tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19374702
Lý luận phê bình văn học
17.04.2010
Hoài Anh
Trần Đăng Nhà văn quân đội đầu tiên hy sinh trên chiến trường

Trần Đăng tên thật là Đặng Trần Thi, sinh ngày 11-11-1921, tại làng Đăm, xã Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội.


Thời niên thiếu, Trần Đăng theo cha ra Hà Nội học tại các trường tư thục Văn Lang và trung học Thăng Long, vừa học vừa phụ việc ở thư viện Đại học Đông Dương. Năm 1945, lúc Nhật đảo chính Pháp, anh học năm thứ hai ban Luật trường Đại học.


Cách mạng Tháng Tám thành công, Trần Đăng làm việc trong Ban liên kiểm Việt - Pháp. Trong tùy bút Một lần tới Thủ đô in tháng Giêng năm 1946, anh ghi lại một chuyển biến trong tình cảm: Bấy giờ cách mạng vừa mới thành công nhưng cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài dân tộc vẫn diễn ra gay gắt. Hà Nội vẫn đầy dẫy bọn sĩ quan ngoại quốc nghênh ngang và ngập trong thứ ánh sáng lòe lọet, phù hoa của đời sống tư sản. Trần Đăng mô tả những rác rưởi đó qua cách nhìn dửng dưng của bốn chiến sĩ từ chiến khu về. “... trong ánh sáng ấy giữa những luồng sinh khí ấy bốn chiến sĩ vẫn thản nhiên bước theo hàng một - lối đi rừng người đi sau giẫm lên dấu chân người đi trước. Nét mặt họ lúc này đã trông rõ được bốn khuôn mặt to, đen sạm, hiền hậu vô cùng. Những đôi mắt ấy không sáng lên một chút nào trước những ánh sáng rực rỡ kia - những đôi mắt chỉ nhìn thẳng để bước đều nên tiếng hát của một hộp vô tuyến điện có làm cho người đi đầu nhìn ngang một chút nhưng mà vẫn không nghe thấy, vì tiếng hát đã hát rằng:


Buồn nhớ khóm trúc ngày xưa


Buồn trông tình xưa còn đó


Người xưa còn nhớ ta chăng ?


Hay đã quên rồi


Thực vậy, mắt mở mà không trông, tai lắng mà không nghe, bốn chiến sĩ đều bước theo người đi đầu dẫn đường, không có một chút tình ý gì, không có một dây liên lạc nào giữa những người ấy, giữa những cảnh tượng ấy, kỷ niệm âm u và xa vắng của rừng núi không tan biến trước những ánh sáng của kinh thành ...” Đúng như Nguyễn Huy Tưởng đã nhận xét về văn Trần Đăng: “Cái ngòi bút vừa lạnh vừa nồng nàn, vừa âm vang tiếng sắt thép mà đầy ắp tinh thần vệ quốc quân hiên ngang chăm chỉ thực bộ đội, rất chính quy, tôi chưa được đọc ai như thế”.


Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trần Đăng công tác ở Văn phòng bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam, năm 1948 anh được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam và trở thành phóng viên mặt trận báo Vệ quốc quân. Mùa xuân 1948 vừa bước chân về tòa soạn anh đã cùng bộ đội hành quân phá gọng kìm của địch để sau đó viết bài ký Trong rừng Yên thế. Giữa năm 1948 anh theo bộ đội vào vùng địch hậu Đông Bắc, ngược rừng Ba Chẽ ra tận Móng Cái, Tiên Yên, vừa đi vừa viết bút ký Trận Phố Ràng. Ra Đông Bắc, anh bị thương ở chân, vết thương chưa lành gặp một đơn vị trên đường 4, vùng biên giới Việt - Trung, anh đi liền để viết ngay và sau cho in bài tường thuật chiến đấu Đường số 4, 15 cây số giữa Thất Khê và Lũng Phầy in nhiều số trên báo Vệ quốc quân.


Ngoài văn xuôi, Trần Đăng còn viết nhiều tiểu luận về văn nghệ kháng chiến, văn nghệ trong quân đội, trong đó có cuốn Ý kiến nhỏ về văn nghệ trong giai đoạn chiến lược thứ hai (Vệ quốc quân 1949). Trong bài này anh đã trăn trở cho tương lai văn nghệ nước nhà khi viết: “Văn học sẽ vượt qua trình độ những phóng sự, những mẩu chuyện, những bút ký, tùy bút... cấu tạo sơ sài và giản dị. Nó sẽ tiến tới những tác phẩm có xây dựng, có sáng tạo vững vàng, sâu rộng, thống nhất được những tài liệu phức tạp trong không gian và thời gian”.


Bản thảo cuối cùng ghi trong sổ tay của anh trước khi hy sinh là thiên bút ký Một trận vui lớn trên đường số 4 còn dở dang, sau được đăng trên tuần báo Văn nghệ số 151 (20-12-1956). Tập Truyện ký Trần Đăng được nhà xuất bản Văn học in năm 1969.


Bài Vài kỷ niệm văn nghệ bộ đội của anh Từ Bích Hoàng in trong cuốn Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1954 (NXB Khoa học Xã hội, 1995) có đoạn viết: “Hồi còn ở Hà Nội, tôi không biết Trần Đăng, chỉ biết anh qua người em ruột là Đặng Trần Quỳnh học trường Bưởi. Vào khoảng 1957, sau khi Pháp rút khỏi Việt Bắc, thì Trần Đăng về tòa soạn báo Vệ quốc quân. Hành trang của anh chỉ có một ba lô lép kẹp, một khẩu súng và một cái quần “đoóc mơi” mặc trên người. Lúc  đó trông anh gầy yếu, đen xạm, mắt mở to nhưng lờ đờ. Anh cho biết: Vừa ở khu Ba lên thì giặc Pháp đánh Việt Bắc. Vậy là nhập đoàn luôn với bộ phận văn phòng Bộ tổng chỉ huy đánh giặc về mạn Bắc Sơn, Đình Cả, giặc rút thì xin về làm báo, làm văn nghệ. Chuyện lên chiến khu của Trần Đăng, tôi cũng được nghe anh kể lại trong một lúc vui vẻ cùng anh em rằng: anh yêu một cô gái, hai người cùng từ Hà Nội ra đi kháng chiến ở Khu Ba, nhưng tình duyên không thành, anh lên chiến khu. Về tòa soạn, Trần Đăng sống cùng Mai Văn Hiến, Dương Bích Liên và tôi ở một cái nhà sàn tại bản Vẹ. Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, anh là người hiền lành, vui vẻ. Thỉnh thoảng, anh em có tiền góp lại mua vịt nấu cháo, ngồi ăn uống rượu. Để đùa Dương Bích Liên ăn nhanh, Trần Đăng thường chỉ vào mâm nói: thôi, mày để lại mấy miếng thịt này cho tao còn uống rượu, thế là mấy anh em lại được một trận cười thoải mái. Trong công tác, anh là người có ý thức về việc viết hơn các anh em khác hồi đó trong tòa soạn, có nhiều suy nghĩ nung nấu về nghề văn. Truyện Lúa mới lấy thực tế ở bản Vẹ, sau một vụ lúa được mùa. Ghi chép Hoa bưởi trên sông Đuống viết sau một chuyến đi về Khu Ba. Những bài đó Trần Đăng viết ngay theo cảm xúc. Khi chiến dịch Việt Bắc kết thúc, anh được tòa soạn giao lên Bắc Cạn lấy tin viết bài. Trên đường trở về, anh bị sốt không kịp tới cơ quan, phải ở lại một bản cách xa tòa soạn. Tôi đi công tác về ngang qua được gọi vào, thấy Trần Đăng đang nằm xoài ra vì sốt, ba lô vất sang một bên. Chuyến đi ấy về, anh viết được truyện Người chính trị viên trong đề lao Bắc Cạn. Ngoài truyện trên, anh còn viết một bút ký kể về chuyến đi. Nhưng khi đưa anh em đọc có ý kiến phê bình, cho là trong đó còn vướng vất cái cũ, yếu ớt của quá khứ, nên Trần Đăng đã xé bỏ bản thảo bút ký ấy đi, không tiếp tục viết nữa. Đến truyện Những ngày cuối năm anh viết quên ăn quên ngủ, viết rất vất vả trong cái lán của tòa soạn ở giữa rừng, vào một mùa đông rất rét, phải đốt củi lên vừa để sưởi vừa để lấy ánh sáng viết”.


Trong bài Nhà báo - Nhà văn - Liệt sĩ Trần Đăng của Ngô Vĩnh Bình  Trúc Kỳ in trong cuốn Chân dung các nhà báo - liệt sĩ (Hội nhà báo Việt Nam xuất bản), anh Trúc Kỳ kể lại: “Hồi còn công tác ở tòa soạn báo Vệ quốc quân trên chiến khu Việt Bắc, tôi với Thâm Tâm và Tấn - tức Thôi Hữu, tức Tân Sắc - thường ở cùng một nhà. Thỉnh thoảng có điều kiện, chúng tôi lại tổ chức ăn tươi...


Trần Đăng ở cách chúng tôi mấy nhà. Anh vừa đi công tác về, định sang trao đổi với Thâm Tâm lúc đó là thư ký tòa soạn báo về nội dung bài anh định viết cho số tới. Chúng tôi cùng nói:


- Hãy chén với chúng mình cái đã. Bài vở sẽ bàn sau!


Trần Đăng vui vẻ ngồi xuống, vừa vặn khép kín mâm ăn thành vuông góc “tứ trụ triều đình”. Trông anh vẫn không có gì thay đổi. Vẫn một kiểu ăn mặc ấy, quần áo cánh đen với chiếc trấn thủ đã sờn và bạc phếch. Vẫn một con người ấy, cao và gầy, mình mỏng, tóc cắt ngắn, hai mắt mở to như đang tìm một cái gì, mặt đen xạm vì nắng gió đường trường. Là phóng viên năng nổ, anh đi công tác suốt, ngược xuôi theo các đơn vị chiến đấu, xông xáo trên nhiều mặt trận, hết xuống trung du, đồng bằng lại lên Tây Bắc, Đông Bắc, chẳng mấy khi chiụ ở nhà lâu.


Đợt này anh vừa được tham gia một trận phục kích tiêu diệt xe tiếo tế của địch trên đường số 4. Một trận đánh xe thắng lớn nhất, giòn giã nhất kể từ khi bắt đầu kháng chiến tới lúc bấy giờ, diệt nhiều địch, bắt tù binh, thu nhiều chiến lợi phẩm... Anh mang về cho chúng tôi tất cả cái không khí hào hùng của trận chiến thắng qua lời tường thuật hối hả và nóng bỏng của anh. Từ những buổi tranh luận trước sa bàn đến những ngày bí mật hành quân, ém quân, nín thở chờ địch, rồi cái lúc mình tưởng vỡ ngực nhìn thấy đoàn xe của chúng lọt gọn vào trận địa mai phục của mình và bị tiêu diệt hoàn toàn..., anh hầu như không bỏ quên một chi tiết nào.


Vừa ăn, anh vừa kể chuyện, nhanh nhanh và gấp gáp như sợ không đủ thời gian để nói cho hết. Cuối cùng khi mâm bát đã được dọn đi và pha trà cũng vừa độ ngấm, anh lấy trong túi dết ra đưa cho chúng tôi một hộp sắt nhỏ màu đồng thau và nói:


- Mải nói chuyện suýt nữa quên thuốc lá “Ê - ranh - mo” chiến lợi phẩm đấy. Thơm tuyệt trần !


Chúng tôi vội lấy hút thử. Đúng là thơm thật! Một mùi thơm đặc biệt, sực nức và tràn ngập căn sàn. Nó vừa đậm đà vừa êm dịu, lại quyến rũ như có men say. Sẵn có lưng chén bốc trong đầu, lại thêm hương thuốc mới, tôi bỗng cảm thấy lâng lâng, người nhẹ bẫng. Giữa lúc ấy Trần Đăng bất thình lình vỗ vào vai tôi:


- Cậu có nghe thấy tiếng gì không ?


Tôi lắng tai. Một lát sau, có tiếng “ùm” từ phía dưới suối đầu bản vang lên mạnh mẽ tưởng như làm lay động cả màn khói thuốc đang tràn ngập lấy chúng tôi. Trần Đăng nói tiếp:


- Tiếng cối nước giã gạo đấy. Nó không vội vàng và lách cách như tiếng thoi đưa của máy dệt, cũng không vội vàng phấp phới phóng tít lên không trung như máy bật bông. Nó có vẻ hơi chậm chạp nặng nề, mới nghe tưởng như đứt khúc nhưng rất đều đặn, không sai một giây nào. Nó bền gan nhẫn nại, không kể ngày đêm năm tháng, trời nắng với trời mưa ... Suốt đêm hôm phục kích đoàn xe địch, mình chỉ nằm đếm những tiếng này từ chân núi hắt lên như tiếng trống cái đầu đình ngày hội làng, nó âm vang nện mạnh vào sương đêm, chuyển động cả bầu trời.


Ngừng một lát, anh nói tiếp:


- Dù có đi đến cùng trời cuối đất, mình cũng không bao giờ quên được tiếng cối nước nện vào sương đêm đó trên núi rừng Việt Bắc.


Sau bữa đó, chúng tôi lại mỗi người trở về với công việc của mình, người ngồi viết, người đi lấy tài liệu hoặc về với các đơn vị trên các chiến trường.


Thu Đông năm ấy, Thâm Tâm ở nhà “giữ gôn”. Tôi về Bắc Ninh theo tiểu đoàn Thiên Đức, hết vùng sông Cầu lại sang vùng sông Đuống. Tấn và Trần Đăng đi theo tiểu đoàn 29 lên vùng biên giới phía Lạng Sơn.


Tôi trở về cơ quan vào một ngày gần Tết ta. Không hẹn mà nên, Tấn cũng về ... Và tối hôm đó tôi và Thâm Tâm đã được Tấn kể về trường hợp hy sinh đau đớn của Trần Đăng. Anh nói:


- Chúng mình được giới thiệu về với tiểu đoàn 29 do Hùng Sinh làm tiểu đoàn trưởng và Bùi Thịnh làm chính trị viên ngay từ đầu chiến dịch đường số 4. Trong khi quân ta đang tiến công tiêu hao và tiêu diệt đồn địch thì Hồng quân Trung Quốc cũng tiến mạnh xuống Hoa Nam, có bộ phận đã áp sát biên giới ta. Vì thế khi kết thúc chiến dịch, tiểu đoàn 29 không về xuôi như trước mà được lệnh ở lại, vượt biên giới sang hoạt động ở mấy huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, tiếp giáp với Lạng Sơn. Tiểu đoàn có nhiệm vụ bắt liên lạc với giải phóng quân Trung Quốc, cùng với bạn phát động chiến tranh nhân dân, xây dựng dân quân khu du kích và tiêu diệt tàn quân Quốc dân Đảng. Việc đầu tiên là thành lập một phái đoàn làm việc trước với bạn. Phái đoàn do đồng chí Hùng Sinh làm trưởng đoàn, Bùi Thịnh làm chính trị viên, Lê Trần Quang làm thư ký, Lò Văn Danh làm phiên dịch và hai đoàn viên là mình và Trần Đăng. Tỉnh ủy Lạng Sơn cũng cử hai đồng chí là Cang và Trấn Biên tham gia đoàn. Sáng 25-12-1949 hai đồng chí Cang và Trấn Biên sang Ái Khẩu - Trung Quốc gặp dinh trưởng - như tiểu đoàn trưởng bên ta - họ đi trước để chuẩn bị cho phái đoàn của ta sang làm việc vào ngày hôm sau.


Nghe tin được đi gặp các đồng chí giải phóng quân anh em, mình và Trần Đăng vô cùng sung sướng, bụng dạ cứ nao nao, mong sao cho chóng tới cái phút ấy. Trần Đăng vội chuẩn bị hai bút máy hút đầy mực, một quyển sổ tay mới. Cậu nói nhỏ với mình:


- Chúng mình có lẽ sẽ là những nhà báo Việt Nam đầu tiên được trực tiếp gặp giải phóng quân Trung Quốc đây. Mình lo quá. Không biết sẽ viết như thế nào cho xứng với sự kiện lịch sử này.


Sáng hôm sau 26-12-1949, mới bảy giờ phái đoàn chúng mình đã lên đường. Lần đầu tiên sang gặp bạn, anh em đều ăn mặc chỉnh tề, quần áo đẹp đẽ và không ai đeo súng. Từ nơi đóng quân của ta là bản Nà Lầu thuộc Lạng Sơn, sang Ái Khẩu chừng năm kilômét. Với đôi chân lính ta quen đi bộ thì khoảng cách đó chẳng có nghĩa lý gì. Vả lại cũng mong chóng gặp bạn nên đều rảo bước. Đi được một đoạn thôi thì đồng chí dẫn đường đã nói:


- Chúng ta bắt đầu sang đất bạn rồi!


Mọi người lòng dạ bồi hồi, xốn xang khó tả, hết nhìn về nước nhà lại nhìn sang đất bạn. Bốn bề vẫn núi cao rừng rậm, mây mù phủ kín đất trời. Đi vào đất bạn nhưng bọn mình thấy phong cảnh chưa có gì khác nhiều so với bên ta. Những căn nhà sàn nhỏ nép mình dưới các lũng sâu, bên những sườn đồi. Những người dân quần áo chàm tay rộng, như đồng bào Nùng bên mình. Những ruộng bậc thang lượn dưới chân núi. Những suối bò ngoằn ngoèo dưới các khe sâu... Những rặng tre rì rào trước gió. Cũng đã có hương bưởi gợi nhớ miền quê ta. Và cũng có cả những cây đào trĩu nụ, có cành đã loáng thoáng nở hoa. Nhưng cũng giống như Lạng Sơn, phần lớn ở đây là đào phai, phơn phớt hồng, rất ít đào thắm như ở Nhật Tân gần quê Trần Đăng.


Đi vào đất bạn chừng hai kilômét thì phái đoàn chúng mình gặp một tốp chừng một tiểu đội lính không đeo quân hiệu nhưng đều có súng. Họ ách chúng mình lại. Qua  đồng chí phiên dịch thì họ hỏi:


- Các anh đi đâu ?


Đồng chí Hùng Sinh trả lời:


- Chúng tôi là bộ đội Việt Nam sang gặp dinh trưởng.


Họ nói:


- Qua trạm đây rồi hãy đi!


Cả đoàn không hiểu họ là ai, nhưng cũng phải đi theo. Đến nơi, họ chẳng nói, chẳng hỏi gì thêm mà bắt đầu khám túi quần túi áo, lấy hết tiền nong, đồng hồ, bút máy, chỉ thiếu có lột quần áo nữa thôi. Trần Đăng đưa tay lên định giữ  lại quyển sổ và bút máy, nhưng họ đã giằng lấy hết. Trước tình hình đó, cả đoàn đã biết rằng bọn họ không phải là Quân giải phóng. Hùng Sinh dặn nhỏ anh em:


- Chúng ta sống cùng sống, chết cùng chết, anh em chờ lệnh tôi, không ai tự ý chạy một mình.


Sau này, mọi người được biết rằng chúng là lực lượng tiền vệ của trung đoàn bảo an số 1 của Quốc dân đảng Quảng Tây. Chúng lột anh em xong, giải anh em đến một thung lũng gọi là Leo Cao, bắt anh em xếp thành hàng ngang quay mặt vào vách đất. Đồng chí Hùng Sinh hô to:


- Anh em chú ý: Chạy đi !


Anh em nhất loạt vùng chạy, băng qua các bờ vách, lẩn vào các khe và bụi rậm. Súng trường súng máy của chúng ồn ào bắn đuổi. Khi về được tới Nà Lầu, mọi người điểm mặt thấy thiếu Bùi Thịnh và Trần Đăng. Đồng chí Hùng Sinh đã cho Đại đội phó Nguyễn Thế Long đưa một trung đội đầy đủ súng ống sang Leo Cao. Bọn lính Quốc dân đảng đã chạy mất - vì chúng đang tan rã trước sức tấn công của Quân giải phóng. Anh em tìm thấy Bùi Thịnh và Trần Đăng ngã gục trên một vạt ruộng.


Nghe Tấn kể xong, chúng tôi nín lặng hồi lâu, lòng trĩu lặng buồn đau. Tôi nhớ lại cái đêm ở bên cạnh Trần Đăng sau bữa cháo vịt dạo nào. Tôi nhớ đến những bài anh đã viết, nhớ đến nỗi đam mê nghề nghiệp của anh, càng thương tiếc anh, một đồng chí, một đồng đội, một đồng nghiệp, một tài năng”.


Bài Những bạn văn trẻ của Nguyễn Huy Tưởng đăng trên tạp chí  Văn nghệ số xuân 1950, có đoạn viết: “Những ngày gần kháng chiến, cũng như từ kháng chiến đến nay, tôi được Trần Đăng gửi gắm rất nhiều tâm sự. Tôi là người thu nhận và đọc trước nhất những tác phẩm của anh bạn trẻ này. Lúa mới, Những ngày cuối năm, Trận phố Ràng, Người chính trị viên trong đề lao Bắc Cạn và được thấy rõ bước tiến của Trần Đăng. Từ chỗ thiên về sự phân tích cảm giác, anh đã mạnh dạn bước vào con đường hiện thực mạnh và khỏe. Con người trầm tĩnh, suy nghĩ, coi bộ lạnh lùng này, giấu trong lòng nhiều băn khoăn, nhiều sóng gió, nhiều dự định lớn lao. Và bao trùm tất cả Trần Đăng là lòng tin tưởng vững chắc ở quần chúng, về phương diện sáng tác cũng như về phương diện phê bình. Tôi đọc một đoạn thư của anh: “Không kéo được quần chúng tham gia văn nghệ, khó lòng chúng ta tạo nên những tác phẩm lớn. Sáng tác không phải là công việc của một số người chuyên nghiệp, và phê bình không phải là độc quyền của một cá nhân. Tôi ghét những lối phê bình vô trách nhiệm, đặc biệt của một vài nhân vật vỗ ngực trí thức. Tshekhov gọi đấy là con bọ làm khổ con bò đang nai sức làm việc. Tốt hơn hết là nghe lời phê bình của quần chúng. Nó lành mạnh, và chỉ có nó là sáng suốt. Ngoài ra là láo toét hết”.


Cái quan điểm ấy đã giúp Trần Đăng tiến mạnh trên con đường văn nghệ, điều mà ta nhận thấy rất rõ trong tác phẩm cuối cùng của anh. Nó đã đem lại cho Đăng cái say sưa hào hứng lăn mình vào quần chúng, nghe tiếng nói quần chúng, do quần chúng mà tu dưỡng mình, tu dưỡng nghệ thuật”.


Biết bao nhiêu tác phẩm của con người bừng bừng  sức sống này đã không thành. Trong bài Trần Đăng của Tô Hoài đăng trên tạp chí Văn nghệ số xuân 1950 có đoạn viết: “Trong những câu chuyện thường ngày với bạn bè, Trần Đăng luôn say sưa trước bối cảnh Đông Bắc chiến thắng, anh có ý định viết một truyện dài, và sẽ đưa vào truyện, có thể là ngay từ chương đầu, hình ảnh tấp nập của những binh đoàn với những chuyến cần vụ hàng nghìn người, với từng đoàn phụ nữ dân tộc áo chàm màu nhiễu mới, đi tiếp tế, đi tải thương”.


Trong bài Trần Đăng của Nguyễn Đình Thi, đăng tạp chí Văn nghệ tháng 10 năm 1950 có đoạn viết: “.... Lặng lẽ, nhẫn nại, Trần Đăng đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Thu Đông 1947 ở Yên Thế Thượng, La Niên, mùa xuân 1948 ở chung quanh Hà Nội, xuân 1949 ở đường số 1, men theo Lũng Phầy, cái thung lũng lửa đã trở thành nghĩa địa của các binh đoàn thiết giáp thực dân, mùa hè 1949 trên sông Thao, Thu Đông 1949 lại lên Đông Bắc, vượt qua đường 13 tiến sâu vào những núi đá và đồi trọc hoang vu vùng địch hậu. Trần Đăng đi mải miết, không nghỉ, không mệt. Những người lính chủ lực, những anh đại đội trưởng trẻ tuổi, nghịch ngợm và nghiêm trang đã quen dần với anh phóng viên gầy gầy, người mỏng, mặt đen, hai mắt mở to, trắng và lờ đờ, có cái nhìn như lúc nào cũng đặt một câu hỏi. Trần Đăng viết ngoài mặt trận, ở cơ quan, trên đường đi, giữa hai chiến dịch, giữa hai chặng đường. Anh ghi trong sổ tay: “Chỉ có sống, sống cái khách quan và kể lại. Hãy khoan một tấm sơn mài. Hãy làm nhiều croquis cho thật đúng, giản dị thành thực và thật”.


... Thu Đông 49, vừa ở sông Thao về, viết vội viết vàng xong Trần Phố Ràng, rồi đi Bắc Cạn, Trần Đăng lại lên đường theo một đội võ trang tuyên truyền vào Đông Bắc. Tháng 11, trong một lần đi qua đường 13, anh bị phục kích. Người chính trị viên đi cùng với anh hi sinh. Trần Đăng trúng đạn ở gót chân, lết theo một rãnh ngập cỏ, thoát tay giặc. Những sổ tay ghi chép chuyến đi của anh đều mất cả. Anh ghi vào quyển sổ còn lại cuối cùng bằng tiếng Anh: “11-1949: Một ngày sinh mới, hai mươi tám tuổi ở Đình Lập, Hải Ninh”.


Cuối năm, đội công tác văn nghệ đường số 4 chúng tôi gặp anh ở Bản Châu. Trần Đăng mất hết áo quần, rét run cầm cập, ở với chúng tôi một tuần lễ, huấn luyện văn nghệ cho bộ đội. Anh dạy hát cho chị Hùng chủ nhà, và những tối khuya quấn chăn bên bếp lửa viết một chuyện tết về hậu phương, cái truyện Người gác tàu bay ấy bị anh xé đi, định viết lại. Bộ đội trở lên vùng Đồng Đăng. Vết thương chưa lành, Trần Đăng lại đi. Trên biên giới, lần này anh đã bỏ mình dưới làn đạn của bọn Tàu trắng. Trần Đăng hi sinh bên cạnh anh chính trị viên Bùi Thịnh, chết cái chết của người chiến sĩ. Trong cuốn sổ tay anh ghi bài bút ký cuối cùng, ấm áp nhộn nhịp cảnh một đại đội xung kích sắp ra trận, từ anh cấp dưỡng, anh lính cầm mác, đến những anh cán bộ, những con người sống và chết trong lửa đạn. Trần Đăng đã ghi lại được nhiều cảnh sống, những con người bộ đội. Bút ký có tựa đề Một cuộc chuẩn bị. Theo tôi, đây là một áng văn khỏe đẹp hiếm có viết về bộ đội ta”.


Trong bài Cháy bản thảo của Nguyễn Tuân đăng trên tạp chí Văn nghệ số xuân Canh Dần (1950) có đoạn viết: “.... Tin ở mình ở cuộc đời thanh niên hoạt động để phục vụ của mình, và tin là sẽ gặp được hết cả nhân vật của mình trong quá trình kháng chiến, anh Đăng đeo trên vai cái bạc đà, chiến dịch mở đến đâu anh có mặt ở đấy. Anh sống sát những tâm lý xung phong, anh sống giữa dân chúng vùng kiểm soát, vùng giải phóng, trong đầu sinh thành lần lần cái bố cục của tác phẩm. Anh tham dự những đợt xung kích, anh bám theo những bộ phận nhẹ các cán bộ chuẩn bị đi chiến trường, suốt ba bốn chiến trường lớn năm 49, bên cạnh những đồn lũy bốc cháy, giữa những phút nguy nan bị phản động đánh úp, trong tưởng tượng của người làm truyện, lố nhố hiện lên vô khối là nhân vật. Giữa những đám cháy to rền vang tiếng chém, bắn, đâm giết, quần áo thấm mùi khét chất nổ, Đăng tập trung ý nghĩa xúc cảm và tưởng tượng vào một cuộc xây dựng.


... Tôi ghi lại mấy ngày cuối cùng sống với Trần Đăng ở Đông Bắc.


Đơn vị vượt đường số 4 về bên này được ít hôm rồi... Các cán bộ đều khai hội sơ kết để chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết kinh nghiệm của Trung đoàn. Và anh em Văn nghệ “tùy quân ký giả” thảo luận với Ban chỉ huy về thời khóa biểu và địa điểm cho đơn vị dưỡng quân rèn chỉnh nay mai.


Tiếng Trần Đăng ở đầu dây nói Ủy ban Kháng chiến Lạng Sơn. Trần Đăng vừa đi ở phía đường số 18, số 13 về, hút chết, bị thương ở chân và đạn dùi cả áo, mất cả tài liệu, chúng tôi hẹn gặp nhau ở địa điểm trung đoàn mở lớp. Mưa sướt mướt. Một buổi tối ở Bản Châu chỗ Ban chính trị đóng,  Đăng bước lên nhà sàn ướt át. Lửa bếp rọi vào một khuôn mặt gầy gầy, toác .... một bộ răng rất trắng, Đăng kể những chuyện khó khăn ở quãng Biển Động, Hai Síu, Đình Lập, Lộc Bình và những kinh nghiệm đối phó giặc, vây giặc , úp giặc phục, sự khắc phục thủy thổ và nhân tâm như thế nào. Ở đấy có những chuỗi đồn gọi là đồn cầu an, nó như một hàm răng lung lay chỉ giật mạnh là rụng hết. Nhưng lại có những cuộc khai hội mà cán bộ phải tự túc về ăn uống trong suốt thời gian hội nghị. Cơ sở dân chúng ở đây tương đối lại vẫn dễ nắm hơn là hoàn cảnh kinh tế. Điều kiện chiến đấu của vùng này có những hình thái đặc biệt, ở những khu vực hoạt động hậu địch khác, sự đau khổ chỉ do con người tạo ra. Ở đây sự khó khăn và cạm bẫy lại còn do thiên nhiên nghiệt ngã tạo ra. Sông núi, rừng, đồi ruộng đều thừa người. Bên cạnh những dân chúng lừng khừng, lại có những người tích cực, đại khái những lái đò ở vùng tạm chiếm dìm thuyền ở bên đồn và nhất định đi theo bộ đội. Những bài hát thông thường của vùng đại tự do chưa phổ biến ở đây. Vì nhu cầu của xúc cảm thường xuyên, cán bộ tự đặt ra nhiều điệu hát rất ngô nghê, lạ tai. Đăng có chép được mấy đoạn, nghe rất buồn cười và rất thương. Sau những mẩu chuyện nóng hổi về đời sống “bên ấy”, Đăng vồ lấy anh trưởng ban chính trị, đòi chép lại cái bài thơ Phan Phú tử trận ở bản Trại, cảm xúc về con sông Thu Bồn ở quê xa.


Ban giám đốc lớp huấn luyện văn nghệ ở riêng một nhà sàn gần cái đình dùng làm giảng đường cho gần 100 học viên. Trần Đăng cũng đến ở với chúng tôi, nhận giảng cho ít giờ về đường lối bích báo. Nhà sàn có một nữ đồng chí người Nùng trước làm cán bộ huyện. Mưa liên miên ở huyện Bằng mặc cữ này. Đăng nhớ lại một câu hợp cái cảnh: “Mưa là một vấn đề quan hệ trong cuộc đời xúc cảm”. Từ hôm khai mạc lớp, cả ban ngày cả tối, chúng tôi luân phiên nhau xuống thang bì bõm lò dò sang đình “lên lớp” cho anh em chiến sĩ của đơn vị về môn văn, thơ, họa, nhạc, kịch, bích báo. Đăng chỉnh học viên ghê quá, anh bảo học viên, những con người đã ít nhiều chọc tiết Tây, rằng: “Chúng ta rèn chỉnh về tư tưởng chưa đủ, chúng ta phải rèn chỉnh cả về tình cảm nữa. Phải khóc cười thế nào cho đừng sai...”. Một số học viên chưa hiểu con người Trần Đăng, cũng có phần hoang mang, xôn xao.


Tối tối tất cả bọn quây lấy bếp lửa. Rang lạc ăn, nói chuyện công tác, sáng tác và đều bốc đồng muốn dựng ngay nhân vật bên cạnh lửa sàn. Chị cán bộ Nùng vừa cười vừa học hát. Lúc mọi người đi nằm thì Đăng thắp đèn ngồi chữa lại cái truyện ngắn định đưa đăng tạp chí Văn nghệ. Đầu đề truyện ngắn cuối cùng của anh là Người gác tàu bay , dựng lên một người đánh kẻng báo động cho cả khu phố chung tiền thuê mình canh khu trục đến quấy phá sự làm ăn của hậu phương. Trần Đăng vốn là một người chuyên bám sát các chiến dịch sống lệch hẳn về mặt trận và lúc sáng tác lại thích viết về những hình ảnh và con người của hậu phương. Những ngày cuối năm rồi lại Người gác tàu bay. Có lẽ anh sợ tình cảm của anh lệch đi về thực tế chiến tranh luôn luôn tiếp xúc, nên lúc biểu hiện cảm xúc, anh lại ngả về phương diện nhân dân khác cho con người mình được cân đối chăng? Cái bản thảo truyện ngắn này anh chưa bằng lòng nên không đưa lại ngay cho chúng tôi cầm về vội. Anh vốn thận trọng với sáng tác. Và nếu bản thảo ấy thất lạc trong chuyến Đăng gặp nạn vừa rồi thì thật là một điều đáng tiếc.


Trung đoàn vừa nhận nhiệm vụ mới của Bộ trao cho. Và sửa đoạn cho một bộ phận sang đường cái. Lẽ tất nhiên, Trần Đăng là người đi theo. Chúng tôi ai cũng bồn chồn, đặt nhiều giả thiết cho chiến công mới của bộ phận sắp lên đường. Ngày bế mạc lớp cũng gần tới, và xong lớp thì chúng tôi trả công tác cho trung đoàn quay về Hội văn nghệ. Anh chị em cán bộ Nùng giã gạo nếp suốt đêm làm bánh dầy tiễn cả bọn lên đường. Ngoài nhà sàn, mưa vẫn liên miên. Hôm ra đi, Trần Đăng chụp ảnh cho mọi người. Anh cùng anh Tân Sắc vui vẻ xuống thang, như thói quen vui nhộn mọi ngày chia tay, chúng tôi ở sàn nứa nói xuống: “Chiến thắng thủ đô!” Chị cán bộ Nùng phàn nàn: “Anh Đăng vội quá, không ở lại ăn bánh dầy với các anh”. Lớp học ngày bế mạc hôm ấy, tôi làm nốt hai giờ cuối cùng, giảng kém hào hứng, lòng dạ phân chia với hoạt động mới của tiểu đoàn mình đã quen thuộc và phải chia tay từ ngày mai.


Cái hình ảnh Trần Đăng để lại trong tôi lần cuối cùng ấy là cái dáng hăm hở bước đều của một người đeo ba lô đi dưới mưa trên cỏ ruộng lầy Đông Bắc”.


Hoài Anh 


www.trieuxuan.info


Nguồn: Rút từ Danh sỹ Hà Nội. Tiểu luận của Hoài Anh. NXB Văn học, 9-2010.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
Nghiệp thơ - Lê Đạt 15.05.2017
Franz Kafka: Nỗi lo âu mang tên ngoại biên - Lê Thanh Nga 12.05.2017
Chỉ nhà thơ “Bên thắng cuộc” mới có cách tân? - Lại Nguyên Ân 10.05.2017
Nhà thơ Việt Phương: Thơ làm chết người như bỡn... - Ý Nhi 06.05.2017
xem thêm »