tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782830
Thơ
23.04.2010
Nhiều tác giả
Thơ nhiều tác giả (38)

Hải  Kỳ tên thật là Trần Văn Hải, sinh năm 1949 (Kỷ Sửu), tại Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Dạy học tại Đồng Hới. Thơ đã in: Ngọn gió đi tìm. Hội Văn Nghệ BTT,1987; Đồng vọng. Hội VN Bình Trị Thiên, 1989.


 


Người  phu mộ


                               


Bỗng nhớ lại như đã từ lâu lắm


tôi nằm yên trong ruột đất quê hương


người phu mộ với bàn tay lạnh cóng


đã cho tôi xuống nghĩa địa bên đường


 


Một nấm đất giống bao nghìn nấm khác


không tuổi tên như một kẻ lạc loài


hay như những bà con thân thiết


nhìn đất thôi cũng đã nhận ra người


 


Bao dời đổi biến thiên lịch sử


bao nắng mưa bạc trắng tháng cùng năm


tôi nhận biết ở dưới tầng đất tối


bởi hồn tôi linh cảm với trần gian


 


Và cuộc sống đời riêng tôi cũng thế


niềm vui, nỗi đau như mưa nắng theo mùa


hứng từng giọt niềm vui không dễ


dưới nắng hè khô khát ban trưa


 


Người phu mộ già nua hiện thân trường cửu


tóc bạc phơ đổ bóng huyệt ban chiều


tay run rẩy đào sâu ruột đất


chôn lặng thầm bất hạnh tình yêu


 


Như ánh sáng chôn vào bóng tối


những vì sao vỡ chết tự trời cao


trái tim giấu những điều không thể nói


vào đất đen người phu mộ mới đào


 


Và nghĩa địa bên đường tôi là người mới đến


xưa sống nhiệt cuồng sướng khổ với buồn vui


người phu mộ sẽ là em thương mến


đắp cho tôi nhưng xin chớ ngậm ngùi!


 


                                     *


Tôi và em với Thiên An


                                    Tặng Th. H.


                               


Thông xanh huyền hoặc thông xanh


Như em huyền hoặc với anh giữa rừng


Gió chừng như cũng trẻ trung


Cứ mang phấn mịn mà tung với trời


Đi cùng anh nhé, em ơi


Mà nghe thông hát suốt đời Thiên An


Thông xanh như cũng mơ màng


Câu thơ em rắc phấn vàng gió bay


Chao ôi! Cây nối liền cây


Người sao chẳng biết cầm tay với người


Giữa rừng em với mình tôi


Lặng im đau một khoảng trời Thiên An


                                                Huế, 1980


 


Đỗ Trung Lai sinh năm 1950 (Canh Dần), tại  Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Thơ đã in: Đêm sông Cầu. NXB QĐND, 1990; Anh, em và những ngườì khác. NXB. Văn học, 1990; Đỗ Trung Lai, Thơ và Tranh. NXB QĐND 1998.


 


  Đêm sông Cầu


                               


Anh qua sông Hồng, sông Đuống


Mùa mưa bọt nước đỏ ngầu


Không biết ở nơi em ở


Êm êm một khúc sông Cầu.


 


Tiếng một con tôm búng nước


Vó bè ai cất sau lưng


Sao trời lọt qua mắt lưới


Rơi đầy xuống cả mặt sông.


 


Con sông của người quan họ


Suốt đời nước chảy lơ thơ


Em ơi! Em là    gái


Từ lâu anh đợi anh chờ


 


Em là cô Tấm thảo hiền


Đến giữa đời anh trẩy hội


Tình đã trao nhau êm đềm


Mà vẫn mắt nhìn bối rối


 


Sông Cầu khi đầy khi vơi


Chảy ngang qua câu Quan họ


Ướt đầm vạt áo bao người


Vạt thương ướt cùng vạt nhớ


 


Em nói nhẹ như hơi thở


Anh nghe để nhớ suốt đời


Giữ tình yêu như giữ lửa


Đừng quên, đừng tàn, đừng nguôi!


 


Tình yêu có từ phương em


Đi qua tháng năm chờ đợi


Tình yêu cũng từ phương anh


Lửa rừng bồn chồn góc núi.


 


Tình yêu có từ hai ta


Chẳng đủ gần mà giận dỗi


Nhà xa mặt trận càng xa


Gặp nhau lần nào cũng vội.


 


Ngày mai chắc là nhiều nắng


Nên sao giăng khắp trên đầu


Ngày mai chặn miền biên ải


Tựa lưng vào đêm sông Cầu.


 


 


Lê Lâm sinh năm 1952 (Nhâm Thìn), tại Thạch Hà, Hà Tĩnh.


Công tác tại NXB. Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội. Thơ đã in: Cơn mưa bất chợt. NXB Hà Nội, 1990; Sóng. NXB Thanh Niên, 1992.


                                    


Không gặp biển


                               


Dầm trong nước suốt đời


Mà dễ đâu gặp biển


Con sóng qua ta rồi vụt biến


Biết đâu đang làm bão cuối chân trời


Ta ở trên bờ


Biển ở ngoài khơi


Ta rẽ nước ra xa


Biển lại vỗ vào bờ ào ạt


Từng dại dột cầm tay nhau nhảy lên trên thác


Để bất ngờ sống lại tuổi hai mươi


Ta bạc tóc trước bao nhiêu khát vọng


Biển vô tư vỗ mãi tới chân trời.


 


                                   


 Đích tình yêu


                               


Anh như người chạy đứt hơi


                                     như viên đạn đuối tầm


Đích là em


Cả người anh nóng rực


Những núi lửa nằm yên trong đất


Anh chạy qua


Nổ bùng


 


Anh như người thợ khoan kiên nhẫn lạ lùng


Bao nhiêu mũi khoan đã mất


Chỉ còn lại ngờ vực


Ngỡ mất cả mình trong thăm thẳm chiều sâu.


 


Ngay phút anh hồn nhiên như trẻ thơ


Đã già cả với lo âu


Mà em đứng như thành trì vững chãi


Cái đầu đạn nằm dưới chân thành


Anh cầm lên sợ hãi


Đã bị đá bẻ quằn.


 


Anh tức tối với thời gian


Ép không gian xuống những vỉa ngầm


Để tìm em


Anh phải thám hiểm xuống lòng mình tận đáy


 


Mà hình như lần nào cũng vậy


Trước mắt anh


Chỉ những mũi khoan gãy của mình.


                                                1989


 


Trương Ngọc Lan sinh năm 1945 (Ất Dậu), tại Gia lâm, Hà Nội. Là giáo viên Âm nhạc. Thơ đã in: Sao em nhìn đi nơi khác. NXB. Phụ nữ, 1990; Du dương. NXB Phụ nữ, 1996; Bông hoa biết khóc. NXB Phụ Nữ, 2000.


 


      Hạt bụi vàng


                


Chiều đàn cổ trong phòng tưởng niệm


Phím đã ngà


Thanh thoát dáng xưa


Một đôi mắt


Đăm đăm nhìn đó


Chiều lùi dần, miên man suy tư.


 


Đã đêm nào chập chờn ánh lửa


Của nến đèn u uẩn như chờ


Trăng theo mây, khi mờ khi tỏ


Ruổi hành trình thức ngủ đợi mơ


 


Thời gian đó ước chi trở lại


Nhặt giùm tôi một hạt bụi vàng


Rơi lấp lánh ngàn ngàn trên cỏ


Để hôm nay


             nằng nặng


Tôi mang.


 


 


   Bên tôi bên đây              


Bên tôi chẳng có Thiên Nga


Hạ nồng thi thoảng mới ra hồ ngồi


Bên tôi chẳng mấy thảnh thơi


Trên đường cũng ít đôi người cầm tay


 


Con nhỏ nhiều hơn bên đây


Đường chung đông nghịt suốt ngày còi xe


Cuối chiều hối hả ra về


Ghé qua chợ tạm. ghếch hè mua rau


 


Hàng xóm rất biết về nhau


Đám thương, đám hỏi, tuần sau đã tường


Ngâu về lòng cứ vấn vương


Sợ đê vỡ lụt người thường âu lo


 


Bên tôi trời đổ bốn mùa


Nắng dọa hạn hán, mưa thừa bão giông


Nhưng lòng tôi trĩu thầm mong


Có ngày thanh thản, thong dong Có ngày.


                                            Budapest


  Giang Lân


Từ nay đến tháng Năm


                


Bố tôi nói:


Gạch có rồi


Gỗ có rồi


Dến tháng năm sẽ mua thêm ngói


Mua thêm một ít vôi.


 


Đó là chuyện đến tháng năm


Xong mùa gặt hái


Còn bây giờ


Gia đình tôi vẫn ở nơi ông bà để lại


Nhà tranh chống chếnh ba gian


Vách nứa lâu năm


Giấy báo, giấy xi măng dán lên chi chít


Riêng tôi, tôí  rất tự hào


Bởi lẽ tôi ra đời trong bốn bề vách ấy


Tôi đã quen tiếng chim sẽ gọi nhau


                                                  đầu hồi bên trái


Tiếng chào mào bay về ăn quả duối vàng


                                                   óng ánh sau nhà


Tiếng gió ban mai đưa tôi vào giấc ngủ


Khói bếp lên chao đảo bầu trời


Khi bước chân tôi thập thững bào mòn lối ngõ


Cây cau cao quá là cao


 


Vẫn là ngôi nhà xưa cũ


Nhưng nhiều điều lại mới trong tôi


Biết quý những cuộc đời lam lũ


Thương bố mỗi chiều lưng đẫm mồ hôi


Có những lúc tôi ngồi bậu cửa


Nghĩ về xa xôi


Cho đến buổi quyển sách đọc chưa xong


                                        để đâu không nhớ nữa


Tình yêu đến với tôi rồi.


Tháng năm, mấy tháng nữa đến tháng năm


Còn phải qua tháng hai, tháng ba,


                                                tháng tư xanh biếc


Qua một mùa xuân lắm lộc


Qua một mùa xuân cần mẫn của đất trời.


 


Chưa đến được tháng năm


Gỗ đang ngâm


Gạch con nguyên trên đống


Điều nghĩ suy của bố tôi tràn đầy hy vọng


Một ngôi nhà ngói ra đời


Một ngôi nhà sơn xanh cửa sổ


Nắng và gió


Vừa đủ thôi


Nhưng cần nhất là bền và đẹp.


 


Sẽ đến tháng năm


Chúng tôi có một ngôi nhà


Đúng như những điều tính trước


Cả như những điều chưa kịp nghĩ ra


Bởi lẽ


Bố tôi còn đấy


Tôi còn đây


Còn làng xóm tôi yêu và mảnh đất này.


                                                1972


   Kính tặng Mẹ     


Cả một đời sống với ruộng đồng


Tám mươi tuổi mẹ về với đất


Vẫn tấm áo nâu quen mặc


Mẹ ra đi.


 


Mẹ chẳng dặn lại điều gì


Mọi đau khổ lo toan mẹ đem theo cả


Suốt một đời vất vả


Mẹ nhận phần mình một nấm mồ thôi.


 


Mẹ ra đi rất nhẹ


Tội cho con khi trở về nhà


Không gặp mẹ chỉ biết đến bên mồ, đứng lặng


               giữa đồng chiều, nắng đang tắt nơi xa


                          Nam Ngạn, 1-12-1984


 


Nguồn: Rút từ Tiếng Việt qua thơ tình mười thế kỷ, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, NXB Văn hóa Thông tin, quý I năm 2010.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Câu hỏi trước dòng sông - Nguyễn Quang Thiều 18.10.2017
Chùm thơ Hồ Bá Thâm về Hà Nội - Hồ Bá Thâm 18.10.2017
Đất nước những đêm dài không ngủ - Nguyễn Việt Chiến 15.10.2017
Cổng làng và những bài thơ khác - Đoàn Mạnh Phương 14.10.2017
Bàng hoàng - Trần Mai Hưởng 14.10.2017
Thơ Trúc Thông (2) - Trúc Thông 13.10.2017
Thơ Trúc Thông (1) - Trúc Thông 12.10.2017
Cao Bằng/ Người ấy chiều giáp Tết/ Vườn quê - Trúc Thông 10.10.2017
Chùm thơ Trúc Thông - Trúc Thông 09.10.2017
Tượng chùa Phật Tích - Trúc Thông 09.10.2017
xem thêm »