tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078212
Lý luận phê bình văn học
19.04.2010
Hoài Anh
Hoàng Lộc Bài thơ “Viếng bạn”

Viếng bạn của Hoàng Lộc được xem là một trong những bài thơ đặc sắc viết về tình cảm chân thành của người chiến sĩ cách mạng trước sự hy sinh cao cả của đồng chí. Bài này viết nhân đọc đoạn nhật ký “Khóc đồng chí Th. Hy sinh ngày 8/1/1948 trong trận Bố Cung” của anh T. Anh T kể lại: “Th phụ trách khẩu phóng lựa đạn. Cứ bắn được một quả anh ấy lại đứng hẳn lên xem kết quả rồi reo ầm lên, chẳng nhớ đề phòng gì nữa. Bắn được ba quả thì bị một băng súng máy địch quét phải. Anh ấy ngã vật xuống chỉ kêu ú ớ được vài tiếng rồi thở nấc ra”. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên anh em đành phải chôn anh Th. Không có áo quan ngay tại mặt trận “nhưng chôn cũng đã hơi xa đường số 4. Đứng bên cái huyệt tự tay mình đào để vùi bạn, không ai cầm được nước mắt. Có một em liên lạc khóc hu hu ... (Chặt gọng kìm đường số 4). Ra đời từ hồi đầu kháng chiến chống Pháp, bài thơ vẫn như vừa được viết trong những cuộc chiến đấu hôm nay.


Mở đầu bài thơ, tác giả nêu hai sự việc đối lập nhau diễn ra giữa hai thời điểm kế tiếp:


Hôm qua còn theo anh


Đi ra đường quốc lộ


Hôm nay đã chặt cành


Đắp cho người dưới mộ


Kết cấu câu có tính chất hô ứng còn ... đã..., âm thanh trầm đều của những câu thơ đã làm tăng thêm sức biểu hiện của tứ thơ: tâm trạng đầy thương tiếc của người chiến sĩ trước cái chết bất ngờ của đồng đội.


Nỗi xúc động của tác giả vụt dâng cao, biến thành lòng căm thù sôi sục qua nhiều câu hỏi ngắn gọn được liên tiếp đặt ra ở hai khổ thơ hai và ba. Từ ngữ trong hai khổ thơ biểu lộ một sự khinh bỉ tột độ của tác giả đối với kẻ thù: đứa, nó, thằng, chỉ mặt, gọi tên.


Càng thương tiếc, nỗi đau xót lại càng mãnh liệt. Những phụ âm tắc vô thanh (k, t) cuối một số âm tiết trong khổ thơ thứ tư đọc lên nghe nhức nhối lòng người. Tuy vậy, người chiến sĩ cách mạng không hề tỏ ra mềm yếu, càng đau xót, càng sâu sắc căm thù. Những chi tiết biểu hiện tình cảm người chiến sĩ đã nói lên điều đó:


Khóc anh không nước mắt


Mà lòng đau như thắt


Gọi anh chửa thành lời


Mà hàm răng dính chặt.


Cảnh chôn cất người đồng chí đã hi sinh trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn tuy rất đơn sơ nhưng thật chân tình. Tác giả như muốn chuyển cho bạn tất cả tình cảm nồng ấm của mình, trong đó có cả những tình cảm thắm thiết mà đồng bào đã dành cho anh:


Ở đây không gỗ ván


Vùi anh trong tấm chăn


Của đồng bào Cửa Ngăn


Tặng tôi ngày phân tán.


Đối vời người chiến sĩ cách mạng, hi sinh không bao giờ đồng nghĩa với mất mát. Bao trùm lên tất cả mọi con người cụ thể  là một sự nghiệp chung, một lý tưởng. Những người chiến sĩ cách mạng sẵn sàng ngã xuống để sự sống nảy mầm. Khổ kết của bài thơ như một lời thề quyết chiến, quyết thắng, không riêng của một người bạn với một người bạn mà là của cả một đội ngũ với người đồng chí đã hy sinh:


Mai mốt bên cửa rừng


Anh có nghe súng nổ


Là chúng tôi đang cố


Tiêu diệt kẻ thù chung.


Những thủ pháp nghệ thuật được vận dụng trong bài thơ khá nhuần nhuyễn, nhất là nhịp điệu gãy gọn của câu thơ năm chữ, tính chất biểu trưng của âm thanh và sắc thái biểu cảm của từ ngữ, khiến cho bài thơ mang một giá trị duy nhất, vị trí của Hoàng Lộc trong thơ ca cách mạng đã được khẳng định.


Trong bài Đôi điều về anh tôi: Hoàng Lộc của bà Phan Ngọc Trâm đăng tuần báo Văn nghệ số 48 (27-11-1999) có đoạn viết:


“Anh sinh tháng 2-1922, con út cụ Hoàng Tăng Huy và Phạm Thị Chắt, nguyên quán làng Châu Khê, tổng Thị Chanh (nay là xã Thúc Kháng), huyện Bình Giang, Hải Dương. Cũng như nhiều họ tộc quê hương Châu Khê ra lập nghiệp nhiều đời ở khu phố cổ Hàng Bạc rồi phân tán sang các khu phố khác, tưởng nam Hoàng Nhật Tiến theo học trường thông ngôn, ra giúp việc cho một luật sư người Pháp, giúp đỡ mẹ mở cửa hàng buôn bán sắt vụn ở góc phố Hàng Cót, trông nom nuôi nấng 3 em nhỏ (Hoàng Thị Thảo, Hoàng Thúy Mùi, Hoàng Tiến Lộc). Năm anh 2 tuổi đã mồ côi cha (1924).


Tôi sinh sau anh 4 năm (1926) nhưng anh gắn bó với tôi từ thuở lọt lòng bởi lý do đơn giản là anh hay đến thăm bà nội khi đó về ở với con gái (mẹ tôi), cho đến năm cụ mất (1930). Do vậy nên tôi thường được anh bế ẵm từ nhỏ, đến khi khôn lớn thường được anh chăm sóc chỉ dẫn.


Anh học tiểu học ở trường Đỗ Hữu Vị, học giỏi nhưng ham đá cầu, đánh đáo. Dáng người nhỏ nhắn, có đặc điểm khác biệt: 2 lúm đồng tiền sâu bên má, tiếng nói khàn khàn, mắt hay nhấp nháy nên bạn bè thường gọi “Lộc nháy”, “Lộc khàn”. Năm 1935-1936 đột nhiên mẹ tôi rồi mẹ anh mất để lại nỗi đau thương cho anh khi học lớp nhì năm thứ hai.


Năm 1938-1942 anh học trường LYPRO (Lycée protectorat - trường Bưởi), tốt nghiệp tú tài phần nhất. Trong thời gian học trường Bưởi, anh tham gia tổ chức Hướng đạo, say mê các cuộc đi cắm trại, tham quan các di tích lịch sử.


Thôi học, anh Trưởng Tiến chỉ dẫn cho đi giúp việc nơi anh làm tại văn phòng luật sư và năm 1943 lấy vợ cho anh nhưng chỉ sau 9 tháng cuộc sống và tình cảm vợ chồng không thích hợp nên anh Trưởng Tiến đành đồng ý để anh ly dị.


Lúc này cũng xảy ra chuyện đau thương, người chị thân yêu đồng cảm chuyện văn thơ đột ngột qua đời sau khi lấy chồng được 6 tháng. Nỗi bi thương được thể hiện trong bài thơ Khóc chị, 42 câu thể lục bát (in trong tác phẩm Lời thông điệp, Nxb Tin hoa ấn hành năm 1946).


Thời gian đầu gia đình ở góc phố Hàng Cót, sau chuyển sang Henri d’Orléans (Phùng Hưng) luôn có gia đình một người bạn thân anh Trưởng Tiến quê bên Đông Anh gửi 2 con trai sang trọ học (anh em ông Thành Tế...).


Thời kỳ phát-xít Nhật o ép chính quyền Pháp, quân đồng minh (Mỹ) luôn ném bom Hà Nội, gia đình chúng tôi phải dọn đồ đạc sơ tán về quê, nghề luật sư cũng không còn đắc dụng nên Hoàng Lộc bắt đầu cuộc sống tự lập bằng việc viết báo, làm thơ, chỗ ở luôn di chuyển: Hàng Than, chùa Hưng Ký, ngõ Nam Đồng, chuẩn bị cho ra tập thơ đầu tiên Từ tịch dương đến bình minh. Lúc này tôi cũng  đã đi kiếm sống, làm thư ký đánh máy cho trường nữ học nên thường đem những bài thơ anh viết để đánh máy, trình bày...


Anh tâm đắc với tên Hoàng Lộc nên trang đầu tập thơ đề tặng Lưu Trọng Lư vì anh mê Tiếng thu, dòng đầu trích 2 câu: “Con nai vàng ngơ ngác, - Đạp trên lá vàng khô”. Anh tự ví anh là Nai vàng - Hoàng Lộc.


Trong bài Hoàng Lộc với bài thơ “Viếng bạn” của Văn Hóa - Ngô Vĩnh Bình in trong cuốn Chân dung các nhà báo liệt sĩ, anh Văn Hóa kể lại: “Hồi ấy, tôi và Hoàng Lộc đều là Hướng đạo sinh Hà Nội, thuộc đoàn Hùng Vương do anh Nguyễn Kỳ con nhà báo lão thành (chủ bút tờ Trung bắc Tân văn của nước ta) làm đoàn trưởng Hướng Đạo.


Những ngày nghỉ chúng tôi thường đi cắm trại ở những nơi danh lam thắng cảnh bằng xe đạp. Trong những lần đi cắm trại đó, Hoàng Lộc cùng một tiểu đội Hươu vì các hướng đạo sinh thường lấy các con vật như Gà, Hươu, Sói ... để làm dấu hiệu phân biệt đội này với đội khác trong đoàn. Hoàng Lộc là học trò trường Bưởi còn tôi là học sinh Thăng Long đều theo học lớp tú tài sau khi có bằng diplôme (Trung học phổ thông) tôi theo học trường tư thục do thầy Hoàng Minh Giám làm hiệu trưởng với các giáo sư nổi tiếng thời đo như Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, anh em Phan Anh, Phan Mỹ, Phan Thanh và nhiều giáo sư người Pháp ... Chúng tôi cùng có trình độ học tương đương như nhau, khá về tiếng Pháp và rất ham thích văn học Pháp.


Chính là trong những cuộc đi cắm trại gần gũi thiên nhiên, sống dưới mái lều vải ở ngoài trời mà chúng tôi thân nhau và trao đổi với nhau về văn học, thơ văn Pháp. Chúng tôi cùng ra một tờ báo viết tay, độ ba chục trang, ca tụng vẻ đẹp của thiên nhiên và lý tưởng của thanh niên, mà cao đẹp nhất là lòng yêu nước, do đấy, không mấy nơi thắng cảnh danh tiếng mà chúng tôi không có dịp đi tới.


Nhờ có tổ chức hướng đạo này, hai chúng tôi đã được đi dự những cuộc họp bạn lớn ở Huế, ở rừng Sặt (Bắc Ninh); chúng tôi có điều kiện đi được vì ngành sắt lấy chúng tôi giá đặc biệt : ¼ giá vé. Chẳng là trong ngành hướng đạo lúc đó tổ chức toàn Đông Dương, có Huynh trưởng Hoàng Đạo Thúy, bác sĩ Trần Duy Hưng, Ngô Bích San cùng mấy người Pháp như Schlemmemer cũng là lãnh đạo trong tổ chức đường sắt của Pháp thời đó nên có thể can thiệp cho chúng tôi đi được những chuyến đi xa của Hướng đạo sinh.


Đến khi chúng tôi đến tuổi để vào các tráng đoàn thì ở Hà Nội lúc đó có hai tráng đoàn:


1. Lam Sơn do Huynh trưởng Hoàng Đạo Thúy phụ trách.


2. Tráng đoàn Bố Vệ do anh Trần Duy Hưng làm đoàn trưởng.


Tôi và Hoàng Lộc lại đều cùng tráng đoàn Bố Vệ của anh Hưng (Trần Duy Hưng) và thường sinh hoạt hàng tuần ở trong khu vực Văn Miếu dưới những mái nhà cổ kính, lợp ngói ta, không có nhà cao tầng nào trong khu vực Văn Miếu cả.


Hồi đó, tôi và Hoàng Lộc đều cùng tha thiết với lý tưởng yêu nước, đi đến những nơi xa có cảnh đẹp để thêm yêu đất nước và theo cuốn sách của Baden Powell là một huân tước (Lord) nước Anh soạn ra cho toàn Hướng đạo sinh thế giới. Cuốn sách tên là Éclaireur.


Thấy cuốn sách đó rất hay, tôi đã cùng Hoàng Lộc dịch ra tiếng Việt (từ tiếng Pháp ra tiếng Việt), mỗi người dịch một phần thành một tập bản thảo độ 400 trang viết, gửi đến tận tay anh Hoàng Đạo Thúy (nhà cũng ở khu phố Văn Miếu) để mong anh Thúy phổ biến và cho in cho Hướng đạo sinh. Ít lâu sau, kháng chiến nổ ra, việc xuất bản ấy không được thực hiện”.


Trong bài Nhớ Hoàng Lộc của anh Từ Bích Hoàng có đoạn viết:


“Trong lớp thanh niên học sinh trường Bưởi theo tiếng gọi cứu nước của Đảng và Bác Hồ lên chiến khu kháng chiến chống thực dân Pháp hồi năm 1946-1947 có một thanh niên vóc người nhỏ nhắn nhanh nhẹn, bên má có đôi lúm đồng tiền to, sâu. Người đó là Hoàng Lộc mà anh em học sinh Bưởi lúc bấy giờ quen gọi là “Lộc khàn” hay làm thơ tình ủy mị và cũng thích coi đá cầu. Sở dĩ anh có cái tên “Lộc khàn” vì giọng nói của anh hơi khàn khàn. Lại còn lặp nữa, vì thế nên bạn bè cứ trêu anh luôn. Trêu nhiều lắm nhưng chẳng thấy anh giận bao giờ. Anh chỉ cười và cái cười thật là hiền ...


Lên chiến khu, Hoàng Lộc vào bộ đội và làm việc ở báo Xông Pha – tờ báo của Vệ quốc quân khu 12 (bộ đội Hà Nội). Lúc bấy giờ cơ quan báo đóng tại Bắc Giang.


Là phóng viên mặt trận của báo, anh rất vui, rất ham với công tác mới mẻ này. Khi ta quyết định mở chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947) cùng với bộ đội anh có mặt ngay ở mặt trận đường số 4. thời gian này, anh đã phải đấu tranh thật nhiều với những thiếu thốn vất vả, với những suy tính lo toan của cá nhân mình. Anh hòa cùng bộ đội bên bếp lửa, anh đắp chung chiếc “chăn ba người” cùng bộ đội, anh chia nhau với bộ đội điếu thuốc dùi phìn Cao Lạng, chuyền tay nhau bao thuốc Ca-men chiến lợi phẩm. Anh nghe bộ đội kể chuyện tâm tình, nói tiếng nói của bộ đội, rất “tếu” rất vui. Anh len lỏi khắp các hẻm núi, xó rừng khe suối dọc đường dọc đường 4 ghi chép những sinh hoạt của bộ đội và đưa tin chiến thắng rất kịp thời. Anh đã trở thành người lính thật sự. Anh lại làm quen với các bản làng, anh vào thăm các “lán kháng chiến”, dự hội “lùng tùng” đón mùa xuân mới cùng bà con các dân tộc ít người. Lại hỏi chuyện bọn tù binh và lục trong đống thư từ bưu thiếp của chúng để tìm hiểu về tâm trạng của kẻ địch. Anh ghi chép kín mấy cuốn sổ tay và sau này về cơ quan báo sửa chữa, tập hợp thành tập sách nhan đề Chặt gọng kìm đường số 4. Tập phóng sự này sang năm 1950 được nhà xuất bản Vệ quốc quân xuất bản. Nó là tập sách xinh xắn dày hơn 100 trang, gồm 32 đoạn ghi chép, phóng sự về chiến thắng đường số 4, (Thu Đông 1947). Nhận xét về tập sách, nhà xuất bản Vệ quốc quân khi ấy viết: Sách “gồm những tài liệu đượm chất sống, linh hoạt của cuộc chiến thắng năm xưa, có hoàn cảnh đi liền với các đơn vị đánh giặc và tìm hiểu sát được mọi người, mọi việc”. Sách “tuy cũ nhưng sẽ góp phần với những sáng tác khác để có thể phản ánh được hết mặt trận đường số 4 trong suốt thời gian chiến tranh, bởi vì riêng Thu Đông 1947 đã không có được một tác phẩm văn chương nào về đường số 4 có giá trị tương đối bằng tập phóng sự của Hoàng Lộc”.


Trong bài “Viếng bạn” Hoàng Lộc của anh Phạm Thúy (Văn nghệ số 39, 27/3/1997) có đoạn viết: “Nhớ lại, sau ngày toàn quốc kháng chiến, Thủ đô rời lên Việt Bắc. Năm 1947 các Quân Khu  được thành lập để tiện chỉ đạo chiến đấu. Khu 12 gồm các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tờ báo Xông pha (sau đổi thành Chi Lăng) ra đời. Nhân viên tòa soạn tập họp từ mọi ngả.


Sống gian khổ nhưng yêu thương và đùm bọc nhau nên mọi việc cũng quen dần. Những số báo đầu tiên cũng lần lượt ra đời, tuy nội dung thì chưa ai thấy ưng ý cả. Chiến sự lan rộng, để bảo vệ máy in và giữ bí mật, cơ quan báo chuyển dần lên Thượng Yên Thế và Thái Nguyên, đóng ở Trại Cà (Mỏ sắt và sau là khu gang thép Thái Nguyên) thì cuộc sống rất gian khổ. Sau mỗi trận mưa là các suối dềnh lên, thác lũ ầm ầm, 5 - 7 ngày không qua lại được. Có khi cả tuần anh em sắn và măng luộc thay cơm.


Mọi người đều cố gắng chịu đựng và trong số đó thì Hoàng Lộc là tiêu biểu. Hoàng Lộc tuy mới ngoài 20 tuổi chín chắn. Anh ít nói, hiền lành, giao việc thì làm không kêu ca, phàn nàn, ít tranh cãi, có gì thì cười xòa, được anh em rất mến.


.... Cuối năm 1948 có tin Pháp đang bí mật tung biệt kích xuống các vùng biên giới Việt Trung, tập hợp bọn thổ phỉ, bọn giặc cỏ, cung cấp võ khí để quấy rối hậu phương của ta. Các đơn vị được cũng cố, cấp tốc điều đi tiểu phỉ ở suốt vùng Hải Ninh, Cấm Sơn, Mẫu Sơn, Thất Khê, Lạng Sơn... Chúng tôi cũng phân công nhau đi theo đơn vị. Bài vở, tin tức gửi về, tờ báo cũng thêm sống động và có khí thế hơn...


Hoàng Lộc được phân công lên vùng biên giới Lạng Sơn...”


Trong bài “Một buổi chiều với anh Hoàng Lộc “ của anh Vũ Sắc, có đoạn viết: “Năm 1949, Phòng tuyên truyền thuộc Cục Chính trị - tức Tổng cục chính trị bây giờ - tổ chức hội nghị tuyên truyền văn hóa - văn nghệ toàn quân tại một địa điểm giáp núi Tam Đảo.


Trong danh sách đại biểu có anh Hoàng Lộc và khác hơn nữa là, sau hội nghị anh sẽ ở lại hẳn tòa soạn báo Vệ quốc quân làm phóng viên chính thức của báo. Anh đã được nhiều bạn đọc biết đến qua bài phóng sự, ký sự, cả tin tức chiến đấu đăng trên báo Vệ quốc quân và Quân du kích - nhất là bài thơ Viếng bạn của anh.


Hội nghị họp ba ngày, đã bế mạc rồi, vẫn chưa thấy anh lên.


Sang ngày thứ tư, trời u ám, đổ mưa tầm tã, các đại biểu vẫn cứ ra về, chỉ còn một bộ phận nhỏ của Phòng tuyên truyền ở lại để giải quyết mọi công việc hậu cần và quan hệ với địa phương. (Bộ phận này do tôi phụ trách, vì tôi được Phòng cử là Tổng trực tinh từ đầu đến cuối hội nghị).


Chừng hai giờ chiều, giữa đợt mưa như trút nước, một người đội mũ nan, khoác mảnh bạt xam xám, ướt lướt thướt, bước lên sàn nhà, đúng chỗ thu dọn cuối cùng của chúng tôi để sớm mai cũng về Phòng ở Bản Vẹ. Anh rũ mảnh bạt vắt ngoài cửa, tôi ra đón, anh tự giới thiệu: “Tôi, Hoàng Lộc ! ...”.


Đến bây giờ tôi mới biết anh - tác giả bài thơ Viếng bạn. Mới bắt bàn tay giá lạnh, mới thoáng nhìn: khổ người mảnh, mặt hom hóp, lưỡng quyền hơi cao, mái tóc không biết vì nước mưa hay vì mồ hôi, bết chéo xuống khuôn trán vuông đã hằn rõ mấy vết nhăn khá sâu ... và tôi chưa kịp hỏi han gì, anh đã nói tiếp:


- Tôi  đi công tác về, có giấy báo lên dự hội nghị để sẵn ở đầu giường, đi ngay mà vẫn trễ. Nhưng đã gặp mấy cậu ở ngoài phố Đại Từ rồi. Nghe chuyện, vui quá!


Tôi thấy mặt anh đỏ văng, nghĩ da dẻ anh vốn thế, tôi anh vào chỗ tôi nằm, bảo anh:


- Ừ, hội nghị vui thật! Nhưng chuyện sau. Tạm nghỉ chung với tôi qua đêm nay, sáng mai về sớm để anh trình diện với tòa soạn chứ.


Anh gỡ ba lô loại lính B.E.P nhảy dù, chiến lợi phẩm, nhỏ, gọn - đẩy vào sát vách liếp, nhờ tôi mở ra lấy hộ anh chiếc khăn - Anh nói nhỏ nhỏ: “Mình đang lên cơn sốt!...”


Tôi vội sờ trán anh: nóng hầm hập. Mặt đã đỏ, mắt cũng đỏ, môi cũng đỏ, hơi thở nóng cả cổ tay tôi. Tôi giục anh thay chiếc quần ngoài, hai ống ướt sũng ra, lấy cả vỏ chăn của anh - vỏ vải dù xanh, mền bông goòn mỏng - và lấy cả chăn trấn thủ của tôi, của cả cậu “hỏa thực” Phong đắp lên, rồi chạy ra đầu cầu thang gọi anh y tá Trường ở nhà bên sang xem sao.


Anh Hoàng Lộc nóng dữ quá, nằm lịm đi!


Anh Trường xem mạch.


Cậu Phong bắc siêu đun nước.


Nhưng anh Trường chưa kịp buông tay bắt mạch, anh Hoàng Lộc bất thình lình vặn người, nhoai đầu ra ngoài cửa sổ ngay chỗ nằm, nôn thốc, nôn tháo. Anh Trường và tôi vừa ôm, đỡ anh, vừa cùng ngó xuống xem: toàn một chất nước đặc, đỏ hồng hồng.


Anh Trường tái mặt:


- Ắc-xe Péc-li-xiơ, sốt rét ác tính rồi!


Tôi luống cuống:


- Làm thế nào bây giờ?


Anh Trường:


- Vượt sức chữa của mình! Cậu tổ chức người khiêng đi cấp cứu.


Rất may, trước ngày hội nghị, anh Trường đã liên hệ với địa phương, với một trạm xá Cục quân y cách đây khoảng 2,3 cây số đường đồi, để phòng chữa những “ca” khẩn cấp. Tôi chạy sang ông trưởng bản: Chỉ một câu ngắn gọn, ông đã nón lá, áo tơi chạy xuống sân “bắc loa tay” hú gọi anh em dân quân.


Tôi chạy về. Anh Hoàng Lộc đã nằm yên trong chăn, nhưng vẫn thở nhiều, thở gấp. Anh Trường ngồi bó gối bên cạnh, cậu Phong đang đun nước và hơ chiếc quần của anh Hoàng Lộc. Tôi khẽ hỏi anh Trường:


- Sao ? Đã thuốc men gì chưa anh?


Anh Trường kéo tôi ra bếp:


- Tiêm rồi, uống rồi! Anh lắc đầu - Khổ, trong tay không có gì ngoài ki-nô-xê-rom, ca-phe-in với ve dầu “cấp cứu thủy” được phát. Tí nữa cho uống tiếp bát nước đường - anh lắc đầu - Khổ, giá được bát sữa!


Ông trưởng bản và bốn anh dân quân vác đòn, cáng đến. Tôi có ý muốn để anh Hoàng Lộc nghỉ, chiều hãy đi. Nhưng tôi chưa kịp nói ra thì anh đã vặn mình, tung chăn, lại nhoai đầu ra ngoài cửa sổ và lại nôn như lần trước, tiếp theo là trận nôn khan, toàn mùi bạc hà của “cấp cứu thủy”.


Anh Trường lại tiêm ki-nô-xê-rom lúc nãy tiêm ven, bây giờ tiêm mông và tiêm tiếp mũi ca-phe-in, lát sau anh lại cho uống nước đường. Xong, anh Trường vừa ôm anh Hoàng Lộc vừa nói như giải thích việc sẽ đưa anh đi trạm xá Cục quân y, cho yên tâm cả anh và cho cả chúng tôi.


Anh Hoàng Lộc khẽ gật đầu. Tôi hỏi thêm:


- Anh có gửi gì cho báo Vệ quốc quân không?


Lúc này anh mới mở cặp mắt đo đỏ, mệt mỏi nhìn chúng tôi và cũng rất mệt mỏi đáp:


- Có đấy, nhưng còn phải sửa, sau về hãy hay; và như sực nhớ, anh đưa tay lên túi áo ngực, tôi thấy có cái nắp bút máy ló ra sáng sáng.


Chúng tôi bế anh xuống cầu thang, đặt lên cáng cùng chiếc ba lô B.E.P của anh, và đắp cả ba chiếc chăn lên. Anh lại mở to cặp mắt đo đỏ, lại nói:


- Đắp chăn của mình thôi! Của các cậu, để lại chứ.


Anh Trường gạt đi:


- Hoàng Lộc yên tâm! Đắp thế này cũng chưa đủ đâu.


Trời vẫn mưa. Chúng tôi vẫn cứ phải đưa anh đi cấp cứu. Suối rộng, nước to, chúng tôi đấu nhau vào cũng vượt qua. Ông trưởng bản trượt ngã ngập cả người, chúng tôi mời ông quay trở lại.


Cáng tiếp tục lên vai. Anh Trường bắt chúng tôi đi chậm. Nhưng sao bước chân chúng tôi vẫn cứ đi nhanh. Anh Trường tức mình, đi trước giữ tốc độ.


Và may quá! Rất là may! Từ đấy lên khu vực trạm xá Cục quân y, anh Hoàng Lộc không “hề hấn” gì.


Nhưng bước vào cửa trạm xá - có lẽ cố gắng nín nhịn đến tột độ để chúng tôi khỏi lo lắng dọc đường - anh Hoàng Lộc  đã bật dậy, tung chăn, nhảy xuống cáng, ôm lấy một gốc cây, lại nôn thốc. Ba bốn anh chị em trong trạm ùa ra. Anh Hoàng Lộc vùng chạy. Nhưng được kịp giữ lại.


Chúng tôi ra về cho đến khi chẳng một ai thanh thản trước cái gọi là “Đã hoàn thành nhiệm vụ” cả. Hàng loạt những câu “giá mà... Giá mà ...” cứ được đặt đi, đặt lại trên quãng đường về của chúng tôi.


... Giữa tháng 12-1949, anh Thâm Tâm báo tin cho tòa soạn biết: Anh  Hoàng Lộc mất rồi! Mất ở Quế Trạo - Vĩnh Yên!”


Trong bài Văn phẩm Hoàng Lộc (in trong Tổng tập nhà văn quân đội, NXB Quân đội nhân dân, 2000, nhà nghiên cứu phê bình Ngô Vĩnh Bình viết:


“.... Nói về văn phẩm của Hoàng Lộc xuất bản trước ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954) người anh trai của Hoàng Lộc, trong một bức thư gửi cho tôi có viết: “Đứng trước một ngã ba đường, chưa tìm được hướng đi, Hoàng Lộc làm rất nhiều thơ và nhờ được sự giúp đỡ của một người bạn gái ở phố Hàng Bạc (Hà Nội) đã xuất bản được hai tập thơ. Quyển thứ nhất tôi không nhớ rõ tên nhưng đọc thấy đó là một tập thơ ủy mị và trừu tượng. Tập thứ hai đáng khuyến khích, đó là tập Từ tịch dương đến bình minh. Tôi còn nghe nói Lộc còn có một vở kịch thơ đang viết dở” (Thư từ Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 8 tháng 9 năm 1991).


Một hôm, tình cờ tôi gặp anh Quách Kiên, bấy giờ là Phó Giám đốc Thư viện Quân đội ở hành lang phòng đọc Thư viện 83 Lý Nam Đế. Anh nói cụ thân sinh ra anh có một tủ sách khá lớn, phần nhiều là sách in ở Hà Nội trước ngày giải phóng 10-10-1954. Tôi nài nỉ anh tìm giúp tập Từ tịch dương đến bình minh của Hoàng Lộc. Ít ngày sau anh đưa tôi không phải là tập thơ có tên như vậy mà là tập Lời thông điệp cũng là tập thơ của Hoàng Lộc.


Đó là một quyển sách 64 trang, khổ 21 x 25, do Tin Hoa xuất bản năm 1946. Trang cuối cùng của tập thơ có đoạn chữ: Lời thông điệp – thơ Hoàng Lộc, Tin Hoa xuất bản, Văn Cao minh họa. Ngoài những bản thường còn có 10 bản giấy vergecrème được đánh số từ Tin Hoa I đến Tin Hoa X và 4 bản đặc biệt giấy dó hồng - sắc đánh dấu: Nghe lời thông điệp, THN, GT, HNT, KV. Những bản giấy quý đều mang chữ ký của tác giả và không bán. In tại nhà in Đông Dương 6-8, Ngõ Trạm trong buổi hồi xuân của đất nước Việt Nam. Và dòng chữ: Kiểm duyệt số 410 ngày 20-7-1946.


Tập thơ gồm 20 bài, chia làm các khúc: Khúc dạo, Khúc hoài niệm, Khúc thông điệp, Khúc hùng tráng, Khúc giáng hương, Khúc vong tình và Khúc thần tụng. Chỉ cần đọc qua tên các khúc đã có thể biết đây là “thơ cũ”. Và mặc dầu được xuất bản “trong buổi hồi xuân của đất nước Việt Nam”. Lời thông điệp vẫn là một tập thơ buồn, những là “Tôi vào cõi phù du”, “Em rủ tôi vào thiên thần thoại”, “khóc chị”, “chuyện suông”, những là “em” và “hoa rụng”, “hoa tàn”... Ngay cả những bài viết trong buổi sáng của mùa xuân, lúc “hoa nở khắp cành”, khi thành phố “tưng bừng mở ngày đại hội” và có những “cô gái thơm tươi áo trắng xinh thêm nụ cười” ... vẫn thấy một tâm trạng buồn, một ý nghĩ dè dặt, hoang mang:


Người có mang lòng ướp hoa


Say mê đi vào Đại lộ


Sớm nay tôi thấy không xa


Con đường mùa xuân lạc phố


(Bài Đêm qua có tin xa lại)


Đọc Lời thông điệp, người ta bắt gặp một giọng thơ mộng nhiều hơn thực, buồn nhiều hơn vui, nhưng mang nhiều khát vọng, khát vọng được yêu thương, được sống tự do và sống đẹp. Ấy là thứ thơ chịu nhiều ảnh hưởng của thơ ca Pháp và thơ của các nhà thơ thuộc nhóm Dạ đài, nhóm Xuân thu nhã tập. Tuy vậy, đọc kỹ cũng tìm thấy những bài, những câu le lói một niềm tin, hy vọng:


Theo lời Mẹ, Em giao tình đổi mới


Những tâm hồn u dại chốn nhân gian


Những linh hồn vong bản nhục cơ hàn


Cho Đất sẽ nở hồng hoa ngọt


(Bài Có phải em là linh hồn nhân loại)


Đọc Lời thông điệp, tập thơ tác giả đề tặng: Tặng Nguyễn Giáng Thơ và em gái, Hoàng Thủy Nguyên, chúng ta còn có thêm một thông tin nữa về văn phẩm của ông qua mục “cùng một tác giả” in ở trang thứ ba của tập sách, sách đã in của ông gồm có: Lời thông điệp và Từ tịch dương đến bình minh, sách sẽ in là cuốn Viễn phố cũng không còn.


... Trước khi viết Viếng bạn, Hoàng Lộc đã làm nhiều thơ, trước khi “khóc bạn”, Hoàng Lộc đã nhỏ lệ nhiều lần. Ông khóc thương một cánh hoa rơi, một giọt sương rụng, một mối tình dang dở, ông khóc người, khóc mình, đôi khi khóc mà chẳng biết khóc ai, làm sao mà khóc? Nhưng đến Viếng bạn thì rõ ràng là tiếng khóc của ông được bật ra từ tiếng nấc, từ đáy lòng ông. Tôi nói thơ Hoàng Lộc, đặc biệt là thơ ông làm trước khi đầu quân là thứ thơ đầm đìa nước mắt nhưng là thứ nước mắt của nàng Kiều, “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”. Những bài thơ nhuốm lệ của Hoàng Lộc rất nhiều, nhưng rốt cuộc chỉ đọng lại được hai bài, đó là bài ông khóc người chị gái có tên là Thúy Mùi của ông và bài ông khóc một người đồng chí, một đồng đội hy sinh.


Xin dẫn nguyên văn bài Khóc chị mà Hoàng Lộc làm khi được tin chị gái mất. Bài nay ông làm tại quê nhà, xã Châu Khê, Hải Dương lúc ông vừa bước vào tuổi 21, năm 1943.


Cõi âm để lại dạ hồng


Tóc xanh tha thướt bềnh bồng còn bay?


Mùi hương, màu phấn, thơ ngây


Hôm nào trang điểm tháng ngày bên hoa


Ngày nay trông bóng dương tà


Từ trong đất lạnh chị ra tự tình


Nghé hơi lau những buồn tênh


Theo đôi ba ánh lân tinh chập chờn


Gió lay, cỏ động từng cơn


Mưa qua vạt áo đã mòn sương mai


Thân vương ngọc liễu bóng dài


Lá rơi mà biếc, tóc phai giáng trời


Lạnh lùng mặt đất đưa hơi


Bốc từng cơn trắng nên lời lui không


Ở đây gió sớm mênh mông


Ngõ ba bề trống ngóng trông chị về


Vườn xưa hoa ngập giậu tre


Trải bao gió lạ miền quê lạnh lùng


Hè nào ngắm bóng soi chung


Mặt gương giếng nước linh lung tiếng cười


Bờ đê dạo bước rong chơi


Áo xanh ngõ trúc, má phơi mây hồng


Nắng xuân chị lại đẹp lòng


Hát lên đưa chảy trên sông óng vàng


Vớt trong tay nước dịu dàng


Nâng niu trên gối hoa toàn phấn hương


Nhìn hoa rồi lại nhìn gương


Chị vui kể chuyện đoạn trường hồng nhan


Đêm sao trăng xế, vàng lan


Năm năm bàng bạc trên ngàn lau khô


Xót xa còn vắng hoa mờ


Gió từng cơn lạnh qua mờ sương rơi


Chị đi qua mấy viễn khơi


Khỏi xa bốn bể, vắng trời rạng đông?


Tiễn đưa, người khóc khuê phòng


“Tóc không được bạc má hồng xưa nay”


Khóc tìm chị đoạn trường thay


Đêm đêm biết ánh sao bay hướng nào....


Nếu đặt bài Khóc chị này cạnh bài Viếng bạn để so sánh chúng ta có thể nhận ra ngay được những điều giống nhau và khác nhau. Cùng là tiếng khóc nhưng đằng là tiếng khóc than, một đằng là tiếng khóc căm hờn, một bên là tiếng khóc ủy mị đầy nước mắt, một bên là tiếng khóc không nước mắt. Điều này chứng tỏ tác giả đã lớn lên, từng trải rất nhiều. Vẫn là tiếng khóc đau thương đấy, vẫn là những tiếng nấc tự con tim đấy nhưng với trường hợp “khóc bạn”, đó là tiếng khóc có sự can trường. Và như thế Viếng bạn không còn là tiếng khóc của những người đồng chí khóc người đồng chí, là tình cảm của đồng đội với đồng đội, “huynh đệ chi binh”.


Trong bài Hoàng Lộc - một nhà thơ mới (Tạp chí thơ số 7-2008, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân viết: “Tập thơ thứ hai của Hoàng Lộc, Lời thông điệp được cấu tạo như một liên hoàn các khúc thức (hay thức các đơn vị gọi là “khúc” ở đây có lẽ là một tên từ hình thức cấu trúc âm nhạc), tuy chất liệu vẫn là những bài thơ độc lập nhau.


Tập thơ mở ra Khúc dạo (1 bài) cho thấy một “tôi” đang “vào cõi phù du”:


Tôi nghe mà chưa hiểu


Những dấu hiệu chung quanh



Tôi đi tìm sự vật


Lẽ tương đối trong tâm


Tiếp đó Khúc hoài niệm (4 bài) như một lời trò chuyện giữa “tôi” và một “Em” nào đó:


Có phải Em là linh hồn nhân loại


Trong buổi hồi xuân?


Có phải Em về đây, qua thời đại


Nguyên vẹn thanh tân?


 


… Theo lời mẹ, Em giao tình, đổi mới


Những tâm thần u dại chốn nhân gian


Những linh hồn vong bản nhục cơ hàn


Cho Đất sẽ nở hồng toàn hoa ngọt.


“Em” (viết hoa) ấy, trong ý tác giả vừa rất quen:


Tôi biết Em từ buổi nhớn lên,


Rồi mơ đêm, thương nhớ giong đèn.


Nhưng hình như lại chưa được gặp mặt, và vẫn thầm mong được gặp:


Chắp tay hỏi bóng: bao giờ gặp?


Cho thỏa tấm tình chưa có tên.


 


… Tôi ruổi Em hay bóng ruổi hình


Từ buổi bình minh


Biến thiên mấy độ, sầu nhân thế


Vẫn hát thanh bình


Ca ngợi tuyết trinh


 


Em xa, xa mãi


Em vắng, vắng hoài


Tôi đi buổi mai


Gặp trời quan tái


Tôi ngồi nắng quái


Thương nhớ đêm dài


Như lạc Thiên Thai.


“Em” ấy là ai? Khó có thể đáp rõ. Đó như là cái đối tượng mà tác giả hướng tới, tìm tới, đã từng biết nhưng không dễ gặp lại, như đối tượng tình ái, lại như đối tượng và nguồn cội của thi ca, như Nàng Thơ của các thi sĩ:


Tôi biết Em đời thêm hãnh kiêu


Tôi mơ Em, thầm dám mơ nhiều


Chiêm bao cuồng loạn, riêng lòng biết


Và bảo thầm: Em sắp giáng thơ!


Tiếp theo, ở Khúc thông điệp (4 bài), nghe như có một chuyển biến, chuyển hóa:


Đêm qua có tin xa lại


Mùa xuân về ngự kinh thành


Sáng nay hoa nở khắp cành


Cả thành rủ nhau đi hái.


 


Đêm qua Mùa Xuân áo mới


Gọi người dậy đón mùa sang


Sớm nay phố xá hai hàng


Tưng bừng mở ngày Đại Hội.


 


Đêm qua cô gái thơm tươi


Áo trắng xinh thêm nụ cười


Sớm nay cảnh vật sáng ngời


Dịu hồng mặc toàn nắng mới.


 


Bước chân rung vang đường xá


Người đi hoa bụi bay rơi


Chao ôi! Ai vẽ khắp trời


Đám mây mùa xưa chấm phá.


Rồi tới Khúc đi hùng tráng (3 bài) cho người ta hình dung một thay đổi ngang cỡ cuộc Sáng Thế:


Buổi Xưa bên cuộc Hỗn Mang


Đất không ảnh ôm trời không tỏa bóng


Một hôm Người đến huy hoàng


Làm cuộc phân chia long trọng


Buổi Xưa tăm tối điệp trùng


Đất u dại trời không ánh giáng


Một hôm Người đến tưng bừng


Mang ánh sáng lành chói rạng



Đạp núi rừng và chạm đục hang sâu


Người kiêu hãnh vạch nên đường biên giới


Hồn bộ tộc tự non cao về tới


Cỏ gai nào nhường dấu vết gạch xây


Đất hoang sơ đảo lộn dưới lưỡi cày


Từng dân tộc bắt đầu chung cuộc sống



Tiếp đó, Khúc giáng hương (7 bài), hầu như trở lại câu chuyện “tôi” hướng tới “Em”:


… Em vẫn giồng hoa ở viên thôn?


Xuân qua vườn nở hết hay còn?


 


… Tôi tìm đường tắm nước sông Ngân


Tìm Em chiêm ngưỡng đời mơ ước


Rồi hỏi cho tường lẽ vọng xuân.


Nhưng có lẽ đây không chỉ là, thậm chí không chủ yếu là chuyện yêu đương trai gái.


… Em trang điểm khoác vai đôi vòng lá


Thoa nắng hồng trên mắt với trên môi


Giục mau đi, Em chẳng muốn tôi ngồi


Nước ngừng đợi, cây bắt đầu lấp ý


Bước cùng nhẹ trong dáng trời thùy mị


Dạo lời ca từ phương gió xôn xao


Gió phương Tây: điệu hùng mạnh máu đào


Trời Đông Hải: hương xanh Kinh cầu nguyện


Đời hoan lạc, lòng nghe chim trò chuyện


Giọng từ bi trao ý chốn thiền môn


Bến Hằng Giang chìm hết chuyện vong tồn


Hồn cát bụi thoát chăng vòng luân chuyển


Lời tâm sự, Em ơi, lời cầu nguyện.


Tiếp theo, Khúc vong tình (5 bài) lại xuất hiện ý hướng muốn hành động vượt ra ngoài nghệ thuật:


Ôi bất lực! Những tà ma nghệ thuật


Ôi mong manh cả kiến trúc thần linh


Thế hệ nào đây đổi xác thay hình


Bao giờ sẽ mang dáng đời viễn vọng?


Người thường biết buồn mơ và xa ngóng


Thi nhân ơi, còn hát đến đêm nào?


Đốt ưu tư, bừng ngọn lửa khát khao


Nổ tiếng thét, khóc ý đời bay mất.


Trong “khúc” này lọt vào một âm chỏi: bài thơ Khóc chị bằng thể lục bát như tách biệt với tất cả các bài trong tập. cả về thể thơ lẫn ý thơ:


… Trời xanh xanh đến phương nao?


Hồn ma thơ dại má đào còn không?


Cõi âm còn để da hồng?


Tóc xanh tha thướt bềnh bồng còn bay?



Cuối cùng, Khúc ca thần tụng (10 bài), gồm những bài thơ ngắn, với những cảm xúc về sự gặp gỡ “tôi” và “Em”:


Em đến bên trời khẽ nhủ tôi


Dậy nghe Tiếng Vọng gọi liên hồi


Mê chi giấc ngủ vô tri nữa



 


Em đến rồi đây, ở cuối đường


Tôi nhìn kính cẩn bớt đau thương


Trời như phảng phất hương thanh tịnh



 


Tôi nhìn Em lại gặp xuân sang


Cầm tay Em hẹn phương trời mới



Trong tập Lời thông điệp, trừ một bài Khóc chị dẫn trên viết bằng thể lục bát, tất cả các bài khác đều được viết bằng các thể thơ mới. Một số bài được viết bằng câu thơ 4 từ:


Ai khóc? Ai cười?


hãy lặng nghe chơi


Tiếng người không bóng


Rung động hoa rơi


(Khúc thông điệp, 4, Dư âm)


Một số bài khác, bằng câu thơ 5 từ:


Vài bóng hình thoảng qua


Dăm cuộc đời xáo trộn


Trăng lên rồi trăng tà


Người vẫn bàn nghiệp lớn


(Khúc dạo)


Một số bài bằng câu thơ 8 từ:


Ôi! Vàng Xanh còn nhớ lại buổi nào


Vui sum họp đôi mặt kề chung gối


Câu tâm sự khi hoàng hôn xuống nội


Chuyện tâm tình trong đêm vắng mờ sương


Những canh khuya tìm dấu lạc trên đường


Hằng thoáng gặp những hồn đi run lạnh.


Nhưng nhiều nhất vẫn là dùng câu thơ 6, 7 từ.


Bước chân rung vang đường xá


Người đi hoa bụi bay rơi


Chao ôi! Ai vẽ khắp trời


Đám mây mùa xưa chấm phá.


Có lúc Hoàng Lộc thử nghiệm câu thơ 8 từ xen với câu thơ 6 từ, tạo hiệu quả khá rõ:


Buổi Xưa thế cảnh xôn xao


Sông nhầm hướng vào núi rừng hoang xú


Một hôm người đến vun rào


Cảnh vật bắt đầu tình tứ.


 


Người ơi, xin rắc phấn hương


Mưa châu ngọc cho đẹp lòng hoang phế


Người xa, gò đống khắp đường


Vùi chết linh hồn dương thế.


Thoáng trong các bài của tập Lời thông điệp này, người ta có thể bắt gặp những chút xíu gì đó như là ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử, của Bích Khê, của Đinh Hùng… Nhưng, khác với các tài thơ đàn anh kể trên, xúc cảm trong thơ Hoàng Lộc thường giản dị, sáng sủa, gần như không có những phức cảm quá tế vi. Mặt khác, nếu đặt các bài của Lời thông điệp cạnh những bài đăng trên Dạ đài hay một số bài của Đông Hoài trong Giác linh hương, ta sẽ thấy Hoàng Lộc có vẻ lành hiền hơn. Các nhà thơ cùng thời ấy thường thích cất giọng hung hiểm từ cõi ma, trong lúc ấy Hoàng Lộc cùng lắm chỉ phác ra được ít nét của cõi trời, hoặc thấy mình bị rủ rê về nép vào hiên thần thoại. Các nhà thơ kia trong những độc thoại mê man, miên man đôi khi bất giác tiên cảm những biến động lớn, những tai ách lớn; Hoàng Lộc trong Lời thông điệp chừng như ngập trong cảm giác về một đổi thay lớn, về một đời mới đang đến”.


 


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học, 9-2010.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »