tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078058
Lý luận phê bình văn học
28.04.2010
Hoài Anh
Nguyễn Văn Ngọc, Người góp phần bảo tồn vốn quý dân tộc

Nguyễn Văn Ngọc hiệu Ôn Như, tự Đông Trạch, quê làng Hoạch Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nhưng sinh tại Hà Nội ngày 1-3-1890.


Tốt nghiệp trường Thông ngôn năm 1907, sau đó dạy trường tiểu học Clémenceau (Bờ Sông) rồi trường Sĩ Hoạn (Hậu bổ), trường Sư phạm đều tại Hà Nội… rồi làm Thanh tra các trường Tiểu học Bắc Kỳ phụ trách Tu thư cục của Nha học chính Đông Dương. Năm 1934 làm Đốc học tỉnh Hà Đông.


Ông làm Hội trưởng Hội Ái hữu các nhà giáo từ 1925-1927, làm Phó hội trưởng Hội Phật giáo năm 1935.


Ông là một trong những nhà sưu tầm hiện soạn sách văn học nổi tiếng giai đoạn đầu thế kỷ XX và là người viết nhiều sách nhất trong nhóm “Cổ kim thư xã” do ông và anh là Nguyễn Quang Oánh (1888-1946) lập. Ông viết sách bằng tiếng Việt và cả tiếng Pháp.


Ông đã lần lượt cho ra đời 18 công trình, sơ bộ tính khoảng hơn 5.000 trang, thuộc nhiều lĩnh vực.


1. Về giáo dục:


Phổ thông độc bản (1922), Phổ thông độc bản lớp đồng ấu (1930), Luân lý giáo khoa thư (1932), Giáo khoa văn học An Nam (cùng với Trần Trọng Kim chữ Pháp, 1936), Đông Tây ngụ ngôn (1927) gồm 2 quyển viết theo thể thơ lục bát và song thất lục bát. Phần nhiều là phóng tác dựa trên những ý tưởng của ngụ ngôn dân gian Đông Tây.


2. Về khảo cứu:


Cổ học tinh hoa (cùng với Trần Lê Nhân. 1925), cung cấp những mẩu chuyện có tính triết học, luân lý trong văn hóa Trung Hoa.


Nam thi hợp tuyển (1927) Tuyển chọn những bài thơ hay thời cổ nước ta. Ông luôn khảo sát rất cẩn thận, sau mỗi bài thơ có bình giảng, chú giải điển tích và chép thêm dị bản để so sánh với bản chính.


Đào Nương ca (1932) Ghi chép được hơn 100 bài hát nói được chia làm nhiều mục theo đề tài. Tác giả còn có bài giới thiệu về thể hát nói, cách sáng tác, về bối cảnh mà bài hát xuất hiện.


3. Về sưu tầm biên soạn văn học dân gian.


Tục ngữ phong dao (1928) Gồm 2 tập, ghi chép 6.500 câu tục ngữ, 850 bài ca dao được sưu tập trong dân gian và sách cổ.


Nhi đồng lạc viên (1929) Sách viết cho trẻ em đọc để giải trí có tính giáo dục. Là một trong những cuốn sách viết cho nhi đồng đầu tiên đầu thế kỷ XX.


Để mua vui (1929) là tập truyện cười dân gian Việt Nam gồm 259 truyện. Được ghi lại với văn phong nhẹ nhàng trong sáng.


Câu đối (1931) ông đã sưu tầm được 350 câu đối, biên khảo rất công phu, ông chia câu đối thành những loại và sau mỗi câu là một đoạn dẫn giải về xuất xứ và có lời bình, có khi kèm theo một giai thoại văn học lý thú.


Truyện cổ nước Nam là tập sưu tầm những truyện cổ tích, truyện cười dân gian, gồm 4 tập, nhưng mới in được 2 tập: Người ta (1932), Chim muông  (1934) gồm 249 truyện.


Truyện Ngụ ngôn (1935) sưu tầm thơ ngụ ngôn của nước ta và một số bài do ông sáng tác.


Trong bài tựa cuốn Nam thi hợp tuyển, ông viết:


“Các lối thơ riêng.


Ngoài lối  thơ bát cú, tứ tuyệt là những lối chính luật nghiêm trang, còn có những lối thơ khác, ta có thể gọi gồm cả là các lối riêng:


Liên hoàn: Liên hoàn là lối làm nhiều bài thơ cùng theo đuổi một ý, mà cứ đem câu cuối bài trước xuống làm câu đầu bài sau.


Tràng thiên hay hành: Tràng thiên hay hành là lối thơ thất ngôn làm quá tám câu hay lối thơ ngũ ngôn làm quá mười sáu câu đã gần như lối ca.


Họa vận: Họa vận là lối một người làm một bài xướng lên, một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng, hoặc trái hẳn lại.


Liên ngâm: Liên ngâm là lối nhiều người lần lượt mỗi người ngâm một hay hai câu liền vào cho thành bài thơ.


Ba lối này làm, là vì một người có nhiều ý diễn trong một bài chưa hết, hoặc vì có hai hay nhiều người muốn cùng ngâm họa với nhau.


Thủ vĩ ngâm: Thủ vĩ ngâm là lối thơ câu cuối bài làm nhắc lại y như câu đầu.


Song điệp: Song điệp là lối thơ trong mỗi câu có hai chữ đi dịp với nhau.


Vĩ tam thanh: Vĩ tam thanh là lối thơ ba chữ cuối cùng câu nào cũng đi theo một âm.


Triết hạ: Triết hạ là lối thơ câu nào làm cũng bỏ lửng như chưa hết, khiến người đọc phải nghĩ ra.


Thuận nghịch độc: Thuận nghịch độc là lối thơ làm đọc xuôi bài xuống, hay đọc ngược bài lên cũng thành câu, cũng có nghĩa.


Kể năm lối này, ngoài lối thủ vĩ ngâm, thì bốn lối kia là những lối chỉ vì hiếu kỳ mà làm, ít khi được thực hay. Ba lối dưới là lối riêng của thơ Nôm, chứ thơ Hán không có.


Liên châu: Liên châu là lối thơ tràng thiên dùng nguyên một vần mà câu nào cũng có vần.


Cô nhạn xuất quần: Cô nhạn xuất quần là lối trong một bài thơ, vần câu đầu làm khác hẳn, không giống mấy vần dưới.


Cô nhạn nhập quần: Cô nhạn nhập quần là lối trong một bài thơ, mấy vần trên đi chung với nhau, chỉ một vần câu cuối làm khác hẳn đi.


Yết hậu: Yết hậu là lối thơ tứ tuyệt ba câu trên thì đủ chữ, còn câu cuối thì hạ có một chữ mà thôi.


Kể bốn lối này mới thực là bốn lối riêng, hoặc vần làm khác, hoặc lối chữ dùng khác.


Mấy điều kỵ trong thơ.


Phép làm thơ có mấy điều tối kỵ không nên phạm đến:


Thất luật: Trong một bài, những chữ đáng bằng mà ra trắc, đáng trắc mà làm bằng thì gọi là thất luật.


Thất niêm: Trong một bài, nếu câu trên đang theo luật bằng mà câu dưới làm sang luật trắc, hay câu trên đang theo luật trắc mà câu dưới làm sang luật bằng thì gọi là thất niêm.


Lạc vận: Khi làm thơ, đang theo vần này mà gieo sang vần khác, như vần trên là trời mà vần dưới là mây thì gọi là lạc vận.


Xuất vận: Khi làm thơ, người ta đã hạn định cho những vấn vần gì, mà mình lại dùng vần khác, thì gọi là xuất vận.


Trùng vận: Khi trong bài thơ, một vần, câu trên đã dùng rồi, câu dưới lại dùng như thế nữa, thì gọi là trùng vận.


Cưỡng áp: Khi trong bài thơ, các vần gieo ép uổng, không được hiệp lắm, thì gọi là cưỡng áp.


Khổ độc: Trong một bài thất ngôn, chữ thứ ba các câu chẵn, trong một bài ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu chẵn đáng là chữ bằng mà làm ra chữ trắc, thì gọi là khổ độc (xem lại nhất tam bất luận).


Phong yêu hạc tất: Trong thơ thất ngôn, chữ thứ tư và chữ thứ bảy, trong thơ ngũ ngôn, chữ thứ hai và chữ thứ năm nếu trùng một âm thì gọi phong yêu hạc tất.


Đối không chỉnh: Khi những chữ trong bài thơ phải đối nhau mà chữ nặng chữ nhẹ không được cân, thì gọi là đối không chỉnh.


Trùng chữ hay trùng ý: Trong một bài thơ chữ này hay ý này đã dùng rồi, mà lại còn dùng lần nữa, thì gọi là trùng chữ hay trùng ý…


Một bài thơ hay.


Kể một bài thơ thế nào là thực hay, nghĩa là được cả toàn bích, thì vô cùng: sự hay sự đẹp thường thì không thể phân tách và ở trên cả sự phê bình. Nhưng đại để một bài thơ hay bất ngoại mấy điều này:


Thể tài: Nghĩa là chữ dùng phải cho sát nghĩa, âm vận phải cho phân minh; câu đặt phải cho chỉnh tề; mạch lạc phải cho liên tiếp; thiên chương phải cho hợp chính thức.


Kì thú: Nghĩa là tư tưởng phải cho tự nhiên chẳng nên điêu luyện, cầu kỳ quá: phải cho hồn hậu chớ có khinh bạc, phù phiếm quá; phải cho kỳ ảo, không thì là tạp nhạp, nông nổi; phải cho thanh nhã, không thì là thô bỉ quê mùa; phải cho chính mật, thì nó mới không rời rã trống trải; phải cho khoái hoạt, thì nó mới không khô khan đờ đẫn; phải cho hùng kiệt, thì mới có khí lực mạnh mẽ; phải cho thú vị, thì mới khiến người ngâm lấy làm vui thích, răng lợi được như ướp hương thơm, môi lưỡi được như nếm vị ngọt…


Một bài thơ, chữ khiến tài, câu đặt khéo, ý dụng hay như thế mới là một bài thơ thoát hóa có thể khiến cho người xem chỉ biết chịu là hay mà không rõ cái hay ở đâu, khác nào như người thưởng xuân, tới hoa để tìm xuân, mà không biết xuân ở chỗ nào”.


Trong cuốn Câu đối, Nguyễn Văn Ngọc viết:


PHÉP LÀM CÂU ĐỐI


“Câu đối: Câu đối là câu đi đôi với nhau.


Đối tức là ngẫu mà ngẫu nghĩa là đôi. Vậy đối tức là một đôi; tiếng đôi nôm na như ta nói: đôi đũa, tốt đôi, vốn gốc ở chữ đối mà ra.


Liễn: Lối thơ, văn đi đôi với nhau gọi là Liễn.


Chữ Liễn là đọc chạnh ở chữ liên ra. Ta thường dùng chữ liễn để chỉ hai bức dài làm bằng giấy bồi, bằng vóc lụa, dưới có trục, dùng để viết câu đối. Khi nói một câu liễn, tức là chỉ một đôi câu đối viết vào bức giấy ấy.


Người Tàu thường dùng hai chữ doanh liên hay doanh thiếp để chỉ câu đối và nghĩa là liễn hay giấy dán cột nhà.


Vế câu đối: Câu đối có hai câu, mỗi câu gọi là một vế.


Khi tự mình làm lấy cả hai câu, muốn phân biệt câu nọ với câu kia, thì gọi một vế là vế trên, một vế là vế dưới. Khi người ta làm một vế để cho mình làm vế kia, thì vế người ta làm gọi là vế ra, vế mình làm gọi là vế đối.


Số chữ trong câu đối: Kể ra thì có thể đối từ một chữ trở lên đến nhiều chữ.


Những câu đối từ một đến ba chữ gọi là câu tiểu đối.


Những câu đối năm chữ hay bảy chữ, thuộc về thể thơ, nên gọi là câu đối thơ.


Những câu đối bốn chữ hay sáu chữ cũng là câu đối, vì thơ cũng có lối tứ ngôn và lục ngôn. Nhưng những câu ấy không theo luật thơ.


Những câu đối tám chữ, thì cho thuộc về thể thơ hay thể phú cũng được.


Những câu đối từ chín chữ trở lên thuộc về thể phú (song quan, cách cú) nên gọi là câu đối phú.


Câu đối phú thường chia làm hai đoạn, hoặc đoạn trên ngắn bốn, năm chữ, đoạn dưới dài bảy, tám chữ, hoặc đoạn trên dài bảy, tám chữ, đoạn dưới ngắn bốn, năm chữ.


Những câu đối dài có khi đến sáu, bảy mươi chữ cũng thuộc về hạng câu đối phú.


Những câu đối phú bất cứ mấy chữ mà lấy chữ sẵn ở trong sách ra lại lấy chữ sẵn ở trong sách đối lại thì gọi là câu đối súc.


Luật bằng trắc: Cứ kể, thì đáng lẽ chữ vế bên này trắc thì chữ vế bên kia phải bằng, hay chữ vế bên này bằng, thì chữ vế bên kia phải trắc.


Những câu đối phú mà hoặc đoạn trên, hoặc đoạn dưới bảy chữ, thì đoạn bảy chữ ấy theo bằng, trắc như câu thất ngôn. Thí dụ:


Cung kiếm ra tay, thiên hạ để dồn hai mắt lại.


Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi.


Như hai câu đây, đoạn dưới bảy chữ là: “thiên hạ đổ dồn hai mắt lại” đối với “anh hùng chỉ có một ngươi thôi” theo đúng luật bằng, trắc của thơ.


Những câu đối phú chia làm nhiều đoạn, thì những chữ cuối cả bao nhiêu đoạn trên mà bằng, thì chữ cuối đoạn dưới cùng phải trắc; trái lại những chữ cuối cả bao nhiêu đoạn trên trắc, thì chữ cuối đoạn dưới cùng phải bằng. Thí dụ:


Đám công danh có chí thì nên: ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng; chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, ngôi tiên chỉ đó cùng là rất đáng.


Nhờ phúc ấm sống lâu lên lão: anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu; đàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa ai khéo vẽ nên tranh.


Mỗi câu đây chia làm bốn đoạn. Vế trên ba chữ cuối ba đoạn trước là: nên, vàng, trên bằng, thì chữ cuối, đoạn sau cùng là đáng phải trắc; vế dưới ba chữ cuối ba đoạn trước là: lão, sáu, trước trắc, thì chữ cuối đoạn sau cùng là tranh bằng.


Những câu đối dài năm, bảy mươi chữ cũng theo luật bằng, trắc như những câu đối phú, nghĩa là những chữ cuối nào cũng phải giữ cho đúng bằng, trắc thì thôi.


Khổ độc: Khổ độc tức là đọc không được xuôi tai. Như  trong một câu, chữ đáng bằng mà làm ra trắc, hay chữ đáng trắc mà làm ra bằng thế là khổ độc.


Mười mấy khoa còn gì, nhờ trời có phúc, có phận.


Năm mươi tuổi thành tài, mừng ông càng dẻo, càng dai.


Vế trên, chữ cuối đoạn trên gì đã bằng, vế dưới chữ cuối đoạn trên tài cũng bằng.


Thất luật: Câu đối, mà vế trên chữ cuối cùng đã trắc, vế dưới chữ cuối cùng lại trắc, hay vế trên chữ cuối cùng đã bằng, vế dưới chữ cuối cùng cũng lại bằng, thế gọi là thất luật. Thí dụ:


Lúa tám, gặt chín tháng một


Nồi tư, mua năm quan sáu.


Vế trên, chữ cuối một đã trắc, vế dưới chữ cuối sáu cũng trắc.


Câu đối chính mình làm cả hai vế, thì vế trên chữ cuối cùng bao giờ cũng phải trắc. Cho nên câu đối treo bao giờ cũng treo vế trắc bên tay trái, mà tay phải của người đứng ở ngoài trông vào trong nhà.


Nhưng khi mình ra một vế cho người ta làm, thì chữ cuối câu trắc hay bằng cũng được.


Một câu đối hay: Một câu đối hay thì:


Tư tưởng phải cho tự nhiên.


Ý nghĩa phải cho minh bạch.


Mạch lạc phải cho liên tiếp.


Nhưng vì câu văn đối ít chữ, cho nên một đôi câu đối hay lại cần nhất ở chữ dùng và âm hưởng các chữ ấy.


Chữ dùng trong câu đối cốt phải cho:


Chỉnh, nghĩa là đều nhau, bằng nhau.


Như chữ danh từ phải đối với danh từ: nhân đối với nghĩa - hình dung từ phải đối với hình dung từ: xanh đối với vàng, hay đỏ - động từ phải đối với động từ: ăn đối với uống - phó từ phải đối với phó từ: vô cùng đối với bất trị v.v…


Cân, nghĩa là chữ nặng phải đối với chữ nặng, chữ nhẹ phải đối với chữ nhẹ cho xứng đáng.


Như sắc phải đối với sắc: trắng đối với đen, vị đối với vị: chua đối với ngọt; số đếm đối với số đếm: năm đối với tháng; chữ Nôm đối với chữ Nôm: tao đối với nó; chữ Hán đối với chữ Hán: Hạ vũ đối với Xuân lôi; thành ngữ đối với thành ngữ; xắn váy quai cồng đối với buông quần lá tọa; tục ngữ đối với tục ngữ: lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét đối với một câu nhịn là chín câu lành v.v…


Khi nào các chữ đối như đối đầu hẳn được với nhau: Phật đối với ma, người đối với vật, hay đối với dở, lành đối với dữ, giàu sang đối với nghèo khổ, như thế thì nói là đối chọi nhau.


Âm hưởng các chữ dùng trong câu thì phải cho giòn, nghĩa là khi đọc lên, tiếng nghe kêu sang sảng”.


Trong cuốn Đào nương ca, Nguyễn Văn Ngọc viết:


VĂN CHƯƠNG HÁT NÓI


“Văn hát nói thật là một lối văn đặc biệt của nước ta cũng như các lối phong dao, lối lục bát đặc biệt vậy.


Thơ hay phú, văn tế hay văn bia, còn bảo bắt chước mô phỏng của Tàu ra, chớ hát nói, thì thật là riêng của ta, tự ta đặt thành lối, xưa nay chưa từng ai tìm thấy có điệu từ, khúc hay nhạc phủ nào của Tàu hẳn giống như thế.


Quả vậy, xét cái thể tài một bài hát nói, thì trong có đủ cả vừa câu đối, chữ nọ chọi chữ kia, mạch này đáp mạch khác, vừa thơ ngũ ngôn hay thất ngôn, hoặc Nôm, hoặc chữ Hán, hoặc cổ, hoặc kim; vừa phú vì gián hoặc cũng có câu đặt lối gối hạc hay cách cú, vừa lục bát kèm thêm, hoặc trùm ngay trên đầu, hoặc chen ở dưới cuối; vừa là vận văn có vần, vần phải theo luật bằng, trắc; vừa là tản văn. lắm câu nói sử như nói thường. Một bài hát nói dài, ngắn lại tùy ý, không bó buộc hạn chế, một câu hẳn bao nhiêu chữ, một bài hẳn bao nhiêu câu. Ấy là không nói bài này làm toàn Nôm, nửa chữ Hán hay có bài làm toàn bằng chữ Hán, mà lúc hát, vẫn cho như là Nôm.


Một lối văn họp nhiều văn khác mà thành, rồi tự gây lấy được một cái tính riêng, một lối văn vượt cả khung khổ mà vẫn đủ khung khổ, ra ngoài cả thể cách mà vẫn giữ được thể cách, một lối văn như thế, thật kể là một lối văn hiếm có, dễ hay được mà dễ dở cũng được.


Nghĩ được một câu đối, tự tay viết ra đem dán lên cột để ngắm chữ chính mình viết, là một cái thú. Đặt được một bài thơ, bài phú rồi rung đùi ngâm nga để kiểm lại văn chính mình soạn, cái thú có phần hơn… Đến như làm được một bài hát nói đưa cho ca nương lên giọng hát đi với cung đàn, nhịp phách, rồi chính mình cầm chầu để thưởng văn của mình giữa chỗ trù nhân quảng tọa, trước chiếc chiếu rượu tưng bừng nhộn nhịp, thì cái hứng thú tưởng có phần gấp bội hơn nhiều. Vì đây mới thật được vừa tư tưởng vừa âm luật hỗn hợp với nhau, vừa văn chương vừa mỹ thuật cùng nhau điều hòa, vừa tài tử, vừa giai nhân cùng nhau gặp gỡ, cùng nhau sánh cạnh mà chia vui…


Đánh chầu là gì? Tức là thường thức những âm, những giọng, những điệu hát hay, nhưng cũng lại như xét bài văn, khi gặp được chữ nào gieo đắt, câu nào đặt khéo, hoặc ý nào mới lạ, thì ta chấm, ta khuyên, ta khuyên liều vậy. Cho nên đánh chầu hay, đã phải tinh âm luật, phải thông  cả văn tự, thì sự thẩm mỹ họa chăng mới gọi là không uổng. Bậc đánh chầu như thế mới là bậc thượng đẳng đủ khiến cho người nghe được thật vui mà chính con nhà nghề cũng phải thật kính nể”.


Ngoài viết sách ông còn viết báo gây được dư luận chú ý, thường đăng trên các tạp chí Nam phong, Đông thanh, ông đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn vốn quý văn học nước nhà. Đặc biệt là vào thời kỳ đầu thế kỷ XX, văn học dân gian bị coi thường, có nguy cơ bị mai một dần. Mục đích nghiên cứu của Nguyễn Văn Ngọc là tìm hiểu nếp sống tinh thần và tình cảm của dân tộc qua các thời đại, công việc đầu tiên cho sự gây dựng tinh thần quốc gia. Nhà xã hội học Bosanquet nói:


“Triết học cũng như ngôn ngữ, nghệ thuật và thi ca là sản phẩm của con người toàn diện và do đó nó sẽ mất đi cái tinh lý của nó nếu chối bỏ đặc tính quốc gia”. Durkheim nhận ở khoa nghiên cứu văn học mục đích “khơi dậy và tập dượt ý thức nhân loại mà các nhà nhân văn vốn luôn luôn trau dồi”. P.Roux quả quyết: “Những bài nghiên cứu văn học không phải là những cứu cánh tự tại mà chỉ là những phương tiện để tìm hiểu rõ hơn và một phần nào, để nắm vững những dị biệt giữa những mẫu cá nhân và mẫu xã hội nấp ẩn trong cái nhất trí của nhân loại”. Bởi theo ý kiến của nhà sư phạm René Hubert thì “ưu thế của con người trong văn học tự nhiên hướng tư tưởng tới chủ nghĩa đại đồng”.


Theo sách Hát chèo của dân tộc Việt Nam cho biết, đầu thế kỷ XX, có nhóm trí thức trẻ gồm ba người, đứng đầu là Nguyễn Văn Ngọc cùng với người anh cả là Nguyễn Quang Oánh (1888-1946) và Đỗ Thân (?-1956) họ bản quán cùng ở nông thôn Đồng bằng Bắc bộ ra Hà Nội học hành rồi lập nghiệp. Họ thấy Chèo là một hình thức sân khấu độc đáo bị mai một đã đứng lên khởi sự chung tiền và cổ động thêm vốn xây lập Rạp hát Chèo Sán Nhiên Đài ở Hà Nội đầu tiên tại phố Đào Duy Từ.


Các ông tìm mời những đào kép chèo và trùm chèo nổi tiếng ở các vùng quê như Đào Tam (tức NSND Trịnh Thị Lan: 1886-1971) và kép Thịnh (tức NSND Nguyễn Văn Thịnh: 1883-1973) người tỉnh Hải Dương, tú  tài Nguyễn Thúc Khiêm người tỉnh Thái Bình (sau trở thành liệt sĩ tại ngục Sơn La năm 1944) Kép Phẩm, túc nho Nguyễn Đình Nghị (1886-1954) người tỉnh Hưng Yên… về lập thành Ban hát diễn chèo thường xuyên trong Rạp Sán Nhiên Đài từ đấy cho đồng bào Hà Nội xem. Đây có thể coi là rạp hát đầu tiên trong lịch sử 900 năm của Thăng Long - Hà Nội.


Nguyễn Văn Ngọc qua đời năm 1942 tại ấp Thái Hà (Hà Nội).


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »