tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682375
Lý luận phê bình văn học
21.04.2010
Hoài Anh
Phan Kế Bính Nhà lý luận văn học, nhà dân tộc học đầu tiên thời hiện đại

Phan Kế Bính hiệu Bưu Văn, sinh năm 1875 tại làng Thụy Khê, huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông (nay là quận Ba Đình, Hà Nội) trong một gia đình khoa cử.


Năm 1906 ông đi thi Hương đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục rồi làm báo. Năm 1907 phụ trách phần chữ Hán trong Đăng cổ tùng báo. Sau đó vào Sài Gòn  làm biên tập báo Lục tỉnh tân văn. Năm 1913 trở lại Hà Nội, phụ trách mục Hán văn, khảo cứu văn học và Lịch sử Việt Nam trên Đông Dương tạp chí. Năm 1915, báo Trung Bắc tân văn ra đời, ông phụ trách phần xã luận. Từ năm 1919 Đông Dương tạp chí đổi thành Học báo, ông vẫn là biên tập chính.


Không kể những bài dịch, bài báo ngắn, tác phẩm chính của ông gồm có:


Nam hải dị nhân (1909), Hưng Đạo Đại Vương (1909), Việt Nam phong tục (1915), Việt Hán văn khảo (1918).


Sách dịch gồm:


Tam quốc diễn nghĩa (1907), Đại Nam điển lệ toát yếu (1915), Việt Nam khai quốc chí truyện (1917), Đại Nam liệt truyện tiền biên (1918), Đại Nam liệt truyện chính biên (1919) và một số truyện trong Kim cổ kỳ quan.


Việt Hán văn khảo, gồm 8 mục:


1. Nguyên lý văn chương.


2. Thể cách văn chương.


3. Phép làm văn


4. Lý thú văn chương


5. Kết quả văn chương


6. Văn chương thượng cổ.


7. Văn chương trung cổ.


8. Văn chương cận thời.


Trong bài tựa, khi bàn về nguyên lý văn chương, Phan Kế Bính viết: “Sở dĩ có văn chương một là bởi vì tính tình hai là ở tư tưởng, ba là bởi ngôn ngữ văn tự, đó là ba cái căn nguyên trước nhất. Có ba căn nguyên ấy, rồi những quan cảm ở bề ngoài, đưa đến mới thành ra văn chương vậy - Quan cảm ở bề ngoài thì lại là do ở cảnh tượng của tạo hóa, do ở công việc của đời và cảnh ngộ của một mình”.


Ở đây Phan Kế Bính đã tiếp cận với sự cấu sinh của văn chương. Với nguyên lý nội (tính tình tư tưởng) bị kích động, qua đường lối quan cảm, bởi nguyên lý ngoại (tạo hóa, cuộc đời, cảnh ngộ của mình) con người đã nhờ phương tiện ngôn ngữ văn tự mà sáng tạo nên văn chương. Hiểu danh từ quan cảm và xúc động (émotion) và cảm giác (sensation) ta thấy cách giải thích của Phan Kế Bính gần gũi với khoa tâm lý cấu sinh của nghệ thuật giải thích bằng nguồn gốc xúc động (origine émotionnelle) Tuy nhiên, trong khoa tâm lý cấu sinh của nghệ thuật người ta còn nói tới nguồn gốc trí tuệ (thuyết intellectualisme) và sự bắt chước (imilation) một thực thể tâm lý nữa không thể quên với điều kiện phải khởi đi từ thực tại mới vượt quá và đổi mới được thực tại.


Tuy chưa nói được đầy đủ, nhưng ít ra cách giải thích của Phan Kế Bính cũng chính xác hơn lối giải thích của Hồ Hoài Thám trong Trung Quốc Văn học sử khái luận tóm tắt như sau: Thực chất của văn học là tình cảm, khí cụ là văn tự, ngôn ngữ, động tác (cho ngành vũ); phương pháp là nghệ thuật hóa, tự nhiên hóa tức, là thuộc trường phái ý niệm luận và duy tâm của phương Tây.


Việt Nam phong tục: Sách chia làm 3 phần:


1. Phong tục gia đình đề cập đến việc sinh con, nuôi con, anh chị em, họ hàng, phụng thờ gia tiên, đạo hiếu, lễ thọ, sinh nhật, tang ma, cải táng, kỵ nhật, các lễ Tết, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi con…


2. Phong tục hương đảng đề cập đến việc thờ thần, tế tự, sóc vọng tuần tiết, vào đám, đại hội, các trò vui, văn từ, văn chỉ, công quán rồi ngôi thứ trong làng, tục hương ẩm, thuế khóa, quân dịch, tạp dịch, việc tương trợ, từ thiện, bảo vệ an ninh thôn xóm v.v…


3. Phong tục xã hội đề cập đến những liên hệ vua tôi, thầy trò, bè bạn, quan dân, chủ khách, rồi Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, Gia tô giáo, rồi chính trị, quan chế, binh chế, tài chính, hình luật, công chính rồi văn chương khoa cử, các nghề khác trong xã hội, y dược, địa lý, bói toán, tướng số, rồi sự lên đồng, gọi hồn, xem ngày tốt xấu, điều cấm kỵ, các phương thuật, các cách ăn uống, cách giải trí, ca hát, cờ, đàn, cây cảnh, uống rượu, hút thuốc phiện v.v…


Ông đề cao những phong tục tốt đẹp, những tập quán hữu ích và phê phán nghiêm túc những hủ tục đã kìm hãm xã hội phát triển.


Trong chương XIII Văn chương ông viết: “Thể cách riêng lối của ta”.


1. Thượng lục hạ bát gọi là lối Kiều. Lối này cứ câu trên sáu chữ câu dưới tám chữ mà vần chữ thứ sáu câu dưới phải tiếp vần với chữ cuối cùng câu trên. Bốn câu ba vần, thành một đoạn thơ. Các truyện của ta hay dùng theo lối ấy.


2. Nhị thất lục bát gọi là lối Cung oán. Lối này cứ hai câu đầu mỗi câu bảy chữ, mà chữ cuối cùng câu trên phải dùng tiếng trắc, rồi chữ thứ năm câu dưới tiếp vần trắc mà hạ xuống vần bằng; câu thứ ba sáu chữ, tiếp theo vần bằng, câu thứ tư tám chữ lại tiếp như lối lục bát. Lối này thì bốn câu phải bốn vần, nhưng có khi vần câu đầu không tiếp cũng được, các truyện cũng thường dùng lối này.


3. Biến thể lục bát gọi là Phạm Công(1). Lối này cũng dùng trên sáu dưới tám, nhưng thường chữ thứ tư câu dưới tiếp vần với chữ cuối câu trên. Lối này tay văn sĩ không mấy khi dùng, chỉ người nôm na hay dùng.


4. Bài tuồng gọi là lối diễn kịch. Trong lối này có nhiều điệu: mới khởi có mấy câu chúc tụng, gọi là câu giáo đầu; nói chuyện là câu nói. Câu giáo đầu và câu nói, bất cứ vắn dài, hễ hết ý thì thôi, mỗi câu hoặc bốn chữ, năm, sáu, bảy chữ, tùy đặt thế nào cũng được, nhưng cứ chữ cuối câu thứ ba phải tiếp vần với chữ cuối câu thứ nhì, mà thường câu cuối cùng hạ vần trắc thì xuống mới mạnh. Tướng mới ra đọc một vài câu gọi là xướng. Tiên mới giáng đọc một vài câu gọi là câu bạch, xướng và bạch thường dùng lối thơ. Nói dứt lời xuống tiếp theo một câu gọi là câu vãn, câu vãn thường nói tiếp mấy tiếng cuối cùng câu trên rồi xuống một hai câu lục bát. Nói cho bổ ý câu trên hoặc để thi hành câu nói thì thì gọi là câu loạn, câu loạn hoặc dùng lối thơ, hoặc dùng lối phú, hoặc hai câu thơ rồi xuống một vài câu bốn năm chữ hoặc câu lục bát tùy ý. Gặp lúc buồn bã mà đọc mấy câu bi ai sầu thảm gọi là câu nam, gặp lúc khoan khoái mà đọc mấy câu ngân nga thủng thẳng gọi là câu khách, nam và khách thường dùng lối thơ. Khi vừa đánh vừa nói gọi là câu chiến trận, khi vừa đánh vừa chạy gọi là câu tẩu mã, hai câu này cũng hay dùng lối thơ hoặc phú. Ngoại các câu dài, còn nhiều tiếng đệm gọi là câu trợ ngữ như tiếng “dạ dám bẩm”, “như tôi đây”, “vậy chớ”, “nhưng mà” v.v… Đây nói qua mấy câu đại khái, chớ lúc làm văn thì  tùy việc mà đặt câu, còn nhiều biến thể, không nói hết được.


5. Bài hát ả đầu gọi là lối ca khúc. Ca khúc cũng chia làm nhiều cách điệu nói qua sau đây:


1. Điệu ca trù.


2. Điệu lưu thủy.


3. Điệu hành vân.


4. Điệu tứ đại cảnh.


5. Điệu nam thương.


6. Điệu nam bình.


7. Điệu nam ai.


8. Điệu cổ bản.


9. Điệu kim tiền.


10. Điệu lam thất.


11. Điệu vọng phu.


12. Điệu giao duyên.


Điệu ca trù, câu mới mở thường bốn năm chữ, rồi tiếp xuống một câu tám chữ, hoặc hai câu độ năm chữ đối nhau ngay cũng được. Kế đến hai câu độ bảy tám chữ mà tiếp vần với câu trên rồi đưa hai câu thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn, một vài câu đi lưu thủy, hoặc hai chữ, hoặc bốn chữ, rồi lại tiếp hai câu bảy chữ, tám chữ, cuối cùng thả một câu độ năm sáu chữ lửng lơ.


Điệu này không cứ gì dài vắn, tùy ý mình muốn đặt thế nào cũng được, quý hồ giọng lên giọng xuống, điệu trắc điệu bằng cho hợp cách thì thôi. Còn như các điệu tứ đại cảnh, nam ai, hành vân, lưu thủy v.v… thì thường mỗi chữ mỗi câu đều phải hợp vào giọng hò, lừu, xế, xang, cống, sự, phàn v.v… nghĩa là phải hợp với bài đàn mới được.


Mỗi điệu có một thể cách riêng, phải xem các bài hát mới biết được hết các lối. Song cứ lấy nghĩa mấy chữ tên khúc điệu mà suy ra thì lưu thủy chắc là giọng văn lưu loát như dòng nước chảy, hành vân chắc là giọng sầu thảm bi thương, nam bình là giọng khoan thai hòa nhã, vọng phu là giọng người đàn bà ai oán mong chồng, giao duyên là giọng trai gái tự tình ước hẹn v.v… Ngoài các điệu ca khúc trên, lại còn những điệu hát xẩm, hát ru, hát trống quân, hát quan họ, hát đò đưa, nhưng chẳng qua cũng theo điệu lục bát gia giảm một đôi chút mà thôi. Mà trong điệu ca trù có những điệu thuyết nhạc, gửi thư, thiên thai, xích bích v.v… thì là theo bài Tàu mà đọc riêng một giọng, chứ không phải lối nào khác nữa.


6. Văn xuôi: tức là lối nghị luận  hoặc là lối kí sự. Lối này không cứ luật lệ nào, nói thế nào cho đủ ý thì thôi.


HÁT XẨM


Những người đui mù lòa mắt học nghề hát, rồi rủ nhau một tụi độ năm sáu người vừa đàn ông vừa đàn bà, dắt nhau đến các nơi thành thị, kiếm chỗ đông người trải chiếu ngay các nơi vệ đường mà hát.


Bọn xẩm, kẻ thì đánh trống gõ phách, kẻ thì kéo nhị, gảy đàn bầu, rồi đồng thanh mà hát, hoặc đi giọng Nam, hoặc đi giọng Bắc, ăn theo tiếng nhị tiếng đàn, nghe cũng vui tai.


HÁT Ả ĐÀO


Các bậc hào hoa văn nhã, lấy cách chơi ả đào làm cách chơi thanh lịch. Hoặc gọi dăm ba ả về nhà hát chơi, hoặc dắt bảy tám cô dạo thuyền chơi cảnh, hoặc đến tại nhà ả đào. Trong cách chơi cốt nhất là được người trống tốt, hát giỏi, ca đủ giọng, câu miễu, câu thổng, nói, hát, xẩm, ngâm thơ, đọc phú, kể chuyện, gửi  thư, ca lí, ru hãm, hễ điệu nào cũng hát được mà êm tiếng ngọt giọng là hay. Hát phải có đàn có phách, đàn phách phải ăn theo tiếng hát. Lại cần nhất là nghe hát phải biết đánh trống chầu. Đánh chầu có phép. Mới thoạt ngồi đánh luôn ba bốn hoặc năm sáu tiếng, gọi là trống giục để giục. Đến lúc hát thì cứ chỗ nào dứt câu điểm một tiếng (bằng cắc trạc thùng) gọi là điểm câu. Ngoại giả chỗ nào câu văn hay, hoặc lên xuống khéo, thì điểm một tiếng hoặc hai ba tiếng (cắc) nghĩa là tiếng khen. Có chỗ thì đánh luôn hai tiếng (thùng thùng) rồi hạ một tiếng (cắc) thì gọi là tiếng hạ mã; có chỗ cắc một tiếng lại điểm hai ba tiếng thùng thì gọi là tiếng thượng mã. Có chỗ đánh thùng cắc thùng gọi là tiếng xuyên tâm; có chỗ đánh luôn ba tiếng thùng rồi chêm một tiếng cắc, lại vớt theo một tiếng thùng, gọi là tiếng lạc nhạn. Nhưng cốt nhất phải thuộc khổ phách, phách mau thì trống mau, phách khoan thì trống khoan, mỗi khi dồn phách thì có mấy tiếng trống xếp, tiếng trống vừa dứt thì khổ phách cũng giỗ theo, thế mới là chầu hay.


Hát hỏng chơi bời xong thì đến các cuộc rượu. Cuộc rượu đủ các đồ xào nấu, ngũ trân bát vị. Trong khi ngồi uống rượu một ả đào làm chủ tiệc rượu phải đứng dậy trước mời khắp quan viên một lượt mỗi người một thìa, quan viên uống rồi mỗi người mời trả lại một thìa. Kế đến các ả khác (người chạy mảnh) cũng vậy, mỗi người chạy vòng quanh chiếu rượu, trước mời người làm chủ cuộc hát, rồi mời khắp quan viên, quan viên cũng đáp lại mỗi người một thìa Mời mọc đâu đấy rồi thì mỗi quan viên phải có một ả đào hoặc hai, ba ả đào ngồi kèm đỡ bát đũa. Lúc uống rượu, quan viên ai muốn mời ai uống rượu thì nhờ ngay ả đào ngồi gần đó mời giùm người ấy uống rồi lại nhờ tay ả khác mời trả lại quan viên kia. Hoặc là quan viên ả đào mời lẫn nhau, mời thuận trả thuận, mời nghịch trả nghịch, có khi quàng vai bá cổ nhau mà mời, hoặc hôn nhau để tỏ lòng yêu mến.


Trong cách uống rượu, lại giở  ra lắm cách để vui hoặc cách truyền lửa, hoặc cách quay thìa. Truyền lửa là một người đốt một cái đóm tắt đi, rồi lần lượt truyền cái tàn đóm lẫn cho nhau, hễ đến ai mà cái tàn đóm tắt hết thì phải uống một thìa rượu. Quay thìa là để một cái thìa vào đĩa, quay tít đi một vòng, hễ cái đuôi thìa chỉ về ai thì người ấy phải uống một thìa. Lại còn cách khởi thuận là cứ thuận tay mà mời lần lượt nhau, khởi nghịch là theo chiều nghịch mà mời lẫn nhau, cách nhất là cứ cách một người thì lại mời một người. Ba người mời lẫn nhau gọi là rượu ngũ phúc. Ả đào ai có điều gì xấc xược thì quan viên lại phạt một vài thìa nữa.


Rượu nghe ngà ngà say cả, mới giở đến hát lí, hoặc xẩm, hoặc bộ, ai muốn nghe điệu nào thì bắt hát điệu ấy. Cuối cùng, mỗi ả hãm một vài câu, quan viên ăn cháo là mãn tiệc. Đó là tiệc rượu to, còn một vài người đi chơi uống rượu suông nghe hát thì gọi là hát chay, hoặc không nghe hát, chỉ uống rượu ăn cháo, nghe vài câu lí, vài câu hãm thì gọi là tiệc xú dề”.


HÁT TUỒNG


Hát tuồng tức là nhạc võ và là cách tiêu khiển cho người ta. Cổ giả dùng những sự tích đế vương diễn ra làm tuồng là có ý kỉ niệm cái công đức trị dân phá giặc của người xưa, để làm gương cho các vua đời sau, và lại tả hết các tính tình kẻ trung người nịnh để làm gương cho thiên hạ, vậy thì hát tuồng là một bức tranh truyền thần của tiền nhân là một bài luân lý dạy bằng sự thực nữa.


Nước ta cũng theo tục ấy mà đặt ra các bài tuồng. Nhất là hay diễn theo sự tích Tam Quốc, Sơn hậu, Chinh đông, Chinh tây, Bình nam, Tảo bắc, Phản đường, Thuyết nhạc v.v…


Con hát phải luyện tập lắm mới giỏi. Phải biết hát đủ giọng, phải biết bộ tịch nhảy múa, đóng vai nào phải y hệt cái thần tình vai ấy mới là khéo.


Hát phải có nhạc, nào kèn nào trống, nào mõ, nào thanh la để đỡ giọng hát điểm vào những nơi nhạt nhẽo cho vui, lại có người cầm trống chầu để thưởng những chỗ hay và làm cho thêm lộng lẫy cuộc vui lên nữa.


Đồ áo mũ hia ủng, cờ  tàn qua kích cũng phải chỉnh đốn lịch sự. Rạp hát bài trí cũng cho trang hoàng rực rỡ, làm ra nghi lâu giả thành, và có đủ sơn thủy cây cối mới đẹp.


Phan Kế Bính qua đời ngày 30-5-1921 ở nguyên quán là làng Thụy Khê.


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học, 9-2010.


 


 







(1)  Phạm Công: Tức Phạm Công Cúc Hoa, một truyện Nôm khuyết danh.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »