả ở đời từ Phú ông, Lý trưởng, đến Thầy tướng, Mụ mối, Sư ông... So với những kẻ ấy thì Cuội ta còn tốt đẹp hơn nhiều. Nếu Bợm là kẻ khôn ngoan, Ngố là kẻ dại dột, thì Bụt mang tiếng từ bi nhưng cũng chỉ là bất lực mà thôi. Cái đáng sợ là tự mình đánh mất chính mình, như Người hành hương không nhìn thấy bóng mình in trong bát nước. Cho nên con đường đi tới sự thật cũng là con đường trở về cái tâm, cái bản ngã chân chính của mình. Đó là cảm nghĩ của tôi sau khi đọc những vở kịch kết hợp cảm hứng dân gian với chất triết lý, chất thơ bi hùng trong Tuyển tập kịch của nhà văn Nguyễn Đình Thi.


Tôi nghĩ anh Nguyễn Đình Thi chuyển sang địa hạt viết kịch triết lý là có nguyên nhân sâu xa của nó. Từ đầu đời anh đã từng nghiên cứu triết học, sau đó lại từng làm thơ. Anh có nhận xét rất tinh tế: ”Người làm thơ phải để cho hình ảnh của cuộc sống tự nói lên tình ý, khi gieo một câu suy luận đã có cả một bầu cảm xúc sửa soạn chung quanh, đợi câu ấy để cùng bật sáng tất cả”.


Bởi quan niệm như vậy nên những ý triết lý của anh trong kịch đều là “những câu suy luận có cả một bầu cảm xúc sửa soạn chung quanh”, nên đã sáng lên chân lý của cuộc đời, chứ không phải là thứ triết lý tư biện, áp đặt, do đó cũng rất gần với thơ. Những chi tiết đời sống ở đây vừa được nhìn theo khía cạnh tâm lý vừa được nâng lên thành biểu tượng, nên đã trở nên tập đại thành những điều anh mong muốn gửi gấm vào trang viết, đó là làm sao cho trong đó chứa đựng cả niềm vui, nỗi buồn, cả thương yêu oán giận suy tư, cả cái cười, cái khóc, cái sống, cái chết, cái hy vọng, cả quá khứ, hiện tại, tương lai, khám phá thế giới tồn tại của con người nhằm nâng cao nhận thức của con người, vì sự hoàn thiện đạo đức của con người, nhằm mục tiêu vươn tới cái đẹp và cái cao cả.


H.A.


Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Khảo luận của Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »