tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682515
Lý luận phê bình văn học
27.04.2010
Hoài Anh
Nguyễn Văn Tố, Nhà nghiên cứu văn học cổ có tinh thần dân tộc

Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố sinh ngày 5-6-1889 tại làng Đông Thành, huyện Thọ Xương cũ, nay là số nhà 78 phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ông là nhà trí thức Nho học và Tây học. Tốt nghiệp trường Thông ngôn, ông đến làm thư ký tòa soạn Bộ kỷ yếu (D.P.B.C.H.V). Từ nhân viên phụ tá, sau ông lên chức Chủ sự Học viện Viễn Đông Bắc Cổ (l’École Française d’Etrême Orient - E.F.E.O), một cơ quan nghiên cứu lịch sử, văn hóa của người Pháp ở 26 phố Lý Thường Kiệt.


Năm 1934 - 1935 ông được bầu làm Hội trưởng Hội Trí Tri.


Ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX, danh tiếng của ông được xếp vào loại tứ danh kiệt (Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn” (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn).


Đầu năm 1938, theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh, Xứ ủy Bắc kỳ quyết định vận động một tổ chức công khai chống nạn mù chữ (Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 1) và giao cho đồng chí Trần Huy Liệu, chủ bút báo Tin tức, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, giáo sư trường Tư thục Thăng Long tập hợp một số trí thức tiêu biểu có uy tín như Bùi Kỷ, Hoàng Xuân Hãn, Quản Xuân Nam, Lê Thước… họp tại nhà ông Phan Thanh, bàn bạc thành lập tổ chức lấy tên là Hội Truyền bá học Quốc ngữ (sau viết tắt là TBQN) và nhất trí cử Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng, đặt trụ sở tại Hội quán Trí Tri ở phố Hàng Quạt (phố Hàng Đàn cũ) số nhà 59, nay là 47.


Trong bài Bài học Nguyễn Văn Tố in trong cuốn Những văn nhân chính khách một thời (1993) nhà văn Thiếu Sơn kể lại: “Chữ ông rất đẹp, rõ ràng minh bạch như người ông. Ông còn có đặc điểm không bao giờ chịu ngồi xe cho người ta kéo, chuyên môn cuốc bộ, một ngày bốn buổi từ nhà ông ở phố Hàng Bát tới sở làm ở Trường Viễn Đông bác cổ.


Ngoài ra còn có những cuộc đi bộ khác đến hội quán Hội Trí Tri và trong công tác truyền bá quốc ngữ. Ông không còn ngày giờ để lui tới những nơi hội hè đình đám của hạng thượng lưu trí thức giàu có những quan Tây và quan Ta.


Tóm lại, ông không thích ở trong giai cấp thống trị, mặc dầu bọn thống trị vẫn kính nể ông. Ông cũng được phẩm hàm của Nam triều và huy chương của Pháp nhưng không bao giờ đeo.


Có những cuộc tiếp tân ở dinh Toàn quyền hay Thống sứ mà ông bị mời thì ông cũng lại cho có mặt, mề đay bỏ túi. Khi lính gác hỏi giấy tờ, ông móc túi ra đưa cho coi, rồi lại bỏ túi đem về. Ông không mặc đồ Tây và quốc phục của ông cũng rất giản dị, vải vóc thô sơ, không lụa là hoa gấm”.


Tuy thuộc lòng phải cho thành lập hội nhưng Pháp không ngớt o ép, gây khó khăn cho người học, người dạy. Nhưng cỗ máy TBQN đã khởi động mạnh mẽ vượt qua mọi khó khăn và trở ngại. Bởi vậy chỉ trong một thời gian ngắn từ 1938 đến CMT8 thành công, gần 7 vạn người đã thoát nạn mù chữ.


Cách mạng Tháng Tám mới thành công, bộn bề khó khăn, thù trong giặc ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Văn Tố mới có dịp gặp nhau. Mến vì đức, trọng vì  tài, Bác Hồ mời ông Tố ra giúp nước, ông Tố nhận chức Bộ trưởng Cứu tế - xã hội (nay là Bộ LĐ-TB-XH) trong Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Sau tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội với tư cách là đại biểu tỉnh Nam Định. Ngày 2-3-1946, trong kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa I, toàn thể đại biểu nhất trí bầu ông làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tức Chủ tịch Quốc hội) và cho đến ngày 8-11-1946 ông Bùi Bằng Đoàn thay thế. Ngày 3-11-1946 ông lại giữ chức Bộ trưởng không Bộ trong Chính phủ Liên hiệp Quốc dân.


Nhân danh Trưởng Ban Thường trực Quốc hội ông đã lên tiếng ở Đài phát thanh lên án âm mưu tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp. Vẫn giọng nói sang sảng hùng hồn, nhưng có vẻ đanh thép, nhiệt thành, thiết tha và cảm động biết bao nhiêu.


Giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, ngày 7-10-1947, chúng cho quân nhảy dù xuống Bắc Cạn âm mưu tiêu diệt đầu não kháng chiến, ông bị chúng bắt và giết”.


Qua năm 1948, sau khi đánh tan âm mưu tấn công của thực dân Pháp, Nhà nước  ta đã tổ chức lễ truy điệu Nguyễn Văn Tố. Trong bài truy điệu, Hồ Chủ Tịch đã dành những lời trân trọng,  thống thiết, sâu sắc để tưởng nớ ông:


“… Nhớ cụ xưa


Văn chương thuần  túy, học vấn cao sâu


Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết


Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng


Phú quý, công danh cụ nào có thiết



Cụ dù hy sinh, tinh thần cụ ngàn thu


sẽ vẻ vang bất diệt



Chính phủ khôn xiết buồn rầu,


đồng bào khôn xiết nỗi lòng thương tiếc”.


Sau 60 năm tròn, ngày 10-7-2007 một đoàn đại biểu gồm đại diện Văn phòng Quốc hội Bắc Cạn, Hội Sử học, Ban liên lạc Hội Truyền bá Quốc ngữ được sự trợ giúp của nhà ngoại cảm Nguyễn Đức Phụng đã tìm thấy di hài Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố tại một khu rừng núi bao la thuộc xã Nguyên Phú huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn.


 Nguyễn Văn Tố là một nhà nghiên cứu và phê bình văn học cổ nổi tiếng trong giai đoạn 1932-1945.


Trên bài Tri Tân, Nguyễn Văn Tố phê bình bộ Việt Nam văn học sử của Ngô Tất Tố, nói Ngô Tất Tố dịch câu “Sử Bình Lỗ chư hậu vạn thế di tu” trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn: “Sau khi dẹp yên quân giặc, các người sẽ phải thẹn muôn đời” là sai, vì Bình Lỗ đây là thành Bình Lỗ, ông dẫn chứng:


“Sách khâm định lịch sử thông giám cương mục quyển 8 tờ 31, lời Trần Hưng Đạo như sau này: “Về đời Đinh Lê chọn được người hiền lương đất Nam cõi mới, phương Bắc nhọc mệt, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chán, đắp thành Bình Lỗ mà phá quân Tống”.


Ngô Tất Tố trả lời lại:


“Sử cũ không nói thành  Bình Lỗ ở đâu, xây từ đời nào. Việt sử khâm định chép đời Lý có đào con sông Bình Lỗ để lên Thái Nguyên cho tiện. Vậy thành Bình Lỗ có lẽ về vùng Thái Nguyên - Việt Nam sử lược tuy dịch là: “Trận Bình Lỗ” nhưng chưa rõ trận nào. Xét trong lịch sử chống ngoại xâm của ta từ đời nhà Trần về trước, không có lần nào đánh nhau ở vùng Thái Nguyên, không hiểu vì sao sách này gọi là trận Bình Lỗ”.


Nguyễn Văn Tố trả lởi:


“Vì ngày trước ông Lý Thường Kiệt phá quân nhà Tống ở đấy. Ông Ngô Tất Tố không hiểu là tại ông không đọc hết câu trên kia chép trong sách Việt Nam sử lược của ông Trần Trọng Kim, tập nhất, trang 110, in lần thứ nhất năm 1920. Bộ khâm định việt sử quyển 8, tờ 36, dẫn quyển Dư địa chí của ông Nguyễn Trãi như sau này: “Triều Lý đào sông Bình Lỗ, để tiện đường đi lại trong lộ Thái Nguyên”.


Trên báo Tri tân số 150, Nguyễn Văn Tố phê bình quyển Xã hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp như sau:


“Mới đọc qua vài chục trang trên đã thấy nhầm lẫn nhiều lắm. Tác giả lại hay gán tục nước người làm tục nước mình.


Như trang 23 có câu: “Trong xã hội thị tộc Mẫu hệ, quyền gia trưởng quy cả vào tay người đàn bà có cả một bầy con khác bố, sống chung dưới một mái nhà, người đàn bà được quyền chung  chạ với nhiều người đàn ông”.


Ông Lương Đức Thiệp thấy sách nào chép xã hội ta ngày nay như thế? Các nhà chuyên khảo về xã hội học Âu Á đều nói ở Đông Dương chỉ có vài tốp dân mọi ở phía Nam Trung kỳ như mọi Rađê, mọi Côn ru v.v… là theo chế độ mẫu hệ, nhưng không nói “chung chạ” như ông Lương Đức Thiệp.


Ở bán đảo Mã Lai và mấy vùng xung quanh cũng có dân theo chế độ mẫu quyền, nhưng cũng không thấy chép người đàn bà được quyền chung chạ. Cả những sách ta, sách Tàu và sách Tây cũng không quyển nào chép xã hội ta ngày xưa như thế, chỉ có ông Lương Đức Thiệp xem sách không hiểu, hoặc không biết so sánh, nên mới bịa ra mà nói.


Chính chữ “Mẫu quyền” ông cũng không rõ nghĩa. Tự vị chỉ chép có dân Thái cổ cho đàn bà có quyền nhiều hơn đàn ông, gia tài thì đàn bà được quyền chia chứ không phải đàn ông, mà các con đều theo họ mẹ. Chỉ thế thôi, chứ không nói “Đàn bà được quyền chung chạ”.


Chế độ “nhất phu đa thê” ở Tây Tạng mới có, mà dân Tây Tạng sở dĩ có phong tục như vậy cũng là hoàn cảnh bắt buộc chứ không phải được quyền”.


Đã không hiểu “Mẫu quyền” là gì mà dám nói là người đàn bà ta hồi xưa “được quyền chung chạ”.


Đối với bậc anh thư cả nước tôn sùng cũng nhiều  câu gàn dở như thế (trang 12) tác giả nói rằng:


“Như ngọn lửa trước khi tắt hẳn còn bùng lên một lần chót, nhưng lực lượng mang tàn của thị tộc mẫu hệ Việt Nam vùng dậy đã kết tinh. Trong hai người đàn bà, hai lực lượng còn sót của chế độ mẫu hệ đã nghiêng lay đến tận nền tảng “Trưng Trắc, Trưng Nhị”.


Tác giả xem sách nào mà nói bậy đến như thế? Các sử đều chép rằng hai bà là con gái Lạc tướng Mê Linh, bà Trưng Trắc lấy chồng là Thi Sách, con quan lạc tướng Chu Diên. Bấy giờ thái thú Tàu là Tô Định bạo ngược tàn ác, nên hai bà khởi binh đuổi về Tàu, lấy lại Lĩnh Nam, tự lập làm vua - Được ba năm bên Tàu sai Mã Viện sang đánh, hai bà thua lui về Cấm Khê rồi mất. Dân ta cảm động công đức lập đền thờ… thế mà tác giả dám nói hai bà là ngọn lửa mẫu hệ đã gần tàn và lại nói mẫu hệ có quyền chung chạ với nhiều người đàn ông. Nói bậy đến thế mà có người đem ra in thì lạ thật. Không những chép hai Bà Trưng còn chép cả Bà Triệu nữa như trang 16 có câu: “Lần này cũng như lần trước, cuộc nổi loạn chống lại người Tàu cũng lại do một người đàn bà chỉ huy Triệu Ẩu, một đại biểu, một viên kiện tướng cuối cùng của thị tộc Mẫu hệ Việt Nam đã chụt, đổ hẳn dưới kinh tế nông nghiệp đã tới thời toàn thịnh.


Có phải là gàn dở không? Các sử đều chép bà Triệu Ẩu là người quận Cửu Chân, thấy dân ta bị người Tàu áp chế, nổi lên đánh lại, cũng mong theo gương hai bà Trưng để cứu dân ta khỏi vòng lao lung, nên đến lúc mất, dân cũng lập đền thờ… Thế mà tác giả dám nói Bà Triệu là đại biểu, là hiện tượng của chế độ Mẫu hệ Việt Nam. Thật là bậy bạ hết sức”.


Trên báo Tri Tân số 142 ngày 15-1-1944, Nguyễn Văn Tố phê bình quyển Trung Quốc sử lược của Phan Khoang.


“…Lời văn giản dị, dùng chữ thường thường ai nghe cũng hiểu, thật đúng là lối văn chép sử, tuy có vài đoạn hình như bắt chước sử Tàu như trang 7, 9 có câu:


Sai Lộ Bác Đức, Dương Bộc bình nước Nam Việt.


Đến trang 331 lại có câu: bình nước An Nam.


Hai chữ “bình” ở hai câu ấy không nên dùng vì “bình” có nghĩa là “dẹp yên”. Người  Tàu chép khoe với nhau chứ chưa chắc đã là thật, cứ sự thật mà nói không thiên vị bên nào thì nên dùng chữ “giành” mới phải. Còn chữ “An Nam” cũng không nên dùng, vì hai chữ  ấy là người Tàu nói dẹp yên nước Nam. Trong khi Bắc thuộc, nước ta không có chủ quyền, nên phải chịu vậy. Về sau ta tự chủ được thì gọi là “Đại Việt”. Từ đời Minh Mạng đến nay ta đã có tên hiệu là “Đại Nam” việc gì lại phải dùng chữ “An Nam” là chữ họ khinh miệt mình?


Đến trang 223 lại có câu: Bấy giờ con cháu nhà Trần là Giản Định Đế, Trần Quý Khoáng nổi lên mưu việc khôi phục, nhưng rồi cũng bị Trương Phụ dẹp tan cả. Chữ “dẹp” ở câu ấy cũng không nên dùng. Thiết tưởng người mình chép sử Nam hay sử Tàu, phải giữ lấy bản lĩnh là người Nam, chớ nên bắt chước Tàu quá!


Ấy chính Lê Tất là người Nam đầu hàng bên Tàu về đời Nguyên, khi ở Tàu có viết quyển An Nam chí lược chép đến đời Hai Bà Trưng cho là “giặc”, thành ra bia miệng ngàn năm”.


Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan viết:


“… Những bài gần đây nhất của Nguyễn Văn Tố là những bài đăng trong tạp chí Tri Tân (xuất bản ở Hà Nội). Những bài này đều có tính cách khảo cổ hoặc về lịch sử, hoặc về văn chương, khi thì phê bình khi thì đính chính lại những điều sai lầm…


Ông lại căn cứ vào các sách cổ và đính chính điều sai lầm này: nên gọi là Lạc Vương, chứ không nên gọi là Hùng Vương (Tri Tân số 9). Theo sự xét đoán của ông căn cứ vào An Nam chí lược của Lê Tắc và bài khảo cứu về Nam Sử của Henri Maspéro đăng trong Bulletin de l’École Française d’Extrême Orient (quyển  XVIII, số 3, trang 7), ông cho là sở dĩ có sự sai lầm ấy là “vì chữ Hùng với chữ Lạc giống nhau và dễ lẫn lắm”.


Nhưng theo sự nhận xét và kê cứu của Sở Cuồng(1), những sách mà Maspéro dùng để khảo cứu tất cả có 5 quyển, 2 quyển sách ta và 3 quyển sách Tàu. Hai quyển sách ta đều chép là Hùng Vương và một quyển sách Tàu nữa cũng chép là Hùng Vương. Kế đến hai quyển sách Tàu thì một quyển chép là Lạc Vương bằng chữ Lạc bộ Chuy và một quyển nữa chép toàn là Lạc hầu, Lạc tướng nhưng bằng chữ Lạc bộ Mã. Rồi Masp éro vội đoán chữ Lạc bộ Các là đúng và bảo các sử gia ta đã lầm chữ này với chữ Hùng.


Sở Cuồng xét ra rằng trong sách Chu lễ hạ quan chức phương chí có chép: Tứ di bát man, thất mâu bát lạc”. Chữ Lạc này một bên là chữ sãi và một bên là chữ các. Sách “Mạnh Tử” cũng có câu: “Tử chi đạo lạc đạo giả” và có câu chú rằng: “Lạc ở về hoang phục, đánh thuế 20 phần lấy một”. Chữ Lạc này cũng giống với chữ Lạc ở trên. Sách Hán Thư của Ban Cố đời Hậu Hán (thế kỷ III sau Gia Tô kỷ nguyên) cũng chép: “Người nước Lạc Việt, cha con tắm chung một sông”. Chữ Lạc này một bên chữ mã, một bên chữ các. Theo Khang Hy Tự Điển, hai chữ lạc bộ Mã và bộ Sãi này thông dụng và đều chỉ vào nòi giống của ta. Như vậy thì từ đời Chu, đời Chiến Quốc cho đến đời Hậu Hán đều đã nói đến hai chữ Lạc bộ Mã và bộ Sãi là nước ta.


Nếu căn cứ vào những sử sách của ta, ta cũng thấy Hùng Vương là Hùng Vương chứ không thể nào gọi là Lạc Vương được. Những sách, như Việt sử lược (thu vào bộ Tứ khố Toàn Thư của Tàu, mà ở nước ta không còn nguyên bản. Thiên nam vân ngoại lục, Việt điện u linh, Lĩnh nam chích quái đều có chép việc đời Hùng rõ lắm. Trong tất cả những sách ấy, chỗ nào nói đến Hùng Vương đều chép đúng chữ Hùng, chứ không bao giờ chép ra chữ Lạc, như chữ Lạc của Maspéro trên này.


Một điều sai lầm nữa là Maspéro đã nói sử ta đều chép theo sử Tàu, nhưng theo sự nhận xét rất xác đáng của Sở Cuồng, những sự tích đời Hùng chép rất rõ trong các sách của ta, còn ghi lại, không một quyển sách nào của người Tàu chép cả. Một điều chắc chắn hơn nữa là các đời Hùng Vương có những hiệu Hùng Hiền Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Oai Vương, Hùng Nghị Vương đều có nghĩa liên lạc với chữ Hùng cả.


Còn như những đoạn chép về việc Hùng Vương trong Giao châu ngoại vực ký thì đều chép lầm chữ Hùng ra chữ Lạc bộ Chuy cả. Rồi những sách chép sau sách ấy như Thiên hạ nhất thống chí, Việt kiệu của Lý Văn Phượng, An Nam chí lược của Lê Tắc đều phạm vào điều lầm trên này.


Về quyển của Lê Tắc, sự sai lầm ấy dễ hiểu lắm: Lê Tắc thần phục người Nguyên, sang ở đất Tàu, làm quyển An Nam chí lược tại Hán Khẩu không có sách gì để kê cứu, nên cũng đành chép theo của Tàu. Đến những quyển An Nam chí của Cao Hùng Trưng, Cổ kim đồ thư tập thành, Đại Thanh nhất thống chí cũng đều chép theo chữ Lạc ấy.


Đó chỉ là cái lầm của người ngoại quốc.


Vậy Hùng Vương  là Hùng Vương, chứ không thể nào gọi là Lạc Vương, như lời đính chính của Nguyễn Văn Tố được.


Nhưng đáng lưu tâm hơn cả là những “tài liệu” Nguyễn Văn Tố trích đăng trong tạp chí Tri Tân (từ số 19-17 October 1941) để đính chính những bài văn cổ đến nay chưa có quyển quốc văn hợp tuyển nào biên rõ những bài văn cổ trích ở đâu ra, ở sách in hay ở sách viết, sách chữ Nôm hay sách Quốc ngữ. Ngày nay là lúc ta cần phải biết những bài văn cổ xuất xứ ở bản nào để so sánh kiểm điểm, họa may mới giữ cho đúng được nguyên văn. Đó là chủ ý của biên giả trong việc sưu tập này, một ý rất hay và rất có ích cho việc khảo cứu.


Xem đó đủ biết tất cả công việc phê bình của Nguyễn Văn Tố đều khuynh hướng về một mặt, tìm những điều sai lầm trong các sách sử hay sách văn chương và căn cứ vào những tài liệu ông đã tra cứu được ở trường Viễn Đông Bắc Cổ để đính chính và bổ chính”.


Vũ Ngọc Phan kết luận:


“Có thể nói lối phê bình của Nguyễn Văn Tố là một lối đặc biệt, vì ông chỉ phê bình có một mặt, nghĩa là chỉ tìm những cái dở, cái xấu, cái khuyết điểm trong một quyển sách, chứ không bao giờ kể đến phần hay.


Nhưng thật ra chức vụ của nhà phê bình có phải như thế không? Nhà phê bình cũng là một nhà văn, cũng là một “nghệ sĩ”, vậy sao nhà phê bình lại không đi tìm cả cái hay, cái đẹp để cho người đời hiểu một văn phẩm, một thi phẩm hơn nữa? Đó mới thật giúp cho sự tiến hóa của văn chương nghệ thuật một cách đầy đủ; những nhà văn mới mong có người nâng đỡ cho tác phẩm của mình được thấy ánh sáng mặt trời.


Vậy chỉ đính chính những cái sai lầm, chỉ bới những cái dở không, không đủ”.


Trong cuốn Nhà văn phê bình (Nxb Văn học 1996) Mộng Bình Sơn và Đào Đức Chương viết:


“Nhận xét của ông Vũ Ngọc Phan trên đây đi ngược lập trường và quan điểm phê bình của ông Nguyễn Văn Tố.


Trên báo Tri Tân số 62 ngày 8-9-1942, trong cuộc tranh cãi với ông Ngô Tất Tố, ông Nguyễn Văn Tố đã minh định lập trường phê bình của ông như sau:


“Sự bình phẩm sách người nước ta không ưa. Phần nhiều đồng bào ta không hiểu cái chức vụ của nhà bình phẩm và thường lẫn lộn “cảm giác phê bình” với “khoa học phê bình”.


Theo ông Nguyễn Văn Tố thì có hai lối phê bình:


1. Cảm giác phê bình là lối phê bình theo chủ quan, theo ý thích của mình, không căn cứ vào điều kiện khách quan, mọi suy tư để phê bình đều bắt nguồn từ nghĩ riêng rẽ của cá nhân.


2. Khoa học phê bình là lối phê bình theo khách quan, không lệ thuộc vào ý thích của mình của phải lệ thuộc vào chứng cớ của sự việc.


Ông Nguyễn Văn Tố đã đứng vào lập trường “khoa học phê bình” tức là mọi suy luận đều vượt ra ngoài cảm giác chủ quan, chỉ căn cứ vào những chứng liệu để bình phẩm những cái hay cái dở của tác phẩm.


… Còn nếu bảo ngòi viết ông Nguyễn Văn Tố là ngòi viết phê bình một chiều chỉ tìm những cái dở, những cái xấu, cái khuyết điểm trong một cuốn sách để phê phán thì cũng không đúng lắm.


Ví dụ: Trên Tri Tân số 77 ngày 24-12-1942, phê bình vở kịch Hai Bà Trưng ông khen nhà soạn kịch đã nghiên cứu đúng sử liệu “Nhà soạn kịch đã trích một đoạn trong Nam sử diễn ca và có chua một câu: Theo chỗ khảo cứu của các giáo sư trường Bác cổ Viễn Đông thì Lãng bạc là vùng đồi ở Tiên Du Bắc Ninh bây giờ, chứ không phải là vùng Hồ Tây như trong Nam sử diễn ca chép. Cứ đơn cử một câu ấy cũng đã đủ biết rằng người soạn vở kịch này đã chịu khó sưu tầm, tốn công kê cứu làm mới được…


Thực tế, vở kịch soạn ra rất hợp với những điều đã chép trong sử, khiến cho ai nấy cũng bồi hồi trong lòng bàng hoàng phảng phất như sinh vào thời bấy giờ được mắt thấy tai nghe.


Tóm lại, ông Nguyễn Văn Tố là một người yêu nước, yêu dân tộc, bảo vệ quốc túy, quốc hồn, ông có công lớn trong sự nghiệp văn học Việt Nam, hết lòng lo lắng cho tiền đồ tổ quốc.


Đáng tiếc là tất cả sự nghiệp nghiên cứu của ông chưa được in thành sách, trừ cuốn Phong cảnh và di tích ở Bắc Kỳ viết bằng chữ Pháp, dày 22 trang, in năm 1942.


Năm 1997, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã cho in hai công trình là Đại Nam dật sự và Sử ta so với sử Tàu (sách dày 500 trang) nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của Nguyễn Văn Tố.


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học, 9-2010.


 


 







(1)  Bài: “Hùng Vương là Hùng Vương” của Sở Cuồng Lê Dư, đăng trong “Khai Trí Tiến Đức Tập San” - Janvier - Juin 1942 số 5 và 6.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »