tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21260886
Tiểu thuyết
11.03.2010
TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz
Đường công danh của Nikodema Dyzmy

VI 


Dưới bàn tay điều khiển thành thạo của người tài xế, chiếc ô tô phóng nhẹ nhàng và êm ả trên con đường bằng phẳng. Sau trận mưa hôm qua, đây đó vẫn còn đọng lại những gương nước nho nhỏ; buổi sáng trong lành đầy ánh nắng mặt trời.


Đyzma lên Vacsava.


Lão Kunixki cố ý bắt y đi bằng ô tô riêng chứ không đi tàu hỏa, vì như lão bảo, sẽ oách hơn.


Quả thật chiếc xe mùi trần dài ngoẵng đúng là một phương tiện đại diện xứng đáng, nó đập vào mắt người ta bởi sự sang trọng, nó bóng nhoáng đến lịch sự, nó chinh phục bằng vẻ hào hoa của từng chi tiết. Bộ quần áo đồng phục màu trắng của tài xế và tấm chắn nhỏ bằng da hổ mà Đyzma dùng để che đầu gối hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh. Cũng vì vậy, cứ lần nào dừng nghỉ chút đỉnh trong những thị trấn dọc đường (mà họ cũng rất ít khi dừng lại) thì xung quanh chiếc xe hơi tuyệt diệu này lâp tức tụ tập một bọn hiếu kỳ, chúng không những chỉ ngạc nhiên trước chiếc ô tô mà còn thán phục nét mặt đầy vẻ ông lớn của người khách đang ngồi ngả người trong đó.


Tại một trong những chỗ dừng chân ấy, Đyzma lấy trong cặp ra một chiếc phong bì không dán. Đó là bức thư của bá tước Pônimirxki gửi cho phu nhân Psêuenxka. Y đã thận trọng nhận mang theo bức thư này phòng xa và giờ đây bắt đầu đọc thư. Bức thư như sau:


Dì thân mến!


Nhân cơ hội ở điền trang Kôbôrôvô của chúng ta, bị tên kẻ cướp Kunik thoán đoạt, tổng quản lý lại là ngài Nikôđem Đyzma (vốn là một quý tộc vùng Kurlanđia), người mà cháu hoàn toàn tin tưởng mặc dù bề ngoài không có vẻ như thế, bởi đó là một người đứng đắn và là bạn học của cháu từ hồi ở Ocxford, người hết sức tốt bụng đối với cháu - âu đó cũng là điều dễ hiểu - và không tốt đối với thằng Kunik đê tiện - điều cũng thật dễ hiểu - cháu viết thư này cho Dì Thân Yêu nhất của cháu để Dì tìm cách bàn bạc với những người cần thiết và nhờ các ảnh hưởng và thế lực của ngài Đyzma cố gắng giải thoát cho cháu khỏi cảnh giam cầm bằng con đường giám định y khoa nhằm kết luận rằng cháu không hề bị ốm về thần kinh để tòa án trả lại cho cháu quyền tự quyết, cháu sẽ khởi tố kiện thằng Kunik về tội chiếm đoạt Kôbôrôvô, điều ấy sẽ dễ dàng hơn nếu Dì Thân Yêu biết cách thu thập ở các nơi cần thiết những thông tin sít sao nhất về vụ biển thủ của thằng con hoang mụ thợ giặt kia, cái vụ dính dáng đến chuyện ăn cắp trong khâu cung cấp các tà vẹt đường sắt mà Dì đã từng nói cho cháu hay, cũng như việc thoán đoạt danh hiệu của dòng họ quý tộc Kunixki bằng cách đút lót và sửa mạo giấy tờ, những thứ này có thể phát hiện ngay được bằng cách khám xét bất ngờ, vì thằng Kunik vẫn giữ nguyên vẹn các thứ giấy tờ của hắn trong két chịu lửa đặt trong buồng ngủ ngay sau một bức rèm che, cháu biết được điều này nhờ đám gia nhân phần nào vẫn trung thành với cháu, nhờ đó trong trường hợp cuối cùng, nếu không còn cách gì khác, cháu định sẽ làm un coup d’etat([1]), khi ấy cháu sẽ tự tay bắn chết thằng khốn nạn kia, điều ấy thực ra cũng không khiến cháu thích thú gì vì như Dì biết cháu chỉ chuyên săn các loại thú rừng thanh cao mà con lợn Kunik lại không thuộc vào những loài thú đó, nếu như hắn không chui vào chuồng lợn thì nhất thiết phải có mặt trong nhà tù, điều này cháu chỉ biết trông cậy ở Dì Thân Yêu mà thôi, sau khi lấy lại được Kôbôrôvô cháu sẽ lập tức trả ngay cho Dì toàn bộ số nợ của cháu cùng với tiền lãi phần trăm, cháu có thể trả cho cả Zyz Ksêpixki, thậm chí cháu sẽ đồng ý cưới tiểu thư Huntrưnxka mặc dù cô ấy không còn trẻ trung gì mà lại nhiều tàn hương quá đỗi, cốt sao có thể làm Dì được vui lòng, điều này ông Nikôđem Đyzma cũng đã được thông báo cũng như trong toàn bộ vấn đề au courant([2]) vậy nên xin Dì bàn bạc cùng ông ấy, bởi ông ấy có những mối quan hệ hết sức rộng rãi tại Vacsava, nhất là trong giới chính khách, điều này không phải không có ý nghĩa trong việc của cháu, đồng thời cũng là việc của Dì, điều mà cháu hết sức hy vọng, kết thúc bức thư, cháu xin lỗi vì nó quá dài, cháu xin được chân thành hôn tay Dì, một đứa cháu muôn vàn yêu kính Dì([3]).


                       


                                                GIOOCGIƠ PÔNIMIRXKI


 


Nét chữ trong thư rất khó đọc và Đyzma phải mất đến nửa giờ đồng hồ đánh vần bức thư. Y sung sướng được Pônimirxki liệt vào hàng quý tộc xứ Kurlanđia, ngược lại y đâm lo lắng khi thấy chàng bịa cho y đã tốt nghiệp trường đại học tổng hợp Ocxford. Lạy Chúa che chở, chẳng may có ai đó dùng tiếng Anh nói chuyện với y thì lộ tẩy hết, bởi y chẳng biết một chữ nào.


Thực ra, y cũng chưa quyết định có đến gặp bà phu nhân Psêuenxka kia hay không. Nếu như y có ý định đó thì không phải là do những lời của vị bá tước nửa phần loạn trí nọ thốt ra dưới dạng mệnh lệnh, mà chủ yếu là do cuộc trò chuyện cuối cùng với phu nhân Nina. Y không để lộ cho nàng biết âm mưu của y với anh nàng, nhưng kết hợp những thông tin từ cả hai phía với một vài câu nói của lão Kunixki, y đi đến kết luận rằng những yêu sách của Pônimirxki không đến nỗi quá tuyệt vọng như y vẫn tưởng.


Vậy nếu như bây giờ y đến thăm phu nhân Psêuenxka thì có thể làm sáng tỏ toàn bộ sự việc.


Cũng còn những phương diện khác nữa, những phương diện chỉ liên quan trực tiếp đến bản thân y, khuyến khích cuộc viếng thăm kia. Đó là những thế lực và những mối quan hệ bằng hữu có thể có được ở bà phu nhân kia, người tiếp xúc với những tầng lớp thượng lưu của xã hội. Những mối quan hệ ấy rất có thể có ý nghĩa to lớn đối với Đyzma trong việc giải quyết vấn đề của lão Kunixki, việc quyết định số phận cái chức vụ hiện nay của y.


Y đang suy nghĩ về việc đó và chưa biết làm thế nào để tìm ra đại tá Varêđa thì ô tô bắt đầu đi vào vùng có những công trình xây dựng đầu tiên của khu Praha([4]). Mặt trời đã lặn từ lâu, và dường như để đón chào Đyzma, những hàng đèn đường chợt bừng sáng.


- Một điềm lành. - Y thầm nhẩm.


- Ngài ra lệnh đến khách sạn Châu Âu ạ? - Tài xế hỏi.


- Đến Châu Âu. - Đyzma quả quyết.


Sau một đêm ngủ ngon lành, y thức dậy hoàn toàn tỉnh táo và tràn đầy những ý nghĩ tốt đẹp. Y đi ngay vào thành phố.


Từ Bộ Quốc phòng([5]) người ta giới thiệu Đyzma đến Phòng Thông tin của Bộ Tư lệnh Thành phố, tại đó y được biết rằng, đại tá Vaxoap Varêđa về mùa hè thường ở vila “Haiti” tại Cônxtantin và thường đến chiều ngài mới vào thành phố.


Qua vẻ lễ độ khác thường mà người ta thông báo cho y, Đyzma đoán được rằng đại tá Varêđa chắc phải là một nhân vật có tầm cỡ. Y định hỏi về cương vị của Varêđa, nhưng lại thôi vì e người ta sẽ nghĩ y không biết gì về các vấn đề quốc gia cả.


 Mãi đến gần mười giờ Đyzma mới nảy ra ý định đi đến Cônxtantin. Y bèn thực hiện ngay. Thực ra con đường đi rất xấu, nhưng nhơ sức mạnh của động cơ xe và kinh nghiệm của tài xế nên họ đến nơi rất nhanh, chỉ nửa giờ sau đã có mặt tại Cônxtantin. Họ dễ dàng tìm thấy vila “Haiti”. Đó là một vila hai tầng có cái hiên rộng rãi hướng ra vườn, trông rõ qua hàng rào mắt cáo. Ngoài hiên, một đức ông nào đó đang ngồi đọc báo hàng ngày. Khi ô tô dừng lại trước cửa, ông ta quay mặt lại và Nikôđem nhận ngay ra đó chính là ngài đại tá.


Ngược lại, ngài ta mặc dù khom mình đáp lễ nhưng vẫn cứ nheo nheo đôi mắt cận thị nhìn mãi người khách mới tới, cho đến khi Nikôđem mở cổng, ngài đại tá mới đứng vụt dậy kêu lớn:


- Ôi xin chào! Lạy Chúa tôi, chính người chơi cho Terkốpxki một vố đây mà! Xin chào, ông Đyzma, ông biến đi đâu lâu thế? - Ngài đưa cả hai tay bắt tay y.


- Xin kính chào đại tá, tôi chả ngồi ở thôn quê mà. Nhưng hôm qua tôi lên Vacsava, được biết đại tá ở đây...


- Bravô! Một ý nghĩ tuyệt vời! Ông dùng bữa sáng với tô chứ?


- Quả thực, các vị ở nông thôn dậy cùng lúc với gà.


Ngài đại tá rất phấn khởi trước chuyến thăm viếng của Đyzma, phấn khởi hoàn toàn chân thành. Ngài rất thích nhân vật này, thêm nữa, cỗ xe sang trọng của Đyzma là điều đảm bảo chắc chắn rằng hôm nay ngài không phải đi cái đoàn tàu hỏa Vilanốp tởm lợm kia nữa.


- Hôm qua chúng tôi uống cũng dữ, - Varêđa nói - tôi cứ e rằng hôm nay sẽ váng vất, nhưng may quá, tôi thấy rất khỏe.


Quả thực ngài đại tá rất vui vẻ và hoạt bát, chỉ riêng đôi tròng trắng mắt vằn những tia máu để lộ cuộc hành lạc hôm qua.


- Tôi nói: may quá, - Ngài giải thích - vì thế nào chúng ta chẳng phải uống một bữa chào mừng cuộc viếng thăm của ông. Ông biết không, câu chuyện của ông với tay Terkốpxki đã trở thành một giai thoại rồi đấy. Ông nên biết rằng dù sao ông cũng đã gọt cho thằng cha đần độn ấy nhọn ra được chút ít.


- Ê ê ê, đâu có nhẽ?


- Thề có Chúa! Đồ quỷ sứ, leo được lên cái ghế Đổng lý Văn phòng Thủ tướng là đầu óc đã đảo lộn lên hết cả. Thằng ngu, hắn cứ tưởng người ta phải quỳ mọp trước mặt hắn suốt lượt ấy!


- Thế còn ngài bộ trưởng Jasunxki hiện đang làm gì ạ?


- Sao lại làm gì? - Đại tá ngạc nhiên - Ông ấy đang họp ở Buđapest mà.


- Đáng tiếc.


- Ông có việc gì với ông ấy à?


- Việc vặt thôi, nhưng quả cũng có.


- Thế thì ông hẵng ở lại Vacsava vài hôm đi. Chí ít chúng ta cũng vui chơi cùng nhau một chút chứ. Jasunxki rất hay nhắc đến ông đấy...


Đyzma không khỏi ngạc nhiên nhìn đại tá. Đại tá bèn nói thêm:


- Thật đấy, có Chúa chứng giám. Ông ấy hay nói thế nào về ông nhỉ? Khoan, khoan... A ha! Cái tay Đyzma ấy có cách tiếp cận cuộc đời rất chuẩn xác: tóm chặt lấy chỏm tóc và quại thẳng vào mõm! Sao? Jasunxki có cách diễn đạt riêng của mình mà! Thậm chí tôi đã khuyên y nên ghi vào sách châm ngôn kia đấy.


Trong cuộc trò chuyện tiếp đó với đại tá, Đyzma được biết rằng chiếc ghế của Jasunxki đang lung lay tợn, bộ trưởng đang bị các tổ chức địa chủ cũng như liên minh nông dân có điền sản nhỏ chống đối kịch liệt, thế mà giờ đây Terkốpxki cùng phe lũ của hắn lại còn đào hố dưới chân ghế của ông ta nữa... Đang có cuộc khủng hoảng nặng nề trong nông nghiệp và không có cách gì để ứng phó. Thật tiếc cho Jasunxki, một con người thông minh, một người bạn tốt.


Câu chuyện chuyển sang đề tài công việc của Đyzma, và đại tá hỏi:


- Ông Đyzma này, hình như ông là người chung vốn hoặc láng giềng của tay Kunixki ấy thì phải?


- Cả thế này, cả thế kia, - Đyzma đáp - ngoài ra tôi còn là đại diện toàn quyền của bà vợ ông ta nữa.


- Thế á? Ông nói thật đấy chứ? Của bá tước tiểu thư Pônimirxki ấy à? Một nàng tóc vàng xinh đẹp phải không?


- Đúng thế.


- Tôi nghe bảo cô ta không được “gì” lắm với tay Kunixki.


- Rất không được. - Đyzma cười.


- Nói riêng giữa hai ta nhé, tôi cũng chẳng ngạc nhiên gì, vì lão ấy là một lão khọm và chẳng có thớ gì cả. Chắc hẳn ông phải biết lão rõ hơn tôi.


- Vâng, nhưng làm thế nào được?


- Tôi hiểu, tôi hiểu, - Đại tá đồng tình - công chuyện là công chuyện. Ông không giận chứ, ông Đyzma, nếu tôi xin phép mặc quần áo trước mặt ông?


- Xin cứ tự nhiên ạ.


Họ cùng bước vào phòng, đại tá nảy ra ý định mời khách nếm thử cốctai do chính ngài nghĩ ra. Trong khi đó người hầu mang bộ quân phục vào, và nửa giờ sau Varêđa đã chuẩn bị xong.


Họ cùng bước ra xe, ngài đại tá thán phục ngắm nghía từng chi tiết của chiếc ô tô. Có lẽ ngài rất thạo máy móc, ngài trò chuyện với tài xế khá nhiều, thỉnh thoảng ngài lại dùng những thuật ngữ kỹ thuật mà Nikôđem không hiểu.


- Tuyệt, tuyệt vời! - Varêđa thán phục lặp đi lặp lại, ngồi vào xe cạnh Đyzma - Chắc hẳn ông phải chi khá đậm cho chiếc xe này chứ hả? Đến tám nghìn đôla không?


Ô tô lăn bánh, lợi dụng tiếng máy nổ khỏa lấp câu chuyện, Nikôđem đáp lại:


- Hê hê, thêm vài số lẻ nữa.


Dọc đường, họ hẹn nhau đến tối gặp lại và ăn tối ở quán “Ốc đảo”.


- Ở đó hay hơn cả, ta sẽ gặp nhiều người quen. Ông có quen Ulanixki chứ?


Đyzma không quen, nhưng e rằng đó là một nhân vật nổi tiếng nào đó chăng nên y trả lời rằng chỉ mới biết tên mà thôi.


Sau khi đưa đại tá đến bộ tư lệnh, Nikôđem quay về khách sạn và ra lệnh cho tài xế mười giờ đêm mang xe tới. Rồi y một mình bước vào quán cà phê, chật vật lắm mới tìm được một cái bàn trống, gọi nước chè, bánh ngọt, và suy ngẫm xem nên làm gì cho hết thì giờ. Song y chẳng nghĩ ra được việc gì cả. Ở Vacsava này, y chẳng quen một ai đáng để y - một người đang đảm nhiệm chức vụ tổng quản lý cao sang thế này - đến thăm. Chỉ mới thoáng nghĩ tới gia đình Barchix, trong lòng y đã rùng hết cả lên. Đối với y, gian phòng ám khói của họ cũng là một biểu tượng của cái thực tại đáng buồn mà người ta vẫn buộc phải nhớ tới, giống như những hồi ức về căn phòng nhỏ xíu bẩn thỉu đầy vết mực ở sở bưu chính Uyxkốp. Y hiểu rõ rằng chẳng bao lâu nữa cuộc phiêu lưu kỳ diệu này của y sẽ phải chấm dứt, nhưng nghĩ về chuyện ấy làm gì?


Song sự vô công rồi nghề cứ bắt đầu óc y quay trở lại với cái thực tế đau lòng nọ, để xua đuổi ý nghĩ ấy, Đyzma leo lên gác và trở về phòng. Ở đó y chợt nhớ đến bức thư của Pônimirxki.Y lôi ra đọc lại.


- Ê ê ê, việc quái gì! - Y phẩy tay - Mình cứ đến, họ làm gì được mình kia chứ?!


 


***


 


Ngày hôm ấy, khi thức dậy, phu nhân Juzêphina Psêuenxka bước nhầm chân trái ra khỏi giường. Lúc mười giờ cả bếp đều nhất trí thừa nhận sự thật hiển nhiên này, còn tới mười một giiờ thì toàn biệt thự đã trở thành cả một cảnh nhốn nháo và huyên náo, tưởng như bà chủ không phải chỉ bước qua một mà ít nhất cũng tới hai chân trái ra khỏi giường cùng một lúc.


Vào lúc mười hai giờ, biệt trang vô vàng đáng trọng của bà chủ tịch phu nhân Psêuenxka đã là một bức tranh đáng buồn của hỗn loạn và hãi hùng, trong đó, những thứ đồ cổ quý giá cũng phải chịu đựng những thử thách gớm ghê, chúng bị di chuyển hết chỗ này sang chỗ khác, đến mức trong cơn lộn xộn mỗi lúc một tăng, chúng bị ngập trong bụi bặm, giơ những cặp chân còi xương đầy phong độ lên trời. Trong nỗi kinh hoàng của đám gia nhân, bà chủ phi nước đại khắp nhà, chẳng khác chi một nữ thần Vankiria([6]) đang tung hoành trên bãi chiến trường. Phóng trước bà là hàng tràng những lời chửi rủa đậm đà, theo sau bà hai vạt áo choàng nội tẩm bay phấp phới trên đống hoang tàn, hệt như đôi cánh của một chiếc áo burnux A Rập vậy.


Máy hút bụi rên rỉ âm ỉ trong phòng khách, ngoài sân vang lên những loạt tiếng bồm bộp đập bụi thảm, cửa sổ lúc mở toang ra vì không ai chịu nổi bầu không khí ngột ngạt trong nhà, lúc lại đóng đánh sầm bởi các luông gió lùa ghê gớm có thể dứt đứt đầu người ta như bỡn.


Thêm vào đó, điện thoại lại cứ reo chuông liên tục, để rồi ống nói của nó được đón nhận hàng tràng lời băm vằm sức như dao của bà chủ.


Chính vào một lúc như thế, ở tiền sảnh lại vang lên tiếng chuông gọi cửa. Thật quá mức chịu đựng! Phu nhân Juzêphina đích thân phi nước đại ra tiền sảnh trước sự kinh hoàng của đám gia nhân, họ chỉ còn biết khấn thầm trời đất hãy che chở cho vị khách rủi ro nọ mà thôi.


Cửa bị giật tung qua đó, câu hỏi được bắn ra như một phát đạn đại bác gầm vang:


- Cái gì?


Cách tiếp đón khiếm nhã kia hoàn toàn không khiến Đyzma hoảng hốt. Trái lại, tự nhiên y cảm thấy tự tin hơn, bởi giọng điệu và dung mạo của cái bà kia khiến y nhớ đến môi trường sống quen thuộc của chính bản thân mình.


- Tôi muốn gặp bà Psêuenxka.


- Cái gì, thì người ta đang hỏi?


- Có việc. Đề nghị báo cho bà chủ biết có một người bạn của cháu bà đến thăm.


- Cháu nào?


- Bá tước Ponimirxki. - Đyzma kiêu hãnh trả lời.


Nhưng hiệu quả của cái tên đó thật hoàn toàn bất ngờ. Bà chủ nhà đang đầu bù tóc rối kia liền giơ cả hai tay ra trước mặt như muốn tự vệ chống lại một kẻ thâm nhập nào đó, bà hét toáng lên:


- Không trả! Ta không trả thay cho cháu ta một xu nào hết! Ai bảo cho nó mượn làm gì?


- Cái gì? - Đyzma kinh ngạc.


- Xin ông cứ đến mà đòi thằng em rể của nó! Tôi không trả một xu, một xu mẻ nào hết! Thật quá quắt, sao tất cả mọi người cứ nhè tôi mà đòi? Ăn cướp à?...


Đyzma tức quá. Máu dồn lên mặt y.


- Quỷ quái thật, sao bà lại gào lên thế hả? - Y cũng quát tướng lên.


Phu nhân Psêuenxka nín bặt như bị sét đánh, người bà co rúm lại, mắt trợn trong kinh hoàng nhìn người khách không mời mà đến kia.


- Không ai thèm đòi tiền nhà bà, nếu người ta có muốn điều gì thì chính là muốn trả tiền cho nhà bà thì có.


- Cái gì?


- Tôi nói: trả tiền.


- Ai? - Bà hỏi với nỗi kinh ngạc mỗi lúc một tăng.


- Thế bà nghĩ là ai? Hoàng đế Ba Tư hay Quốc vương Thổ Nhĩ Kỳ hả?... Chính là cháu bà, là bạn tôi.


Phu nhân Psêuenxka đưa cả hai tay lên ôm đầu.


- Ôi, xin ông thứ lỗi, hôm nay tôi nhức đầu kinh khủng mà lũ gia nhân lại còn khiến tôi tức phát điên lên được, xin ông bỏ quá cho!... Vô cùng xin lỗi ông. Mời ông vào.


Đyzma theo bà ta bước vào một phòng nhỏ bên cạnh, nơi phân nửa số đồ gỗ đang nằm lăn lóc trên mặt sàn, chính giữa phòng sừng sững một chiếc chổi đánh bóng sàn nhà. Bà đặt một chiếc ghế bành cạnh cửa sổ mời y ngồi, rồi xin lỗi về trang phục của mình và rút lui ngay ra ngoài để rồi mất hút suốt nửa tiếng đồng hồ.


“Thổ tả thật chứ! - Đyzma nghĩ bụng - Mụ ta nhảy xổ vào mình cứ như chó đẻ nhảy vào thằng gù ấy. Quỷ sứ xui khiến mình tới đây chắc. Rõ ràng bà dì chẳng kém phần điên hơn ông cháu. Mang tiếng một bà lớn mà nom cứ như con mẹ bếp...”.


Y bực mình khá lâu, nhưng đến khi hơi nguôi nguôi, y đã tiếc vì đã cho bà chủ biết quá sớm ý định trả nợ của Ponimirxki.


“Bà ta biết hắn điên, chắc cũng sẵn sàng nghĩ mình là thằng điên nốt”.


Rốt cuộc bà chủ nhà cũng xuất hiện. Giờ đây bà mặc một chiếc áo choàng nội tẩm cực đẹp màu tía, tóc tai chải chuốt cẩn thận, trên cái mũi bự thịt cùng hai gò má nhỏ cao trắng xóa một lớp phấn dày bự, nó càng nổi bật hơn bên màu son đỏ chót của đôi môi.


- Vô cùng, vô cùng xin ông vui lòng lượng thứ, - Bà ta nói ngay - quả thực đầu tôi có lúc quá căng thẳng. Tôi là Psêuenxka...


Bà chìa cho y bàn tay dài và gầy guộc. Nikôđem hôn tay, xưng tên.


Bà bắt đầu hỏi han y, song những câu hỏi cứ liên tục nối theo nhau, khiến y dầu có muốn cũng không tài nào trả lời nổi câu nào. Y bèn im lặng rút bức thư của Pônimirxki trao cho bà.


Cầm bức thư trong tay bà kêu lên:


- Lạy Chúa, tôi quên mất cái kính rồi, Franiu, Franiu! Antôni! Franiu! - Bà gọi tướng lên.


Có tiếng chân chạy thình thịch vội vã, lát sau cô sen mang tới một chiếc kính gọng vàng. Phu nhân Psêuenxka bắt đầu đọc thư, trong khi đọc, mặt bà thỉnh thoảng lại đỏ bừng lên, mấy lần liền bà phải ngừng đọc để ngỏ lời xin lỗi Đyzma, mỗi lúc một nhũn nhặn hơn.


Bức thư đã tác động mạnh đến bà. Bà đọc lại một lần nữa rồi tuyên bố rằng đây là một vấn đề vô cùng quan trọng, không phải vì chuyện Giorgiưc([7]) định trả nợ cho bà, mà nói chung kia.


Bà hỏi Đyzma khá nhiều về tình hình Kôbôrôvô, về tâm trạng của “cô bé Ninetka bất hạnh”, về tình trạng sản nghiệp của “thằng kẻ cắp Kunik”, và cuối cùng bà kết thúc bằng câu hỏi: - Không rõ tôn ông khả kính nghĩ gì về tất cả những chuyện đó?


Tôn ông khả kính không hề nghĩ gì hết, y trả lời nửa miệng:


- Tôi cũng không biết nữa. Cần phải trao đổi với luật sư.


- Một ý kiến tuyệt vời sáng suốt! - Phu nhân Psêuenxka chộp ngay lấy ý đó, giọng đầy tán thưởng - Nhưng ông biết không, có nhẽ trước đó ta nên bàn với ông Ksêpixki đã. Ông có quen ông Ksêpixki không ạ?


- Không, không quen. Ai thế?


- Đó là một người rất nhiều năng lực, một người quen từ xưa của gia đình chúng tôi, mặc dù ông ấy vẫn còn trẻ lắm. Thưa ông, thế hiện ông đang nghỉ ở khách sạn phải không ạ?


- Vâng.


- Ông không từ chối nếu tôi mời ông ngày mai đến dùng bữa trưa chứ? Sẽ có mặt cả ông Ksêpixki, chúng ta sẽ bàn toàn bộ vấn đề này. Được chứ ạ?


- Vào hồi mấy giờ?


- Năm giờ chiều, nếu ông vui lòng.


- Cũng được.


- Và rất mong ông tha thứ cho cuộc tiếp đón khiếm nhã vừa rồi, ông không giận tôi chứ?


- À không. - Y đáp - Ai chẳng có lúc nhỡ...


Y ngắm kỹ bà và chợt nhận ra rằng bà thậm chí cũng có vẻ đáng mến. Bà có lẽ cũng đến ngoài năm mươi tuổi, nhưng những cử chỉ nhanh nhẹn và dáng hình thon thả đã khiến bà có vẻ trẻ hơn nhiều. Bà tiễn Đyzma ra phòng ngoài, mỉm cười duyên dáng từ biệt.


“Ở nhà các ông bà lớn này, - Nikôđem nghĩ bụng khi bước xuống những bậc thềm - chẳng ai có thể lường trước chuyện gì sẽ xảy ra”.


Y ghé vào một bar gần nhất ăn trưa. Đó thật là một điều dễ chịu vì rốt cuộc y được ngồi ăn một mình, và có thể hoàn toàn thoải mái, không cần phải để ý xem cái này phải ăn bằng thìa còn cái kia lại phải dùng nĩa.


Cuộc viếng thăm phu nhân Psêuenxka để lại trong y ấn tượng rằng toàn bộ câu chuyện kia sẽ chỉ được kết thúc bằng những lời bàn bạc suông vô vị, và niềm hy vọng của ngài bá tước Pônimirxki sẽ chỉ là mơ tưởng viển vông thôi.


“Lão Kunixki chẳng phải là một thằng ngốc chịu để yên cho kẻ khác chọc tứ phía. Lão cũng cáo lắm chứ!”.


Y phân vân một lúc, tự hỏi phải chăng nên kể lại cho lão Kunixki biết hết mọi chuyện. Song sau đó, y đi đến kết luận rằng giữ mồm giữ miệng cho kín vẫn là khôn ngoan hơn cả. Nói cho cùng, y cũng không muốn phản Pônimirxki, bởi y tin rằng điều ấy sẽ khiến cho phu nhân Nina đau xót, mà bà ta lại là một người phụ nữ rất đáng yêu.


Một bảng quảng cáo bằng ánh sáng nhiều màu rực rỡ ở ngay cạnh bar chợt đập vào mắt Đyzma. Rạp chiếu bóng. Bao lâu rồi y chưa hề được đi xem phim! Y nhìn đồng hồ, còn những năm tiếng nữa kia mà.Chẳng nghĩ ngợi gì lâu, y bước vào mua vé.


Bộ phim hết sức tuyệt vời, hết sức hấp dẫn. Một tên cướp trẻ phải lòng một tiểu thư xinh đẹp, cô nàng bị một bọn cướp khác bắt cóc, sau bao nhiêu chuyện phiêu lưu mạo hiểm, bao nhiêu trận chiến đấu ngoan cường, hắn mới cứu được cô gái kia, để rồi rốt cuộc được sóng đôi cùng nàng trên tấm thảm cưới. Và điều thú vị nhất là đám cưới lại do chính cha đẻ cô gái - một vị mục sư tuổi tác với nụ cười khoan hậu trên khuôn mặt nhăn nheo - làm chủ hôn.


Thoạt tiên, chi tiết này có gây cho Đyzma vài điều thắc mắc, nhưng những băn khoăn ấy tan biến ngay khi y nghĩ rằng câu chuyện kia diễn ra ở Mỹ, nơi mà hình như các vị mục sư vẫn có thể có con.


Phim hấp dẫn đến nỗi Đyzma ngồi xem hai buổi chiếu liền.


Khi y bước ra khỏi rạp, đường phố đã rực rỡ muôn ngàn ánh điện. Trên các vỉa hè chen chúc những đám người đi dạo. Buổi tối nồng nực và oi bức. Y tản bộ về khách sạn. Từ đằng xa y đã nhận ra chiếc ô tô tuyệt vời của Kunixki đang đỗ ngay trước cửa.


“Xe của ta!” - Y nghĩ bụng và chợt mỉm cười.


- Nào, có chuyện gì đấy? - Y hỏi người tài xế khi anh ta cúi chào y.


- Không có gì ạ, thưa ông.


- Thế anh có được việc gì không?


Tài xế kể rằng anh ta đến thăm họ hàng, anh ta người chính gốc Vacsava. Họ trò chuyện một lúc nữa rồi Đyzma lên phòng để thay quần áo và tha lót cổ áo.


- Hôm nay mình phải chơi cho tay đại tá lác mắt mới được. Mình sẽ thết hắn sâm banh.


Mười lăm phút sau xe y đã đến trước cửa hàng “Ốc đảo”. Trong phòng ăn lớn đang còn vắng vẻ lắm. Chỉ mới vài bàn có đôi người ngồi.


“Mình đến khí sớm” - Đyzma nhận định.


Y gọi rượu vốtca và thức nhắm. Người hầu bàn gọi y là “quý ngài” và lập tức bày lên bàn các loại gia vị, hai người khác thay nhau mang ra những chiếc đĩa to tướng với đủ các món cá nguội, thịt nguội, batê...


Nikôđem ăn uống rất thong thả, y muốn chờ đại tá. Dàn nhạc chơi vài trích đoạn giao hưởng nào đó. Phòng ăn dần trở nên đông đúc hơn.


Mãi tới gần mười một giờ đại tá Varêđa mới đến. Cùng đi với ông ta là một người đàn ông vạm vỡ, tóc màu hạt dẻ, mặc quần áo dân sự.


- Ồ, ông đã có mặt ở đây rồi kia à! - Đại tá kêu lên - Ông đợi tôi có lâu không?


- Ê ê ê, không, mới chừng mười lăm phút thôi. - Đyzma đáp.


- Các ông cho phép: ông Đyzma, ông giám đốc Sumxki, - Đại tá giới thiệu - còn ông bạn Jas Ulanixki của chúng ta cũng sẽ đến đây bây giờ.


- A, cái kho chuyện tiếu lâm ấy cũng đến à? - Sumxki vui vẻ thốt lên - Tuyệt lắm!


- Các ông không biết chứ, hồi tháng năm, lúc chúng tôi ở Krưnixa([8]) anh ấy đã làm một chuyện rất thú.


- Chuyện thế nào?


- Các vị hãy hình dung nhé, cùng ở nhà nghỉ với chúng tôi có một tay Kurôpxki hay Karôpxki gì ấy, các vị biết không, một tay chơi, theo kiểu đàn ông trăm phần trăm, quý phái trăm phần trăm, nào quần vợt, nào Bairơn, nào Bôđơne, nào Uynđơ, nào Canale Grăngđê, nào Casinô đơ Pari, nào Môngtê, nào ngoại ngữ, nào các loại rượu vang, nào tên gọi hàng tơ lụa, nào chuyện họ hàng hang hốc của giới thượng lưu - tóm lại: một tay tuyệt vời! Phụ nữ cứ mê mẩn đến phát cuồng lên vì hắn và câu chuyện bên bàn ăn chung hàng ngày vô hình chung biến thành một loại độc thoại hay diễn thuyết của anh chàng công tử phong lưu kia. Hắn nói và nói, kể chuyện vui, chơi chữ, trích dẫn phương ngôn bằng khoảng mười thứ tiếng khác nhau gì đấy - tóm lại: hắn như một tay phù thủy khiến người ta cứ mê mẩn cả người.


- Một tay chơi có hạng đấy! - Sumxki thốt lên - Nếu như hắn có thêm chiếc ô tô và không phát âm rõ chữ “r”, tôi xin đem đầu ra thề rằng hắn làm việc ở Bộ Ngoại giao!


Đại tá phá lên cười.


- Cậu đoán đúng lắm! Nói có Chúa, đúng là hắn không khi nào rời chiếc ô bất ly thân cả.


- Thế rồi sao nữa?


- Các vị biết không, đến ngày thứ năm hay thứ sáu gì đó, khi chúng tôi đi ăn, Jas ta mới bảo: “Lạy Chúa, tớ không thể nào chịu đựng lâu hơn được nữa!” Jas chọn chỗ ngồi vis a vis([9]) với tay công tử kia. Tay kia bắt đầu huyên thuyên từ lúc ăn món xúp, kéo suốt cho đến món nướng. Tôi chờ mãi, nhưng Jas vẫn lặng thinh. Chàng ta ngồi nghe tay kia tươi cười tiếp tục trổ tài. Tôi còn nhớ, đúng lúc hắn nói về những màu sắc đang là mốt nhất của mùa này thì đột nhiên chàng Jas của tôi đặt dao và nĩa xuống, khẽ nhổm dậy trên ghế, nghiêng người qua mặt bàn hướng về phía tay “phù thủy” kia mà gầm lên “Huuuu!...”.


Đyzma và Sumxki không nín được cười.


- Sao lại thế? - Sumxki hỏi - Chỉ “huuuu...” không thôi à?


- “Huuu...”, thế thôi, mà cậu biết cái giọng bas trầm của Ulanixki đấy! Các vị không thể hình dung nổi vẻ sửng sốt đến điếng người của tay kia đâu. Mặt công tử đỏ chín như cà chua([10]), y câm bặt ngay như sét đánh. Trong phòng ăn ắng lặng hẳn đi, mọi người đều cắm mặt nhìn xuống. Đến một lúc người nào đó không thể kìm nổi phá lên cười! Chỉ chờ có thế! Cả bàn ăn rung lên vì cười. Thề có Chúa, chưa bao giờ trong đời tôi được thấy người ta cười thoải mái đến thế.


- Còn Jas thì sao?


- Jas ấy à? Chàng ta làm như chẳng có gì xảy ra cả, bắt tay vào việc xơi món nướng.


- Thế còn công tử?


- Một con rối tội nghiệp. Chàng ta không biết nên đứng hay nên ngồi lại, cuối cùng chàng ta bật đứng dậy, bước ra ngoài. Ngay ngày hôm ấy chàng ta cuốn gói khỏi Krưnixa.


- Rồi sao nữa? - Nikôđem hỏi, y rất thích câu chuyện này.


- Thế là hết, - Đại tá đáp - có điều sau đó Ulanxki trở thành nhân vật nổi tiếng nhất ở khắp Krưnixa.


Phòng ăn đã chật ních những người là người. Giữa các bàn phủ khăn trắng muốt thoăn thoắt đi lại những chiếc áo đuôi tôm màu đen của đám hầu bàn, dàn nhạc chơi một bản tăngô đắm đuối nào đó.


Mãi đến khi cả bọn kết thúc bữa tối thì Ulanixki mới bước vào.


Đó là một người tầm vóc khổng lồ, mặt nom như một tấm khiên được gắn một trái dưa chuột cỡ lớn cùng bốn chòm lông đen như hắc ín. Ria và lông mày tốt lạ tốt lùng, lại vô cùng linh hoạt, ngược hẳn với đôi mắt nhỏ bé, thụt sâu vào trong, như đang chăm chú nhìn vào một điểm xa xôi nào đó trong không gian.


Khi ông ta vừa ngồi xuống, Nikôđem đang bốc vì men rượu bèn nói ngay:


- Ngài đại tá vừa kể cho chúng tôi nghe chuyện vui của ông ở Krưnixa. Thật là hảo hạng! Ông cho tay công tử kia một bài học thật tuyệt!


Những chòm lông trên khuôn mặt thứ trưởng nhúc nhích dữ.


- Có gì đâu! Ông còn thành công hơn tôi nhiều chứ! Có phải chính ông là người đã cho thằng ngu Terkốpxki một bài học đấy chăng?


- Chính ông ấy, chính ông ấy đấy! - Varêđa xác nhận - Một người tầm cỡ. Tôi cảm thấy các vị sẽ rất hợp tính nhau. Chúc sức khỏe các vị.


Họ uống rất nhiều rượu. Quá nửa đêm đã lâu, lúc họ lên lầu nhảy, ra lệnh cho hầu bàn mang một chai sâm banh đến thì cả bọn đã ngà ngà say. Bên chiếc bàn con liền xuất hiệ các cô gái xinh đẹp. Nhạc jazz chơi như mời mọc. Đyzma bèn mời một cô rồi cả hai len vào vòng nhảy. Đám bạn rượu còn lại thán phục nhìn theo y, và khi y trở lại ngồi vào chỗ cũ, họ bèn đồng thanh nhất trí nói rằng y là một người bạn tuyệt vời và đề nghị uống mừng lễ kết tâm giao([11]).


Vì không có bên nào phản đối nên họ thực hiện ngay lễ đó trong tiếng nhạc chơi bài “Trăm tuổi, trăm tuổi...”([12]) mà dàn nhạc đệm theo yêu cầu của đại tá Varêđa.


Mãi đến lúc trời đã sáng bạch, bốn tôn ông mới ngồi cả vào chiếc ô tô của Kunixki. Họ biểu quyết rằng phải đưa đại tá về Kônxtantin trước. Lúc xe đến nơi, tài xế phải đánh thức các vị khách dậy. Sumxki âu yếm từ biệt Đyzma vì ông ta không muốn quay về Vacsava ngay nữa.


- Tớ ngủ lại ở chỗ Vaxếch thôi, chào, Nikôđem, chào...


Đyzma đưa Ulanixki đến khu Kôlônia Xtasixa rồi trở về khách sạn. Ngả người xuống giường, y cố gắng hồi tưởng để duyệt lại những sự việc của đêm hôm qua, những tiếng ong ong trong óc và những cơn ngáp đến sái quai hàm khiến y mệt mỏi phẩy tay từ bỏ ý định ấy.


Mãi chiều, y mới tỉnh dậy, đầu nhức như búa bổ. Đến lúc ấy, y chợt nhận ra rằng y đã mặc nguyên cả quần áo ngoài mà ngủ, vì thế giờ đây nom nó như một mớ giẻ nhàu nhò. Y rất bực mình, mặc dù vẫn hiểu được rằng cuộc rượu chè đêm qua với đại tá và hai nhân vật cỡ bự sẽ mở cho y một con đường thênh thang đến gặp ngài bộ trưởng.


Y chợt nhớ ra là sẽ phải dự bữa cơm trưa tại nhà phu nhân Psêuenxka. Đành phải gửi bộ âu phục đi là lại vậy.


Y đánh cho lão Kunixki một bức điện, báo rằng y buộc phải kéo dài cuộc lưu trú tại thủ đô vì lý do vắng mặt ngài bộ trưởng.


(còn tiếp)


Nguồn: Đường công danh của Nikodema Dyzmy. Tiểu thuyết của Tadeusz Dolega – Mostowicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan KARIERA NIKODEMA DYZMY, Nhà xuất bản CZYTELNIK – 1968. NXB Văn học in lần thứ hai, sắp phát hành.







([1]) Tiếng Pháp: Một cuộc đảo chính (N.D)




([2]) Tiếng Pháp: Một cách kịp thời (N.D)




([3]) Trong nguyên văn, bức thư hoàn toàn không có một dấu chấm nào. (N.D)




([4]) Praha là tên gọi một khu phố của Vacsava. (N.D)




([5]) Nguyên văn: Bộ các vấn đề quân sự, tên gọi của Bộ Quốc phòng Ba Lan hồi ấy. (N.D)




([6]) Theo thần thoại, Giécman, Vankiria là các sứ giả của thần vương Ôđyn, những sứ giả của định mệnh, chuyên mang cái chết đến cho các chiến sĩ đang chiến đấu trên chiến trường và đưa hồn họ về xứ Vanhala, chốn thiên đường của linh hồn các chiến sĩ trận vong. (N.D)




([7]) Tên gọi thân mật của Gioocgiơ. (N.D)




([8]) Thành phố nghỉ mát lớn nhất ở vùng Bexkiđư Xôngđexkie phía nam Ba Lan, phong cảnh kỳ thú. (N.D)




([9]) Tiếng Pháp: đối diện (N.D)




([10]) Nguyên văn: như củ cải đỏ. (N.D)




([11]) Theo phong tục Ba Lan, người mới quen gọi nhau bằng họ hay bằng ngôi thứ ba (pan, pani - ông, bà), khi kết thân, họ uống cùng nhau ly rượu tâm giao, hát bài “Trăm tuổi”, hôn nhau ba lần, từ đó chuyển sang gọi nhau bằng tên hoặc bằng ngôi thứ hai (ty - cậu, tớ). (N.D)




([12]) Bài hát chúc rượu phổ biến của Ba Lan. (N.D)



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 09.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »