tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524923
Lý luận phê bình văn học
29.04.2010
Hoài Anh
Lê Thước - Với cuốn nghiên cứu PBVH đầu tiên trong văn học quốc ngữ

Lê Thước sinh năm 1890 ở làng Lạc Thiên, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình nhà nho. Ông tốt nghiệp bằng Thành chung Trường Quốc học Huế và được bổ làm giáo học trường Tiểu học Vinh. Năm 1918, ông thi đậu giải nguyên khoa thi Hương cuối cùng của trường Nghệ. Ba năm sau, ông tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Hà Nội với một luận án xuất sắc khiến nhiều người ngạc nhiên. Ông lại được bổ về làm giáo sư trường Quốc học Vinh mới thành lập. Khi đó người ta được biết ông như một nhà giáo trẻ, có uy tín ham thích khảo cứu văn học. Người ta cũng gặp ông trong các hoạt động của những phong trào sôi nổi ở Vinh lúc bấy giờ: phong trào truy điệu Phan Chu Trinh, thành lập Đảng Tân Việt mà cậu ruột ông là cụ giải nguyên Lê Văn Huân là một trong những nhà lãnh đạo. Có chữ ký của ông dưới bức thư của các vị đại biểu trí thức viên chức, quan lại Nghệ An gửi vào Huế cho cụ Phan Bội Châu, năm 1925 xin cụ giữ vững phẩm tiết để trọn niềm ái mộ với đồng bào.


Trong những năm 1924-1928, ông đã cùng với Le Breton, một nhà giáo tiến bộ người Pháp dự kiến soạn bộ Địa chí Nghệ Tĩnh, như kiểu hội Đô thành Hiếu cổ ở Huế. Đáng tiếc, Hội này đã không tồn  tại lâu dài. Lê Thước chỉ giúp cho Le Breton được một số việc như dịch thuật văn bản, thu thập tư  liệu để biên soạn những công trình nghiên cứu địa phương để sau đó Le Breton hoàn thành sách Le Vieux An Tịnh (1936).


Đầu tiên Lê Thước cộng tác với Phan Sĩ Bàng viết cuốn Truyện cụ Nguyễn Du. Tiếp đó Lê Thước viết cuốn Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ xuất bản ở Hà Nội, năm 1928. Đây có thể coi là cuốn phê bình văn học đầu tiên của văn học quốc ngữ.


Theo Rene Wellek trong cuốn The Rise of English Literary History, khoa văn học sử chỉ thành hình “khi mà công việc của người viết tiểu sử các danh nhân và công việc của người phê bình văn học được phối hợp trong thể tài thuật sự”. Cuốn Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ chính là đã kết hợp việc viết tiểu sử danh nhân và phê bình văn học, với công phu sưu tầm tích lũy, xử lý tư liệu: văn học, sử học, địa phương học v.v… và phương pháp nghiên cứu khoa học trước chưa từng có. Còn về dung lượng thì chưa có một cuốn sách nào về Nguyễn Công Trứ cho đến nay vượt được.


Lê Thước đã giữ cương vị Đốc học (tức Hiệu trưởng) các trường tiểu học ở Vinh, Hà Nội, Thanh Hóa, Lạng Sơn… cho đến khi bị cắt chức, buộc về hưu non (1943).


Phải đến sau Cách mạng Tháng Tám 1945 ông mới được trở lại hoạt động, có lúc phụ trách một Ủy ban tăng gia sản xuất, có lúc là ủy viên chấp hành Trung ương Mặt trận Liên Việt.


Từ năm 1955, ông làm việc ở Nha Giáo dục phổ thông, Ban tu thư Bộ giáo dục, ở Vụ Bảo tồn Bảo tàng Bộ Văn hóa cho tới ngày về hưu. Ông đã viết nhiều công trình nghiên cứu sử học, văn học và dịch thuật trong thời gian này:


- Văn thư Nguyễn Khuyến (soạn chung - 1957).


- Hồ sơ di tích Nguyễn Trãi (sách tư liệu đại học Sư phạm 1960).


- Niên biểu Việt Nam (soạn chung, 1963).


- Một số tài liệu nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều (Đại học Sư phạm Hà Nội, 1963).


- Nhận xét một số di tích và hiện vật gốc về thời Tây Sơn (1964).


- Bản đối chiếu niên hiệu Trung Quốc với niên hiệu Việt Nam và năm dương lịch (sách tài liệu Đại học Sư phạm I, 1967).


- Một sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX - Cụ nghè Ngô Đức Kế (cùng viết với Trương Chính, Tạp chí Văn học số 3, H., 1969).


Khi tôi được phân công biên tập bộ sách Danh nhân Hà Nội của Hội Văn Nghệ Hà Nội, người đầu tiên tôi đến bái phỏng là Lê Thước. Sau khi gặp cụ ở ngôi nhà phía dưới là hiệu sách ở phố Huế, tôi ngỏ lời mời cụ viết bài. Cụ nhận lời viết về Nguyễn Du và bảo tôi đến gặp ông Trương Chính để nhận bài cụ viết chung với ông. Ông Trương Chính cho biết mỗi tuần ông đến làm việc một ngày ở phố Bát Đàn, tôi cứ đến đó lấy bài. Thế là sau đó tôi đã có một loạt bài về Nguyễn Du, để in trong cuốn Danh nhân Hà Nội tập 1.


Ngày 1-10-1975 Lê Thước qua đời ở Hà Nội, thọ 85 tuổi.


Trong chương V Địa vị cụ Nguyễn Công Trứ trong quốc văn, sách Sự nghiệp và thi văn của Uyên Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, Lê Thước viết:


“Cổ nhân thường ví người ta với cái cây, văn chương tức là cái hoa, sự nghiệp tức là cái quả, cây có mạnh thì hoa mới đẹp quả mới tốt. Nhưng những cây hoa đẹp chưa hẳn đã có quả tốt, mà những cây quả tốt chưa hẳn đã có hoa đẹp. Cũng như những người văn chương hay, chưa chắc sự nghiệp đã tốt, mà những người làm nên sự nghiệp tốt, chưa hẳn văn chương đã hay. Như cụ Nguyễn Công Trứ thì mới thật là hoàn toàn. Sự nghiệp đã lừng lẫy mà văn chương lại tuyệt vời, nhất là văn Nôm của cụ thì lại càng đặc sắc lắm. Cụ chỉ dùng những tiếng người ta thường đọc, thường nghe, nói ra tức là thành văn, không nắn nót chạm gọt như các nhà văn sĩ khác. Lời văn của cụ vừa nhẹ nhàng, vừa chất phác, trông vào không thấy gì là cao kỳ, mà đọc lên nghe rất thú vị, trông vào không có gì làm thâm thúy, mà đọc lên ý thật dồi dào, lời không chải chuốt mà hay, văn không trau dồi mà lịch, thiệt là cơ trữ nhất gia.


Trong Quốc văn ta, giai nhân kiệt tác cũng nhiều, song thường thiên về lối văn sầu cảm, giọng văn như vượn hót, như quyên kêu, “rằng hay thì thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”. Lối văn ấy phần nhiều là những lời chán đời, ghét đời, đọc lên làm hèn mất cái lòng nguyện vọng và cái chí tiến thủ của người ta. Văn của cụ Nguyễn Công Trứ thì khác thế, tuy rằng cụ ra ở đời, gặp lắm nỗi éo le, thấy nhiều điều hèn mạt, thì cụ cũng có khi than đời, trách đời, song cụ không vì thế mà hở ra giọng văn ghét đời, chán đời bao giờ. Cụ thật có cái hy vọng làm cho đời xấu nên tốt, dở hóa hay, quyết đem cái chí khí hòa bão mà thêu dệt non sông cho thành vẻ gấm vóc:


Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,


Không công danh thời nát với cỏ cây.


Tang bồng hồ thỉ dạ này khuây,


Phải hăm hở ra tài kinh tế.


Ta đọc đến lời văn cụ, tự nhiên sinh lòng hăng hái, muốn đi, muốn chạy, muốn đem thân gánh vác việc đời, để giúp đời cho khỏi những nỗi bi ai khốn khổ. Ấy cũng bởi cụ đối với đời có cái quan niệm như thế, cho nên cụ đã thổ lộ ra một áng văn chương có khí lực hùng dũng, dầu ai oán mà không làm cho bi sầu, dẫu mỉa mai mà không làm cho đau đớn. Đương cái thời đại cạnh tranh này, kẻ thời bôn xu quá, đến nỗi quên mất liêm sỉ, kẻ thời nhu nhược quá, đến nỗi sinh ra chán đời, quốc dân ta nếu muốn chấn khởi cái tinh thần, bồi thực cái khí tiết, cho ngày một mạnh mẽ thêm lên, thời cái lối văn chương hùng tráng này há lại không nên sùng bái lắm ru.


Nói về văn thể, thì cụ Nguyễn Công Trứ rất là rắn rỏi, xác thực không hiểu cách hào nhoáng, không vu khoát hàm hồ(1), khi thì lấy bản thân mà tự luận, khi thì lấy thế sự mà lập ngôn, ít ra ngoài cái phạm vi nhân  tình thế thái, cho nên một câu văn, một khúc hát, đều là một bài học rất hữu ích cho người ta về cách xử thế lập thân. Tuy rằng cũng thơ, cúng phú, cũng tì bà, bắc bản, nam bình, nam ai, song lời văn của cụ đã thành một lối riêng, nhất là về lối ca trù, thì có lẽ xưa nay chưa ai sánh kịp.


Cái đặc sắc của văn ta và văn Tàu là lối văn đối chữ và đối ý. Lối văn ấy cũng là một lối văn hay, song nhiều khi bó buộc quá, đến nỗi cái lời làm hại cái ý, khiến cái ý phải tắc tụng lại, không lưu thông đi được. Cụ Nguyễn Công Trứ cũng có dùng lối văn ấy, cũng đối ý đối chữ, song cụ đối một cách dễ dàng thanh thoát cho nên chữ dù đối mà ý vẫn trôi chảy. Đại loại như những câu này:


Ai hay lặn lội đo mồm cá,


Mà biết vuông tròn uốn lưỡi câu…


Nghĩ mình hay nhịn cho nên dại,


Thấy kẻ nhiều điều cũng hết khôn…


Ý tứ đã chính đáng, văn chương lại hùng hồn, thế thì cụ Nguyễn Công Trứ cũng là một bậc công thần trong văn giới nước ta, tuy rằng văn cụ không có cái ba lan bảng lảng, cái thú vị yêm đềm như vặn Truyện Kiều hay văn Tần cung oán, song về phần ảnh hưởng trên sự hành vi của người ta, thì có lẽ bổ ích hơn. Lấy theo tâm lý mà xét, thì cụ Nguyễn Công Trứ là một người lý tưởng nhiều mà tình cảm ít, việc gì cũng lấy trí mà xét, lấy lẽ mà suy, cho nên cụ sở trường về lối văn phúng thế mà ít thích về lối văn tả tình.


Tây triết có nói rằng: “Đời người đối với kẻ hay cảm xúc thì là một cái bi kịch, mà đối với kẻ hay tư tưởng thì là một cái hí kịch (La vie est une tragédie pour ceux qui sentent et une comédie pour ceux qui pensent). Những người đa sầu đa cảm như cụ Nguyễn Du, Ôn Như Hầu thì thấy việc gì trái ý cũng lấy làm đau đớn xót xa mà phát ra những lời văn bi sầu thảm thiết, ai nghe cũng phải cau mày nghiến răng. Còn như cụ Nguyễn Công Trứ thì là một người hay tư tưởng, cho nên những vui, buồn, sướng, khổ trên đời, toàn là trò chơi cả, không đủ làm cho cụ động lòng. Cái đời người ta:


Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,


Cảnh phù du trông thấy cũng buồn cười.


Cụ không kể ra gì đã đành, dẫu đến trời đất cổ kim, cụ cũng hí lộng:


Cơn chếnh choáng xây vần trời đất lại,


Chốc ngâm nga, xáo trộn cổ kim đi.


Tuy nhiên đã sinh ra đời thì phải gánh vác việc đời, cho khỏi phụ cái ngày xanh của tạo vật, chứ:


Cái hình hài đã chắc thiệt chưa,


Mà lẻo đẻo khóc sầu chi rứa mãi.


Trọn một đời cụ, biết bao phen chìm nổi, bao nỗi đắng cay, làm tôi trung mà bị nghi ngờ, làm quan giỏi mà bị cách giáng, như hạng người thường mà ở địa vị cụ thì cái nhuệ khí đã tỏa chiết mất rồi, thế mà cụ thì cứ ung dung tự nhược, chí không sờn, lòng không ngã, ấy cũng vì cụ không lấy cái bả vinh hoa, mùi phú quý làm quan trọng. Sở dĩ cụ chăm làm việc đời là vì thương đời, chứ không phải cốt để lập công danh với đời, như người ta thường tình.


Đã mang tiếng ở trong trời đất,


Phải có danh gì với núi sông.


Cái danh như thế thì mới thật là xứng đáng và vững bền. Lòng người đen bạc, miệng thế thị phi, cái biển vàng có thể đục đi được, cái bia đá có thể dục lại được, chứ rừng vàng bể bạc của cụ đã lập ra ở Tiền Hải, Kim Sơn thì đến bao giờ cũng còn ghi tạc cái danh thơm của cụ”.


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 




(1)  Cụ rất ghét các nhà văn sĩ ngô nghê, có lời mà không có ý tưởng, nên nghe nói cụ có câu này để chê bọn văn sĩ rởm: Sông Nhị Hà ba mươi thước nước, chim ăn chim béo, cá không ăn, cá bay về núi Hoành Sơn. Tưởng đương sơ Thang Võ chi hưng, ông loèm ông loẻm ông loem, tổng bất ngoại bò vàng chi liếm lá.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »