tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20192420
Lý luận phê bình văn học
04.05.2010
Hoài Anh
Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng- Nhà nghiên cứu văn học có tâm huyết

Trong bài Nhớ cụ Nguyễn Tường Phượng (báo Người Hà Nội số 24, ngày 17-6-2005) nhà văn Băng Hồ viết:


“Cụ Nguyễn Tường Phượng bút hiệu Tiên Đàm, sinh năm 1890 xuất thân trong một gia đình khoa bảng, là con thứ ba cụ án Nguyễn Chí Đạo (cử nhân  khoa Tân Mão 1891) - làng Nội Duệ Đông, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tổ khai khoa của dòng họ này là Nguyễn Thiên Tích đỗ Trạng Nguyên năm Thuận Thiên thứ hai (1431) người từng minh oan cho vụ án Lệ Chi Viên đời Lê Thánh Tôn.


Thuở nhỏ cụ Phượng từng một thời kỳ là môn sinh chữ Hán cụ Nguyễn Quyền một nhà nho yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục - sau học tiếng Pháp đỗ Tú tài bản xứ - do cám cảnh quan trường cụ đã từ bỏ chức Tri huyện Thạch Thành (Thanh Hóa) để quay về Hà Nội làm báo và làm công tác từ thiện (Hội trưởng Hội Hợp Thiện - sáng lập ra nhà Dạ Lữ Viện và Bình Dân Phạn Điếm lo chỗ ngủ đêm và ăn uống giá rẻ cho những người nghèo khổ lang thang cơ nhỡ).


Hà Nội giai đoạn 1930-1945 với bao biến động sâu sắc. Đó là những năm cuối cùng cuộc vận động cách mạng của ácc sĩ phu yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh) và sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Chiến tranh thế giới thứ hai “Thần tượng văn minh Pháp” sụp đổ trước việc đầu hàng của “đế chế Gô Loa” trước cả hai phát xít Đức - Nhật. Dân ta một cổ hai tròng, điêu đứng khổ cực. Cuộc khủng bố thẳng tay Đảng cộng sản và các tổ chức yêu nước. Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu cướp đi sinh mạng 2 triệu người. Ngọn lửa cách âm ỉ. Bác Hồ về nước dùng hang Pắc Bó làm nơi chỉ đạo phong trào. Trí thức hoang mang lo lắng “Đi đâu? Về đâu? Làm gì đây?”


Giữa bối cảnh đó, cụ Nguyễn Tường Phượng và nhóm học giả ý thức được trách nhiệm của “sỹ phu đất Bắc” trước lịch sử, đã cùng nhau họp lại ấn hành một tờ tạp chí lấy tên là “Tri Tân” dựa theo câu trong sách luận ngữ “ôn cố tri tân” (lấy cũ biết mới) với cái hướng đặt ra rõ rệt: quay về với cội nguồn, với con đường dân tộc.


Tòa soạn gồm các vị uyên thâm chữ Hán giỏi Tây học như :Ưng Hòe Nguyễn Văn Tố, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Trần Văn Giáp, Dương Tự Quán, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Thiếu Sơn Lê Sỹ Quý, Lê Thanh, Phan Khắc Khoan, Phạm Mạnh Phan…


Cụ Phượng được đề cử làm chủ nhiệm. Tạp chí “Tri Tân” ra mắt bạn đọc được 211 số từ 3-6-1941 đến 8-11-1945 là một đóng góp không nhỏ cho công cuộc khảo cứu các giai đoạn lịch sử văn học, sử học của dân tộc, giới thiệu những tinh hoa của nền văn hóa truyền thống, khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, đề cao khí tiết kẻ sĩ làm người, các mỹ tục thuần phong thuộc đạo lý cũ…


“Tri Tân” là tờ báo duy n hất ngày đó chuyên hẳn về đề tài lịch sử vốn được coi là mảnh đất khô khốc, “cổ lỗ lạc hậu”, không thời thượng ăn khách như nhiều tờ khác thường khai thác những chuyện tình tâm lý nước mắt, những chuyện đâm chém, tự tử ngoài xã hội, lại biết sống tự trọng, giữ trọn vẹn nhân cách người làm báo, không bồi bút, không xu nịnh nên duy trì được tờ báo ra đều đặn trước con mắt cú vọ của hai Sở mật thám. Nhật và Pháp không phải là chuyện dễ dàng. Các vị đã phải góp tiền hùn vốn hoặc thu tiền số trước để số sau. Cụ Phượng bà đã phải về quê bán cả ruộng nương bố mẹ cho để đưa cho chồng làm báo. Cứ buổi tối các cụ lại họp nhau ở nhà cụ Phan Mạnh Phan ngõ Mai Hương để bàn số báo sau. Nhiều hôm ngồi rất khuya chuyện trò sảng khoái, cụ Phan bà lại vào bếp nấu nồi cháo gà bưng lên để các cụ “bồi dưỡng”. Ngày ấy các cụ làm báo rất vui chỉ cốt lấy tờ tạp chí liên tiếp được ra đúng kỳ đông bạn đọc chứ không quá chú trọng đến lợi danh tiền bạc.


Ngày 13-9-1945, cụ Nguyễn Tường Phượng đã đã được vinh dự yết kiến Hồ Chủ Tịch tại Bắc Bộ phủ. Cụ ghi trong hồi ký của mình: “Đứng trước nhà ái quốc quắc thước mà hiền từ đã bôn ba vì cách mạng, đã hy sinh cho đồng bào, tôi cảm thấy cuộc hội kiến ấy là một giờ phút rất thiêng liêng trong đời làm báo củ ato6i”… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thân mật tiếp ông chủ nhiệm báo “Tri Tân”. Cụ ôn tồn: “Văn hóa với chính trị rất có liên lạc với nhau, tinh thần cơ bản mà quý báo nêu ra từ trước vẫn còn tốt… “Tri Tân” tức là phải có chính trị…” Xem đến số đặc san Trần Hưng Đạo, cụ nói: “Chia rẽ là diệt vong” và “Chiến đấu”, cụ tủm tỉm: “Đây các ngài đã bắt đầu làm chính trị rồi, tức là các ngài thi hành thời kỳ tri tân đó”… Trước khi chia tay, cụ chủ tịch nước còn nói thêm: “Tôi xin chúc quý báo trường cửu để theo đuổi công việc văn hóa và sát cánh với Chính phủ để củng cố nền độc lập”.


Hơn ba tháng sau ngày Cách mạng thành công, cụ Phượng đã cùng một số nhà báo yêu nước và dân chủ đứng ra vận động thành lập Đoàn báo chí Việt Nam (28-12-1945) mục đích gây tình đoàn kết thân thiện giữa các bạn đồng nghiệp, bảo vệ quyền lợi tinh thần và vật chất của người làm báo. Cụ Nguyễn Tường Phượng được bầu làm chủ tịch. Tổng thư ký là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Đây có thể được coi như tiền thân sơ khai của Hội Nhà báo Việt Nam hôm nay.


 


Kháng chiến bùng nổ (19-12-1946), cụ Phượng đem gia đình ra vùng tự do. Từ Bắc Ninh, Hưng Yên rồi sang Thái Bình.


Thời kỳ sau, cụ Phượng công tác ở Ban dân quân tỉnh Thái Bình rồi làm Phó chủ tịch văn hóa kháng chiến liên khu III chủ bút báo “Tiếng nói của dân” và tạp chí “Sóng mới” do ông Hoàng Tùng làm chủ nhiệm. Ngoài ra theo lời mời của giáo sư Hoàng Như Mai (hiệu trưởng) cụ còn tham gia việc giảng dạy văn học sử tại hai trường trung học Quang Trung và Phan Thanh (Thái Bình). Cuộc đời nhà giáo sau này của cụ coi như được khởi đầu từ đây.


Trong bài Học giả Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, giáo sư Hoàng Như Mai viết:


“Tôi được trực tiếp làm người bạn vong niên của cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng từ năm 1948. Khi ấy Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Thái Bình thành lập một trường trung học chuyên khoa tư thục ở địa điểm làng Cổ Khúc, huyện Tiên Hưng. Trường mang tên chiến sĩ xã hội Phan Thanh. Ban giảng viên của trường gồm nhiều nhà văn nghệ, như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, lê Đại Thanh, Hoàng Công Khanh… Trường mời nhà sử học v giảng dạy môn Lịch sử Việt Nam. Tôi được cử giữ chức vụ Hiệu trưởng.


Hồi ấy chiến tranh chưa lan rộng đến tỉnh Thái Bình. Tỉnh Thái Bình vốn là đất hiếu học, lại có nhiều gia đình tản cư về đấy, nên học sinh trường Phan  Thanh rất đông. Họ được học các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếng, nên thích học lắm. Đặc biệt vị giáo sư lão thành Nguyễn Tường Phượng được học sinh vừa kính trọng vì kho kiến thức uyên bác, vừa yêu mến vì tấm lòng độ lượng như cha đối với con. Có một chuyện vui, chính cụ Nguyễn Tường Phượng kể lại trong một cuộc họp hội đồng giáo sư: Cụ vừa bước vào lớp - lớp là một gian đình làng - thì có tiếng hô to: “Sử bò! Sử bò!”. Sử bò nói lái là bỏ sừ. Tức là thầy Phượng đến rồi đấy, sắp kiểm tra bài học. Nguy rồi! Học sinh gọi giờ Sử là giờ Sử bò. Cụ Nguyễn Tường Phượng không những không giận mà còn khen học sinh thông minh, giỏi chơi chữ. Cụ nói thêm: “Các cháu gọi môn Sử của tôi là sử bò rất đúng. Phải bò ra mà học, không thuộc bài không được với tôi”!


Cụ Nguyễn Tường Phượng còn dạy Sử ở một trường khác là Trường Quang Trung (cũng là tư thục) ở thị trấn Đống Năm. Đống Năm cách Cổ Khúc khoảng 5, 6 cây số. Nhà ở Cổ Khúc, ngày nào có giờ dạy ở Trường QuangTrung, cụ đi bộ ra Đống Năm lưng đeo một cái túi đựng đầy sách và bài làm của học sinh. Cụ nói: “Tôi đi đâu cũng “thồ” bài làm của học sinh đi, có khi mệt, ngồi nghỉ ở gốc cây vệ đường tôi lấy bài ra chấm đỡ lãng phí thời gian”. Cụ vốn có tác phong làm việc không biết mệt mỏi.


Đầu năm 1950, quân Pháp từ bốn phía kéo đến vây chặt tỉnh Thái Bình. Muốn thoát ra ngoài vòng vây chỉ có một cách là ban đêm mạo hiểm vượt sông Hồng. Mấy chúng tôi, trẻ khỏe tính vượt sông. Cụ Nguyễn Tường Phượng viết cho  tôi một lá đơn, không phải một bức thư là một lá đơn trịnh trọng. Đại khái cụ báo với tôi là Hiệu trưởng, về hoàn cảnh của cụ: hai vợ chồng già va hai con còn nhỏ tuổi, không có sức vượt sông được, xin phép được tạm thời ở lại trong vùng địch chiếm đóng và hứa kiên quyết không làm gì hại cho danh dự của Tổ quốc, không làm việc cho giặc. Tôi còn nhớ có một đoạn cụ viết: “Tôi tài hèn, sức mọn, không đi cùng các ông được, tôi hổ thẹn vô  cùng; tôi khóc và chắp tay hướng về Việt Bắc xin Cụ Hồ tha tội cho tôi. Tôi xin thề trước Cụ Hồ, thân này dù có bị hãm trong vòng vây của giặc, lòng này không bao giờ quên kháng chiến”.


Tôi đọc lá đơn mà ứa nước mắt vừa cảm kích tấm lòng yêu nước của nhà sử học, vừa cảm thương người bạn già bị mắc kẹt nơi hiểm địa, không biết có an toàn không.


Mấy anh em chúng tôi không có cách gì giúp đỡ cụ được, cũng rất khổ tâm. Nhưng chính chúng tôi cũng chưa chắc gì có vượt sông cùng vợ con được, sống chết ra sao chưa biết, nên cũng đành ân hận chia tay với cụ.


Sau đó cụ và gia đình bị quân Pháp lùa về Hà Nội, cũng như nhiều bạn bè văn nghệ sĩ có tên tuổi khác.


Năm 1951, nhóm nghệ sĩ Hoa Quỳnh kịch xã tổ chức công diễn vở kịch Tiếng trống Hà Hồi tại nhà hát lớn Hà Nội.


Vở kịch này do tôi sáng tác năm 1947 và Ban kịch Hội Văn hóa kháng chiến tỉnh Hưng Yên đã công diễn nhiều lần ở Hưng Yên và Thái Bình.


Nhóm nghệ sĩ Hoa Quỳnh kịch xã là các diễn viên đã diễn vở kịch ấy ở vùng tự do, kháng chiến. Đề tài của kịch là cuộc tiến quân của vua Quang Trung vào Thăng Long, đại phá hai mươi vạn quân Thanh. Ai cũng thấy rõ ý đồ của kịch là mượn truyện lịch sử để cổ vũ tinh thần kháng chiến, chuyển mạnh sang tổng phản công.


Với nội dung như vậy, diễn ở vùng kháng chiến thì thích hợp. Nhưng diễn giữa Hà Nội thì khác nào tuyên truyền tổng phản công ngay trước mũi bọn thực dân xâm lược. Thế mà học giả Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng khẳng khái đứng lên làm cố vấn cho đoàn kịch và viết một bài giới thiệu đầy hào khí.


Mở đầu, học giả Nguyễn Tường Phượng viết: “Lần đầu tiên kịch “Tiếng trống Hà Hồi” ra mắt dân chúng nếu tôi không quên, là ở một gian đình trong hạt Tiên Hưng, Thái Bình.


Vừa đây “Tiếng trống Hà Hồi” lại được tái diễn ở ngay Nhà hát lớn Hà Nlo65i, kinh thành Thăng Long cũ, nơi đã ghi dấu tích của chiến công oanh liệt và đã đánh dấu một giai đoạn lịch sử tranh đấu của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ thứ “XVIII”.


Kết luận, học giả viết:


“Hơn một lần nữa, bất cứ trong một giai đoạn lịch sử nào, tinh thần dân tộc cũng là một yếu tố quan trọng để tạo nên những cuộc chiến thắng rỡ ràng, và  là một sức mạnh vô song để bảo vệ sơn hà xã tắc. Vì “lòng dân là lòng giời” nên chính cái lòng dân căm thù quân T Hanh, oán ghét Lê Chiêu Thống đã là một khí giới vô cùng mạnh mẽ giúp vua Quang Trung giải phóng Bắc Hà và tiêu diệt 20 vạn quân Thanh một cách dễ dàng vậy”.


(Trích từ: Tiếng trống Hà Hồi,


Nhà xuất bản Vĩnh Thịnh, Hà Nội, 1951).


Học giả đã giữ đúng lời thề: Thân này dù có bị hãm trong vòng vây của giặc, lòng này không bao giờ quên kháng chiến.


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi về thủ đô, tìm gặp cụ. Việc đầu tiên là cụ lấy trong tủ ra một cuốn Tiếng nói Hà Hồi có lời tực của cụ mà cụ cất giữ suốt 3 năm, đưa tặng tôi. Tôi mở sách, ngay trang đầu có lời đề tặng của cụ viết từ năm 1951. Cụ tin là kháng chiến thế nào cũng thắng lợi, thế nào cụ cũng gặp lại tôi. Thật là cảm động!


Những năm ở trong Hà Nội tạm bị chiếm, cụ chỉ dạy học, không làm gì khác. Sau năm 1954, cụ tiếp tục dạy ở Trường Chu Văn An.


Cụ bao giờ cũng vẫn nhiệt tình sôi nổi trong công việc. Cụ thường băn khoăn vì các thầy cô giáo trẻ ít hiểu rõ văn chương của ông cha; có lần một thầy giáo dạy bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, đến câu: Vái ta mà thưa rằng, thầy nhất định bảo là Vái tạ. Theo cụ, Trương Hán Siêu không thể hách dịch nói các cụ lão vái tạ mình (tức là vái Trương Hán Siêu). Một lần khác cụ rất khổ tâm vì có thầy giảng câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi”, không hiểu nghĩa chữ lương lư, cho là cái lư hương và bình: Khi mình thất thế thì đến cái lư hương cũng ngoảnh mặt đi, không thèm ngó ngàng gì đến mình nữa(!)


Sau khi nghỉ hưu cụ làm việc cho Bộ Văn hóa và soạn sách. Cụ tham gia nhóm soạn Lược khảo tác gia Việt Nam, cụ soạn sách Lịch sử khu phố. Cụ làm việc hăng say lạ thường tuy tuổi đã cao”.


Sau 1954, Tiên Đoàn Nguyễn Tường Phượng đã tham gia nhóm biên soạn sách Lược truyện các tác gia Việt Nam gồm 2 tập (Nxb Khoa học Xã hội, biên soạn cuốn Danh nhân Hà Nội, biên soạn cuốn Trạng Nghè Cống (Sở Văn hóa Thông tin Hà Bắc xuất bản).


Cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng đã qua đời năm 1974 tại Hà Nội.


Ngày 24-5-1997, một niềm vui đã đến với gia đình con cháu cụ: Hội Nhà báo Việt Nam đã quyết định truy tặng huy chương “Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam” cho nhà báo Nguyễn Tường Phượng, nguyên chủ tịch Đoàn báo chí Việt Nam năm 1945, người đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp báo chí Việt Nam.


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »