tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21260890
Tiểu thuyết
18.02.2010
TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz
Đường công danh của Nikodema Dyzmy

Lời giới thiệu


Tađêus Đôuenga - Môxtôvich (Tadeusz Dolega - Mostowicz, 1898-1939) là nhà văn xuất sắc của nền văn học Ba Lan thời cận đại. Ông là tác giả của những tiểu thuyết tâm lý xã hội theo khuynh hướng tình cảm rất được ưa chuộng (Thầy lang, Giáo sư Vintrurơ), nhưng nổi tiếng nhất với các tác phẩm hiện thực phê phán đặc sắc: Đường công danh của Nikôđem Đyzma.


Hoạt động văn học trong cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy hấp dẫn của T.Đôuenga - Môxtôvich diễn ra trùng với thời kỳ hai mươi năm tồn tại và phát triển của nước Ba Lan tư sản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939), trong bối cảnh đất nước vừa giành lại được độc lập sau hàng thế kỷ bị các thế lực đế quốc chia cắt, xâu xé, hoàn toàn bị xóa tên trên bản đồ thế giới, để rồi chẳng mấy chốc lại rơi vào nanh vuốt của bè lũ phát xít Đức. Chính thời kỳ giai cấp tư sản dân tộc non yếu được nắm tay lái con thuyền quốc gia vừa bị lọt vào cái “mắt bão” - vùng tạm thời yên tĩnh giữa những cơn bão táp hung bạo trên toàn thế giới, song không thiếu những rối ren phức tạp trong nước - là thời kỳ thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội phát triển, thời kỳ những nghịch cảnh, những đảo lộn xã hội diễn ra liên tiếp, tập trung và sôi động hơn bao giờ hết. Đó cũng chính là thời kỳ được T.Đôuenga - Môxtôvich lấy làm bối cảnh cho quyển tiểu thuyết xuất sắc nhất của ông.


Đường công danh của Nikôđem Đyzma quả là hiển hách, đáng ngạc nhiên, bởi đó gần như là cuộc hội tụ của biết bao “ngẫu nhiên may mắn, bao “số đỏ”, đến mức khiến người đời phải chóng mặt, ngỡ ngàng. Ở chương đầu sách, y chỉ là một anh công chức cấp thấp ở tỉnh lẻ bị mất việc, đang lang thang tìm việc làm, túi rỗng không và chiếc dạ dày lép kẹp. Ấy thế mà tới những trang cuối sách y đã là một triệu phú cỡ lớn, chủ một cơ ngơi nông-công-nghiệp khổng lồ, chính khách số một của đất nước, người được chính tổng thống mời ra đảm nhiệm sứ mạng thành lập nội các mới, nhằm chèo lái con thuyền quốc gia qua cơn bão chao đảo!


Cái gì đã khiến Nikôđem Đyzma leo nhanh và cao đến thế trên những bậc thang danh vọng của cuộc đời? Cái gì là nguyên nhân thật sự mở ra con đường công danh đầy huyền thoại của kẻ vô học “bất tài chi tướng” kia? Tại sao giữa lòng cái xã hội quý tộc - tư sản, với những thể chế ngỡ như chặt chẽ, với quy luật cạnh tranh khốc liệt kia lại nảy nòi một cái nỗi oái oăm nhường ấy? Nhà văn đã không đứng ra thuyết minh, trả lời và kết luận thay người đọc, nhưng qua bức tranh liên hoàn hiện thực mà ông đã dựng lên, người đọc nhận thức được rằng: nguyên nhân chính tạo nên bước đường công danh lừng lẫy của nhân vật kia chính là bởi cái xã hội đang sống chỉ có tôn ti, trật tự, luật lệ, kỷ cương về phương diện hình thức mà thôi. Còn bên trong, guồng máy của nó lại hoạt động bằng một loại “nhiên liệu” vạn năng duy nhất là đồng tiền. Trong cái xã hội ấy, ngài luật sư có uy tín nhất, đồng thời cũng là người bảo trợ cho Hội Bảo vệ gia đình (mặc dù là chuyên viên sừng sỏ nhất trong lĩnh vực ly hôn!) đã trắng trợn vòi tiền “công” vì lấy được lời chứng của những người đã chết. Trong xã hội ấy, người ta có thể thuê giết một mạng người với một trăm đồng bạc, có thể đổi trắng thay đen dễ như trở bàn tay, có thể dựng ra cả một tiểu sử huy hoàng để tô son trát phấn cho một anh dốt nát nhà quê đóng tuồng làm “người hùng”, làm “chính khách”, làm nhà “kinh tế thiên tài”... Cái xã hội mà ngay ở những cấp cao nhất của chính quyền, cũng chỉ là một lũ người dốt nát, bất lực, mâu thuẫn nhau, chỉ giỏi ăn chơi cãi vã. Cái xã hội mà “phương sách” hữu hiệu nhất là tiền cộng với lừa đảo, dối trá. Những nghịch cảnh của xã hội được lột trần đến lõa lồ trước mắt người đọc, bởi mấy ai ngờ rằng một “hội đồng” dâm của các vị phu nhân lá ngọc cành vàng, vợ con các “ông lớn”, lại có khả năng điều hành thật sự bộ máy quốc gia, đến mức tống cổ ngài thứ trưởng kiêm đổng lý văn phòng hội đồng bộ trưởng đi... Tàu, chỉ vì ngài sắp lật mặt nạ “người tình chung” của các bà!


Xuyên suốt tác phẩm là hai quá trình có hướng ngược nhau, diễn ra đồng thời, ở một con người - đó là nhân vật chính: Nikôđem Đyzma. Y leo nhanh đến mức đáng kinh ngạc trên những bậc thang danh vọng, nhưng lại tụt dài về phương diện nhân cách, từ cái trong sạch của một con người bình thường xuống vũng bùn nhơ nhớp của những tội lỗi ghê gớm nhất. Ban đầu, dù thất nghiệp, đói rách, Đyzma vẫn còn lương tâm trong sạch, thấy cái phong bì của cậu bé bưu điện đánh rơi y còn thương tình gọi với theo để trả, nhặt được giấy mời đi dự tiệc (gửi một người khác), y mang đến tận nhà (bụng thầm mong được trả công vài đồng bạc), y biết đỏ mặt ngượng khi bịa ra một câu chuyện phạm tội vô hại kể cho một cô gái làm tiền. Thế rồi, chỉ qua một bữa tiệc mà y lấy hết gân cốt đến dự nhằm thỏa mãn cái đói, y đã nhảy một bước lọt vào xã hội thương lưu, để ngấm dần vào người “độc dược” hiệu nghiệm lấy làm kim chỉ nam cho mọi hành vi đối nhân xử thế: lừa đảo. Không những y không hề ngần ngại khi lừa cơ cướp cả cơ nghiệp lẫn cô vợ xinh đẹp của ông chủ đã hết lòng đối xử tử tế với y, mà y còn không run tay khi thuê bọn lưu manh, giết một người ân nhân cũ để bịt đầu mối, không hề áy náy khi ra lệnh cho bọn cảnh sát đánh đập dã man một cô gái vô tội đã nặng lòng yêu y. Sở dĩ y tha hóa nhanh như thế về phương diện đạo đức chỉ bởi y đã tiếp xúc với những “tinh hoa” của giới cầm quyền. Xét về phương diện ấy, Đyzma cũng là một nạn nhân của xã hội tư bản - một nạn nhân “tự nguyện”. Sự trèo nhanh leo cao của y không phải là thành quả đạt được bởi những thủ thuật không mấy tinh khôn mà y đã học được ở các “tinh hoa” thượng lưu xã hội kia (như kiệm lời để giấu dốt, nhắc lại ý của người khác nhận rằng là của mình…). Mà có nguyên nhân sâu xa hơn: đó là sự mâu thuẫn giữa các giới cầm quyền, các cá nhân có thế lực trong guồng máy xã hội, đó là sự dốt nát trong đánh giá của các giới đó đối với Đyzma. Các vị đại diện cao cấp nhất của xã hội đã không có khả năng phân biệt thật giả, đã ngộ nhận về khả năng - thậm chí tài năng - của Đyzma, đã đưa y lên những địa vị cao sang, đã để y đánh lừa một cách “hào hiệp” nhất. Đúng như lời chàng công tử bá tước Pônimirxki gào lên kết thúc quyển sách: “Không phải hắn dắt mũi các người đâu! Chính các người đã bê cái đồ súc vật ấy đặt lên thành tượng đài! Chính các người! Hỡi lũ người đánh mất hết những tiêu chuẩn lý trí!” mỉa mai hơn, Đyzma được leo lên cao đến thế còn chính vì y đã làm thỏa mãn được dục vọng thấp hèn của các vị “phái đẹp” quý tộc trong những cuộc “hành lễ bí mật” mà thực chất là những cuộc hành lạc tập thể, những cuộc loạn hôn không tiền khoáng hậu. Trong các “tài năng” đã đưa Đyzma lên những địa vị cao sang, có “tài” đĩ đực!


Trong số những nạn nhân khác của cái xã hội nhầy nhụa đó, người đọc còn nhận thấy một điều: Người càng có địa vị xã hội thấp hèn, thậm chí càng ở “dưới đáy” thì phẩm chất đạo đức lại càng trong sạch. Cô gái Manka dù phải bán thân nuôi miệng, nhưng vẫn ý thức được sự ghê tởm của cái “nghề” mà mình bắt buộc phải làm, vẫn giữ một tình yêu chân thật đối với Đyzma, và vẫn biết căm phẫn tột độ khi tình yêu ấy bị bội bạc. Dù bị đánh đập dã man, nhưng dẫu sao Manka cuối cùng cũng nhận ra bộ mặt thật của Đyzma. Đáng thương cho một phụ nữ xinh đẹp, yếu đuối mà lại muốn hưởng lạc như bá tước tiểu thư Nina, cho đến cuối cùng vẫn không hiểu rằng mình bị đánh lừa, vẫn không hiểu được bản chất người chồng “lý tưởng” và “lỗi lạc” của mình!


Ý nghĩa tố cáo và phê phán của tác phẩm còn tập trung cao ở hình tượng chàng bá tước “điên” Pônimirxki. Chàng là nạn nhân của một trò lừa đảo đã khiến cha chàng khuynh gia bại sản, rồi lại trở thành nạn nhân của một vụ lừa đảo mới, còn trắng trợn hơn, đê mạt hơn. Không phải ngẫu nhiên tiếng nói gần với sự thật nhất, tiếng cười châm biếm sâu cay nhất đối với những nghịch cảnh xã hội lại được tác giả đặt vào miệng một người “điên”, một người “tâm thần”, vốn có một địa vị cao sang, một gia sản giàu có, một học thức uyên bác, nhưng rốt cuộc vẫn bị vứt ra một xó vườn, hay cùng lắm - làm đày tớ dạy tiếng Anh cho chủ.


Các yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ được sử dụng để xây dựng con đường công danh cho Đyzma đều hợp lôgích, không ây ấn tượng giả tạo, khiên cưỡng. Chất bi và hài được kết hợp hài hòa, trong đó cái hài được tập trung cao, tạo nên một tiếng cười mỉa mai, sâu cay đối với cả bộ máy nhà nước tư sản, từ cấp thấp lên cấp cao nhất. Nhà văn đã thể hiện một bộ mặt xã hội với những biểu hiện sinh động lạ thường qua một bút pháp tưởng như dửng dưng, khách quan mà sắc sảo, tinh tế. Người đọc Ba Lan còn hâm mộ tác phẩm của T.Đôuenga - Môxtôvich vì nhà văn đã dựng lại hết sức sống động, hết sức thực từ ngôn ngữ, thói quen, phong tục, tập quán đến cảnh sinh hoạt và bầu không khí của xã hội thượng lưu quý tộc những năm 20-30.


Do vô tình hay hữu ý, nhiều tác phẩm hiện thực phê phán thường sa vào chủ nghĩa tự nhiên trong phản ánh hiện thực xã hội. Trong Đường công danh của Nikôđem Đyzma T.Đôuenga - Môxtôvich đã tránh được hạn chế này. Tác giả đã không khai thác những yếu tố thấp hèn hoặc kích thích ở những cảnh “gay cấn”, để một mặt duy trì mức độ chân xác của tính cách nhân vật, mặt khác tạo được hứng thú thẩm mỹ lành mạnh. Tác phẩm sử dụng nhiều yếu tố hư cấu nhưng rất thực, và tả được cái thực của xã hội, bởi lẽ nhà văn đã chọn những không gian thích hợp để những yếu tố hư cấu kia hiện ra trong những dáng vẻ thực của đời.


Cũng như nhiều tác phẩm hiện thực phê phán khác, Đường công danh của Nikôđem Đyzma không tránh khỏi những nhược điểm khách quan do thời đại cũng như những nhược điểm chủ quan do nhận thức của tác giả. Mâu thuẫn xã hội mới được miêu tả ở tầng lớp trên, mâu thuẫn giai cấp mới chỉ lướt qua. Tác giả tập trung mô tả và phê phán cái xấu xa, cái phản động, nhưng chưa nêu được những phẩm chất tốt đẹp cũng tồn tại song song trong xã hội ấy. Xã hội trong tiểu thuyết đang chao đảo, nhưng rồi sẽ đi đến đâu, theo con đường nào… Thực ra, công bằng mà nói, đó cũng là những nhược điểm khó tránh nếu đặt tác phẩm và người viết trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mình.


Bằng những giá trị nghệ thuật lớn lao, tiểu thuyết hoạt kê của T.Đôuenga - Môxtôvich đã phản ứng khá mạnh mẽ chống lại một xã hội lố lăng, qua đó gián tiếp bênh vực quyền tồn tại và phát triển của những con người lương thiện, trung thực. Chính vì vậy, ngay sau khi ra đời, Đường công danh của Nikôđem Đyzma liền được xem là một hiện tượng văn học đặc sắc ở Ba Lan. Tác phẩm được in lại nhiều lần và cũng được đưa lên màn ảnh ở Ba Lan, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.


Đọc Đường công danh… và tìm hiểu thân thế sự nghiệp của T.Đôuenga - Môxtôvich, người đọc Việt Nam không khỏi bất giác nghĩ tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) và chợt thú vị về những nét tương đồng giữa hai tác giả cũng như hai tác phẩm. Hai tác giả sống gần như đồng thời với nhau, ở hai phương trời xa cách nhau hàng chục nghìn cây số, song đều tài hoa sắc sảo, đều từ giã cuộc đời giữa tuổi sáng tạo rực rỡ, để lại cho đời những tác phẩm sống mãi.


Chúng tôi hy vọng rằng, với bản dịch ra tiếng Việt trực tiếp từ tiếng Ba Lan này Đường công danh của Nikôđem Đyzma sẽ giúp bạn đọc nước ta làm quen với một nhà văn tài hoa của dân tộc Ba Lan, đồng thời xuyên qua cái nhìn đầy phê phán với những hiện tượng bệnh hoạn của xã hội tư sản, thêm trân trọng gìn giữ và phát triển những giá trị thật sự tốt đẹp đang quyết liệt đấu tranh chống các hiện tượng xã hội tiêu cực xuất hiện trong hoàn cảnh xã hội phức tạp của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, góp thêm một tiếng nói nghệ thuật chống lại các biến tướng của chủ nghĩa cơ hội.


Hà Nội, 01-1987


Hồng Diệu


 


I. Chủ khách sạn ra hiệu cho người đệm đàn, bản tănggô ngừng bặt. Đôi nhảy dừng lại giữa vòng.


- Thế nào, ông giám đốc? - Cô gái tóc màu vàng hung, người thanh mảnh, rời tay bạn nhảy vừa hỏi vừa bước lại gần chiếc bàn nơi người đàn ông to béo, mặt loáng mồ hôi, đang nhổm người trên ghế.


Ông chủ nhún vai.


- Không đạt ạ? - Cô gái tóc vàng hung nhẹ nhàng hỏi.


- Rõ là không đạt. Hắn không có mẽ, cũng chẳng có lấy chút dáng điệu nào. Phải chi hắn đẹp trai một chút thì cũng còn…


Người bạn nhảy bước lại gần.


Cô gái tóc vàng hung chăm chú ngắm bộ quần áo đã sờn cũ do mặc quá nhiều của y, ngắm mái tóc bắt đầu thưa màu vỏ hồ đào hơi xoăn, rẽ đường ngôi chính giữa, ngắm cái miệng hẹp và chiếc cằm bạnh ra.


- Ông đã nhảy ở đâu chưa?


- Thưa chưa… Tôi có nhảy, nhưng chỉ vui thế thôi. Thậm chí người ta còn bảo tôi nhảy khá…


- Nhưng mà ở đâu? - Chủ khách sạn lạnh nhạt hỏi.


Người xin thử chân bạn nhảy đưa mắt buồn bã nhìn căn phòng trống rỗng.


- Ở quê tôi, ở Uyxkốp.


Gã đàn ông to béo bật cười.


- Vacsava, ông ạ, đâu phải là cái xó Uyxkốp vớ vẩn nào đó! Ở đây phải trang nhã, phải có mẽ, phải đúng điệu, ông ạ. Xin nói thật: Ông không đạt đâu. Ông nên đi kiếm việc khác thì hơn.


Gã quay ngoắt đi, bước tới quầy ăn. Cô gái tóc vàng hung chạy sang buồng thay quần áo. Nhạc công đóng nắp đàn dương cầm.


Người xin thử chân bạn nhảy uể oải vắt áo khoác qua vai, ấn sụp mũ xuống trán, bước ra cửa. Thằng bé hầu bàn bưng một khay bánh xăng-uych đi ngang cạnh y, mùi thức ăn ngon lành thơm nức xộc vào mũi.


Đường phố ngập nắng mặt trời. Đã gần trưa rồi. Người lác đác. Y chậm rãi bước về phía vườn Uaienki. Tới góc phố Pienkna y dừng lại, thọc tay vào túi áo gilê rút ra một đồng tiền.


“Đồng cuối cùng!” - Y nghĩ bụng.


Y bước tới quầy nhỏ bán thuốc lá.


- Hai điếu “Grand Prix”.


Y đếm số tiền trả lại và thẫn thờ đứng ở bến đợi tàu điện. Một lão già nào đó chống chiếc ba toong đưa cặp mắt mờ đục nhìn y. Một bà quý phái với mươi chiếc gói nhỏ trên tay chốc chốc lại ngóng tàu.


Bên cạnh y, một thằng bé nách cặp quyển sách to tướng đang sốt ruột quanh quẩn đợi tàu. Thực ra, đó cũng không phải là quyển sách mà là một chiếc cặp bọc vải gai màu xám: những khi thằng bé quay nghiêng, có thể nhìn thấy rõ một tập thư đựng trong cặp và gáy của vài chục tờ biên lai ký nhận.


Y nhìn thằng bé và chợt nhớ rằng hồi trước chiến tranh([1]) y cũng đã từng mang một chiếc cặp như thế khi còn làm chân chạy giấy cho ông chưởng khế Vinđer, trước khi xin được làm nhân viên bưu chính ở Uyxkốp. Có điều ông chưởng khế bao giờ cũng dùng tuyền phong bì màu xanh thẫm, còn những chiếc phong bì này lại màu trắng.


Tàu số 9 đến, thằng bé nhảy tót lên bậc sau trong lúc tàu chưa dừng hẳn, chiếc cặp bị va vào tay vịn, thư rơi tung tóe cả.


“May cho thằng oắt, hôm nay khô ráo!” - Người xin thử chân bạn nhảy nghĩ thầm, nhìn cậu bé đang nhặt thư. Tàu chuyển bánh, một phong bì trượt khỏi bậc, rơi xuống mặt đường. Người thử chân bạn nhảy nhặt chiếc phong bì huơ lên vẫy theo con tàu đang rời đi, song thằng bé đang mải nhặt những lá thư khác, không để ý.


Đó là một phong bì sang trọng làm bằng loại giấy tốt với địa chỉ viết tay:


Kính gửi: NGÀI CHỦ TỊCH ARTUA RAKÔVIEXKI,


Đại lộ Uiazđôpxki N07


Bên trong (phong bì không dán) có một tờ giấy cũng sang trọng không kém, gập làm đôi. Một mặt in gì đó bằng tiếng Pháp, mặt kia chắc cũng nội dung tương tự, bằng tiếng Ba Lan:


Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hân hạnh kính mời ngài đến dự buổi chiêu đãi, tổ chức vào hồi 20 giờ ngày 15 tháng 7 này, tại phòng khách, tầng một, khách sạn châu Âu, nhân chuyến viếng thăm của ngài Thủ tướng Nước Cộng hòa Áo.


Phía dưới có thêm hàng chữ in cỡ nhỏ: Trang phục dạ hội - huân huy chương.


Y đọc lại địa chỉ lần nữa: “Đại lộ Uiazđôpxki N07”.


“Mang đến chăng? Có thể người ta thí cho một vài Zuôty([2]) cũng nên?... Cứ thử, hại gì: mà số 7 chỉ cách có vài mươi bước chân chứ mấy”.


Trên bảng danh sách chủ hộ, bên cạnh tên A.Rakôviexki nổi bật dòng chữ: “Căn hộ số 3, gác 1”. Y lên thẳng gác, bấm chuông, một lần rồi hai lần. Cuối cùng, người trông nhà đến báo rằng chủ tịch hiện đang ở nước ngoài.


- Hẩm thật!


Y nhún vai, nắm chặt lá thư trong tay, bước về nhà. Mãi hơn nửa giờ sau y mới về tới phố Uxka. Qua những bậc thang bằng gỗ kêu cọt kẹt y leo lên tận gác bốn và xoay nắm đấm cửa.


Òa vào mặt y mùi hôi hám của gian phòng chật chội, quyện với mùi hành phi hăng hăng, mùi mỡ cháy khét lẹt và mùi tã lót ướt đang hong chưa khô. Từ góc phòng vang lên một giọng đàn bà:


- Ông đóng hộ cái cửa vào, kẻo gió lùa, trẻ mỏ lại cảm lạnh nữa thì khốn.


Y lẩm bẩm tiếng gì không rõ, bỏ mũ, treo áo khoác lên chiếc đinh và ngồi xuống cạnh cửa sổ.


- Thế sao? - Người đàn bà lại tiếp - Ông lại không tìm được chỗ làm hẳn?


- Vẫn chưa…


- Ầy, ông Đyzma, ông giẫm chân mãi ở cái chốn này cũng chỉ vô ích thôi, tôi đã bảo rồi mà. Ở thôn quê, ở tỉnh lẻ, kiếm miếng bánh vẫn dễ dàng hơn. Thì đã hẳn: dân quê mà!


Y chẳng buồn đáp. Đã ba tháng trời nay, kể từ khi quán bar “Thái Dương” ở phố Panxka đóng cửa, y lâm vào cảnh thất nghiệp. Trước kia, chơi măngđôlin tại đó, ít ra y cũng còn kiếm được năm zuôty mỗi ngày, lại được ăn thêm bữa tối. Quả thực, sau đó văn phòng môi giới lao động có tìm cho y một việc làm tại công trường xây dựng đầu mối hỏa xa, nhưng Đyzma không sao hợp đươc với đám kỹ sư, đốc công và công nhân tại đó, sau có hai tuần y đã bị thải. Còn ở Uyxkôp thì…


Song, hẳn những ý nghĩ của người đàn bà kia vẫn chạy theo đường cũ, bà lại hỏi:


- Ông Đyzma này, ông trở về quê, về với gia đình có hơn không? Ở đó thể nào người ta chẳng tìm được một chỗ làm nào đó cho ông?


- Bà Valentôva, tôi đã nói với bà, tôi không còn gia đình kia mà.


- Chết cả rồi ư?


- Chết cả rồi.


Bà Valentôva đã gọt xong chỗ khoai tây, bà đặt nồi lên bếp rồi lại lên tiếng:


- Bởi vì tại Vacsava này người thì nhiều lắm mà việc thì thiếu. Ông nhà tôi mỗi tuần cũng chỉ có viêc được ba ngày, vơ víu lắm mới đủ cho vào mồm, ấy vậy mà cái ông giám đốc Purmanter hay gì gì ấy lại còn đe rằng có thể đóng cửa hẳn nhà máy vì không bán được hàng. Cứ như thế này, giá như không có cái Manka phụ thêm, thì cũng chẳng biết lấy gì mà trả tiền nhà. Con bé làm khốn làm khổ mà rồi cũng chẳng được mấy nỗi. Mỗi tuần không kiếm được lấy hai ông khách thì…


- Bảo cô ấy cẩn thận đấy, - Đyzma ngắt lời - nếu người ta túm được mà không có sổ thì… nào!


Bà Valentôva quấn cho đứa bé rồi giăng chiếc tã ướt lên trên tấm sắt lò.


- Bận gì đến ông mà ông quàng quạc lên thế? - Bà gắt - Ông cứ hẵng lo cho cái thân ông ấy! Ba tuần liền không trả lấy một xu, vẫn cứ chiếm chỗ của nhà người ta! Người thuê nhà! Quan với chả trọng!


- Tôi sẽ trả. - Đyzma làu bàu.


- Có thể trả mà cũng có thể không. Mười lăm zuôty cũng rẻ như cho một nửa rồi, ấy vậy nhưng có phải tự nó mò đến được đâu. Mà ông thì cứ hễ xoay được tí việc nào thì y như rằng lại bị đuổi cổ…


- Chứ ai bảo bà thế; bà Valentôva?


- Dào ôi! Bí với chả mật! Thì chính mồm ông hở ra với con Manka chứ ai!


Im lặng.


Đyzma ngoảnh ra ngoài cửa sổ, thẫn thờ những những bức tường tróc lở trong sân. Quả thực, một sự rủi ro nào đó cứ ráo riết đuổi theo y mãi. Y chẳng thể làm việc lâu dài ở một chỗ nào cả. Vì bướng và lười, y bị tống cổ khỏi trường trung học ngay từ lớp đệ tứ. Có nhẽ ông chưởng khế Vinđer là người giữ y được lâu hơn cả. Hẳn vì Nikôđem Đyzma biết võ vẽ ít tiếng Đức đủ để hiểu người ta sai mình đi đâu. Tiếp đó là sở bưu chính và điện báo với đồng lương còm cõi cùng đủ điều chê trách thường xuyên của ông chánh. Chiến tranh, ba năm liền phục vụ trong đoàn xe của trung đội điện báo, mỗi một lần được phong cấp lên binh nhất([3]). Rồi lại đến sở bưu chính ở Uyxkốp, trước khi có đợt giảm biên chế. Nhờ đức linh mục, y xin được vào trông coi phòng đọc sách, nhưng cũng chỉ trú chân qua mỗi một mùa đông, bởi đến tháng tư người ta đã phát hiện ra rằng y không biết duy trì trật tự khả dĩ cho các giá sách.


Nói đúng ra, đó là công việc dễ chịu hơn cả…


Dòng hồi ức của Đyzma bị những tiếng còi tầm những nhà máy gần đấy cắt ngang. Bà Valentôva sửa soạn bày bàn ăn, thấy vậy Đyzma uể oải đứng dậy bước ra cửa.


Y lang thang vô định trên những đường phố nóng nực, mặc dù đôi chân đã mỏi nhừ. Phải ở lại trong phòng để nghe những lời châm chích của ông Valenty Barchich cùng những câu phụ họa đầy khinh mạn của con bé Manka, nhất là phải nhìn cảnh họ ăn uống - việc đó quá sức chịu đựng của y. Đã ngày thứ hai y chưa có miếng gì đút vào miệng, trừ vài điếu thuốc lá mà y dành dụm những đồng xu cuối cùng để mua. Y nín thở bước ngang qua hàng thịt, nơi bay ra mùi xúc xích thơm đến cồn cào. Y cố sức ngoảnh mặt đi không dám nhìn vào cửa kính bày hàng của các hiệu thực phẩm, song cái đói vẫn chẳng để y yên.


Nikôđem Đyzma hiểu rất rõ rằng, đối với y, không hề tồn tại một viễn cảnh tốt lành nào cả.


Điều ấy có làm y hãi hùng không? Đời nào! Bởi vì, may thay, loại tâm lý của Nikôđem Đyzma không hề chứa đựng một chút trí tưởng tượng nào cả. Tầm dự đoán cùng các kế hoạch của y không hề vượt quá phạm vi những ngày gần nhất, và nếu tuần vừa rồi y đã sống cầm hơi nhờ chiếc đồng hồ bán được, thì tuần sau, y vẫn có thể sống sau khi bán chiếc áo đuôi tôm cùng đôi giày da bóng chứ sao?


Thực tình mà nói, y đã phải bóp mồm bóp miệng nhiều lắm mới mua nổi bộ cánh kẻng ấy với hy vọng nhờ nó sẽ kiếm được miếng bánh nhàn hạ của chân bạn nhảy, sẽ làm thay đổi một cách cơ bản hoản cảnh vật chất tang thương của y; nhưng giờ đây, sau biết bao phen chạy chọt, khi tin chắc rằng không một kẻ nào thèm nhận y làm chân bạn nhảy nữa, thì y quyết định giã từ bộ cánh tuyệt mỹ kia chẳng chút xót xa.


Đã gần sáu giờ, y đi đến quyết định cuối cùng và quay gót về nhà.


Trong phòng chỉ có mỗi mình Manka, một cô gái tóc vàng hoe, cử chỉ nóng nảy. Hẳn tối nay cô ả định ra đường: ả đang ngồi bên cửa sổ trang điểm. Vì ả ngồi ngay lên chiếc ghế vali của Đyzma, nên không muốn quấy rầy, y đành ngồi vào góc phòng chờ đợi.


Cô gái lên tiếng trước:


- Giờ ông quay mặt đi, tôi thay quần áo đây.


- Tôi cũng chẳng thèm nhìn. - Y đáp.


- Càng hay, vì nhìn trộm thì chóng hỏng răng.


Y rủa thầm: Cô gái bật lên một tiếng cười cụt lủn, cởi tuột váy. Quả thực Nikôđem hoàn toàn không hề để ý tới cô ả, trừ khi bị ả chọc tức quá đáng. Y sẽ khoan khoái lắm nếu được tọng nắm đấm vào mõm ả và ném ả ra ngoài cửa. Cô ả châm chọc y một cách có hệ thống, dai dẳng, với một sự say mê mà y không tài nào hiểu nổi. Thực ra điều ấy cũng chẳng hề chạm đến lòng tự ái nam nhi của y, bởi lẽ cho tới nay cuộc đời chưa tạo cho y những hoàn cảnh để lòng tự ái kia được phát triển. Thậm chí, điều ấy cũng chẳng mảy may xúc phạm đến lòng tự trọng làm người của y, bởi lẽ chưa bao giờ y có được thứ tình cảm kia ở một mức độ đủ cao: vả chăng trong trường hợp này, y hoàn toàn không thấy có gì khác biệt giữa y - một “công chức lao động trí óc” mất việc - với cô gái làm tiền kia cả. Có điều y quá đủ cái trò khiêu khích dai như đỉa của cô ta rồi.


Manka mặc xong quần áo, vắt chiếc khăn quàng lên vai, cô ả đứng nhóng nhánh trước mặt Đyzma, nhe hai hàm răng trắng bóng ra cười.


- Sao, gái có hạng chưa?


- Cút xéo đi! - Y điên tiết bật ra.


Cô gái chìa hai ngón tay định nâng cằm y lên, nhưng liền thụt ngay lại vì Đyzma đột ngột vung nắm đấm giáng xuống bàn tay vừa chìa ra.


- Úi, đồ cục súc! - Cô ả thét lên - Còn định giở cả trò tay bo quại nhau ở đây nữa chắc? Thử nhìn hắn kìa, đồ mặt dày chưa…


Cô ả còn tuôn ra dài nữa, nhưng Đyzma không thèm nghe. Y bắt đầu mở vali, óc nhẩm tính rằng chiếc áo đuôi tôm có lẽ phải bán được năm mươi zuôty. Chính y đã phải xỉa ra tới bảy mươi ở Kiêcxêlắc mới mua được kia mà. Đôi giày cũng phải thiệt mất tám, có thể mười zuôty.


Đứa bé chợt bật khóc ngằn ngặt, bà Valentôva từ bên hàng xóm chạy về. Tới tận lúc ấy Manka mới kết thúc tràng chửi rủa của mình, ả đập mạnh cửa khi bước ra.


Nikôđem Đyzma mở nắp vali, lấy ra chiếc áo đuôi tôm.


- Ô hô! - Bà Valentôva mỉm cười - Có nhẽ ông định đi dự dạ hội hay đến đám cưới chăng?


Y không trả lời, cẩn thận gập chiếc quần dài, gilê, áo đuôi tôm, lấy báo gói lại, rồi hỏi xin một sợi dây. Ông Valenty đã về, bà chủ hâm lại khoai tây cho bữa tối, căn phòng lại sực nức mùi mỡ rán.


- Ông Đyzma này, - Ông Valenty hỏi - ông định đến Kiêcxêlắc đấy à?


- Đến Kiêcxêlắc.


- Hôm nay thứ bảy, không có bọn Do Thái đâu, còn dân ta thì hiếm ai mua, có mua cũng trả rẻ như bèo.


Mỡ reo lóc bóc trong chảo. Nikôđem nuốt nước bọt.


- Bèo thèi bèo!


Đột nhiên y sực nhớ rằng chưa lục lại túi áo đuôi tôm. Y nhanh nhẹn mở gói ra. Quả thực, trong túi quần dài còn chiếc tẩu thuốc thủy tinh, trong túi áo còn chiếc khăn mùi xoa. Y đút ngay hai thứ tìm được vào túi áo vét. Chợt y sờ thấy trong túi có gì là lạ, giống như một tờ giấy cưng cứng. Giấy mời.


Y rút tờ giấy ra khỏi phong bì, đọc lại. Dòng chữ nhỏ in dưới cùng chợt đột ngột đập vào trí óc y: “Trang phục dạ hội - huân huy chương”.


Y đưa mắt nhìn chiếc áo đuôi tôm. Chiêu đãi… Thức ăn, vô khối thức ăn, lại không mất tiền…


“Mình thật là ngu” - y nghĩ bụng, song vẫn thận trọng đọc lại giấy mời: “Ngày 15 tháng 7, hồi 20 giờ”.


Một ý nghĩ cứ bám chằng chằng, không tài nào xua nổi.


- Ông Valenty, hôm nay mười lăm à?


- Ờ, mười lăm.


- Sắp mấy giờ rồi nhỉ?


Sắp thì mười giờ cũng là sắp, nhưng bây giờ mới bảy giờ thôi.


Đyzma đứng lặng hồi lâu.


“Họ làm gì được mình kia chứ? - Y nghĩ thầm - Tống ra cửa là cùng chứ gì? Vả chăng, ở đó chắc cũng đông người lắm…”.


Y lấy dao cạo ra và bắt đầu thay quần áo.


Dạo còn làm việc ở phòng đọc của huyện, trong những giờ dài dằng dặc trước bữa trưa, khi gần như không có việc gì để làm, y đành phải đọc sách cho khuây. Nhiều lần y bắt gặp những đoạn mô tả các buổi dạ hội và chiêu đãi do những ngày công tước hay bộ trưởng nào đó tổ chức. Y biết rằng - nếu như các sách kia mô tả đúng sự thật - tại các buổi chiêu đãi lớn thường có nhiều người không hề quen biết nhau, và nếu thế thì cái chuyện thoạt tiên có vẻ như liều lĩnh kia biết đâu lại chả thành công. Nhất là nếu như bề ngoài y không khác gì đám thực khách.


Vợ chồng Barchich ngồi cạnh bàn ăn khoai tây, uống nước chè.


“Thức ăn, vô khối thức ăn, - Đyzma nghĩ thầm - thịt, bánh mì, cá…”.


Y rửa mặt, rẽ đường ngôi thẳng thớm cho mái tóc cứng quèo và mặc chiếc áo sơ mi vừa hồ.


- Tôi đã bảo rằng ông ấy đi dự cưới mà! - Bà Valentôva nói. Ông chồng nhìn người thuê phòng, lẩm bẩm:


- Can gì đến nhà ta?


Đyzma khó khăn lắm mới cài được chiếc cổ cồn cứng ngắc, thắt caravat và khoác áo đuôi tôm.


- Thức ăn, vô khối thức ăn. - Y lẩm bẩm.


- Ông bảo gì cơ?


- Không. Xin chào.


Y chậm rãi xuống thang, vừa đi vừa cài những chiếc khuy áo choàng may bằng vải gabácdin.


Dưới ánh sáng ngọn đèn đường gần đấy, y đọc lại tấm giấy mời một lần nữa và khẳng định rằng nó không hề ghi họ tên người nhận. Y cất nó vào túi, còn phong bì thì xé nát. Vứt xuống rãnh.


Y chưa thuộc phố lắm, nên sau một lúc ngần ngừ, y quyết định đi theo con đường đã quen. Y rẽ vào phố Zêlazna, đến góc phố Khuốtna thì ngoặt về hướng nhà thờ. Từ đây đã trông thấy rõ phố Electôranna và quảng trường Ngân hàng.


Đường phố sục sôi nhịp sống ban đêm của các khu thợ thuyền. Từ các quán rượu vẳng ra những hòa âm đứt quãng, trên vỉa hè đầy rác rưởi, chuệnh choạng bước đi những tốp thợ, những đám choai choai và trai tráng, áo vét mở phanh, sơ mi không cổ. Trong nhóm ba bốn cô gái nắm tay nhau cười khúc khích, chuyền thầm thì. Những người đàn bà có tuổi bế lũ trẻ con đứng bên các cổng nhà hoặc ngồi trên những chiếc ghế đẩu mang trong nhà ra.


“Xả hơi đấy!” - Đyzma nghĩ thầm.


Phố Electôranna cũng đông nghịt. Dân Do Thái nghỉ lễ chen chúc nhau chật ních cả vỉa hè lẫn mặt đường. Khi y tới quảng trường nhà hát thì đồng hồ trên tháp nhà hội đồng thành phố đã chỉ 8 giờ 5 phút. Y vội rảo bước và chẳng mấy chốc đã có mặt trước khách sạn.


Chốc chốc, y lại thấy những chiếc ô tô bóng nhoáng xịch tới, từ trong xe bước ra những ông lớn lịch sự cùng những quý bà khoác áo choàng lông thú, mặc dù tiết trời đang độ nóng bức.


Y đâm rụt rè.


Giữa đám người kia, liệu y có biết cách xử sự hay chăng?


Song rốt cuộc cái đói vẫn thắng. Ăn, phải ăn bằng mọi giá! Dù cho sau đó có bị quẳng ra cửa cũng được! Có mất gì đâu cơ chứ!


Y nghiến răng bước vào.


Trước khi y kịp định thần, đám phục dịch đã đỡ chiếc áo khoác và mũ của y, một ông nào đó rất lịch sự đưa y tới cửa phòng lớn và mở cửa cho y bằng một cử chỉ hết sức nhũn nhường.


Trước mắt Đyzma quay cuồng một phòng tiệc màu trắng rộng thênh thang với những vệt đen của áo đuôi tôm cùng váy nhiều màu của các bà. Mũi nước hoa lẫn lộn nhiều loại cùng tiếng huyên náo của bao giọng người khiến y chừng muốn ngất xỉu.


Y đang đứng lặng người cạnh cửa ra vào thì chợt thấy trước mặt hiện ra một ông, ông ta lịch sự cúi người chào, chìa tay bắt.


- Xin phép ngài được tự giới thiệu. - Ông kia nói - Tôi là Antôniepxki, thư ký riêng của thủ tướng. Thưa ngài, nhân danh cá nhân ngài thủ tướng, tôi xin chân thành cảm ơn ngài đã vui lòng đến dự. Xin mời, xin mời ngài, hiện đang nhắm khai vị…


Ông ta không kịp nói hết lời mà vội chạy đến đón hai ngài nào đó gầy nhom vừa bước vào.


Nikôđem Đyzma lau mồ hôi trán.


“Ơn Chúa! Giờ chỉ cốt là phải can đảm…”.


Y nhanh chóng định thần, đưa mắt nhìn quanh, quan sát tình hình. Quanh mấy chiếc bàn lớn, các quý ông quý bà cầm những chiếc đĩa nhỏ trên tay đang đứng ăn, cũng có người ngồi ăn bên những chiếc bàn nhỏ. Y quyết định hãy tạm thỏa mãn cái đói chút ít đủ để có thể bình tâm quan sát xem những người kia cư xử ra sao. Y ngắm nghía chiếc bàn bày đầy những đĩa to tướng, trong đựng những loại thức ăn lạ lùng nào đó mà y chưa từng biết đến. Y chỉ muốn bưng ngay một trong những chiếc đĩa đại ấy, ngồi vào một xó mà ngốn ngấu cho thỏa. Tuy nhiên, y vẫn cố nén lòng quan sát.


Rốt cuộc, y quyết định ra tay và bắt đầu đưa mắt tìm một chiếc đĩa con. Sau khi tìm thấy cả nĩa, y lấy vào đĩa của y khá nhiều rau trộn và một lát patê. Nước dãi đã ứa đầy mồm, y không thể rời mắt khỏi chiếc đĩa đang cầm. Đột nhiên, khi quay đầu tìm một chỗ đứng thuận tiện, y cảm thấy bị va mạnh vào khuỷu tay. Chiếc đĩa bật ra khỏi tay, bắn xuống thềm nhà.


Đyzma điên tiết thật sự. Ngay trước mũi y, một đức ông to béo nào đó đang sỗ sàng lấn tới thậm chí hắn ta cũng không thèm quay lại xin lỗi vì hành động vô ý kia nữa. Giá Đyzma kìm được cơn giận, chắc hẳn y sẽ khống chế bớt phản xạ. Song lúc này, y chỉ biết có mỗi một điều: gã đàn ông to béo kia đã hất đổ thức ăn ngay trên tay y.


Chỉ hai bước chân y đã đuổi kịp kẻ có lỗi và dùng hết sức túm chặt khuỷu tay hắn.


- Đồ thổ tả, phải để ý chứ, làm đổ cả đĩa trên tay người ta! - Y ném thẳng những lời ấy vào mặt gã đàn ông.


Cặp mắt kẻ bị tấn công biểu lộ một mối kinh ngạc khôn xiết, thậm chí nhuốm cả màu hoảng sợ. Hắn nhìn xuống sàn và luống cuống ngỏ lời xin lỗi.


Chung quanh ắng hẳn đi. Một người hầu bàn chạy đến, dọn sạch chỗ đổ, một người khác đưa cho Đyzma chiếc đĩa mới.


Hắn lấy lại món rau trộn giống trước vào đĩa của mình. Đyzma chưa hiểu hết điều điên rồ mà y vừa phạm phải, mãi đến khi đứng dẹp sang một bên, y mới nguôi nguôi một ít. Đột nhiên y hiểu rằng chỉ lát nữa thôi người ta rất có thể sẽ quẳng y ra cửa. Y ăn vội ăn vàng để có thể nuốt được nhiều nhất.


Trong khi ấy, phòng tiệc mỗi lúc một thêm đông. Đyzma nhẹ cả người khi nhận thấy chẳng hề có ai để ý tới y. Điều ấy khiến y thêm can đảm, y lại lấy vào đầy đĩa lần nữa. Khi đang nhai, y chợt nhận thấy bên cạnh có đặt một chiếc khay với những ly rượu đầy. Y nốc liền hai ly, cảm thấy vững tin hơn. Khi cầm đến ly thứ ba, y ngạc nhiên thấy chiếc ly kề với nó được bàn tay nào đó nhấc lên và cụng nhẹ vào ly của y. Đồng thời một giọng nói chợt vang lên bên tai y:


- Xin phép được chạm cùng ông một ly!


Đứng cạnh ông là một người đàn ông tóc vàng hung, mặc quân phục đại tá, đang mỉm cười nhìn y đầy hàm ý.


Cả hai nâng ly rượu lên môi dốc cạn. Đại tá chìa tay:


- Tôi là Varêđa.


- Tôi là Đyzma. - Y bắt tay và đáp lại như một tiếng vang.


- Xin chúc mừng ông. - Đại tá nghiêng người về phía Đyzma - Ông vừa hạ tay Terkốpxki bằng một pha tuyệt vời. Tôi trông rõ lắm.


Đyzma đỏ bừng mặt.


“À, - Y nghĩ bụng - thằng cha này sẽ mời mình cuốn xéo đây. Nhưng bọn chúng mở đầu mới lịch sự chứ!...”.


- Ha ha, - Đại tá Varêđa cười khẽ - bây giờ mà ông vẫn còn sôi máu khi nghĩ đến thằng ngu ấy. Xin chúc mừng ông, ông… Đyzma. Đã lâu lắm thằng cha Terkốpxki chưa nhận được một bài học nào đích đáng như thế… Chúc sức khỏe ông!


Cả hai lại nốc cạn, Đyzma hiểu rằng giữa gã Terkốpxki to béo kia và ngài đại tá đây hẳn phải có mối hiềm thù nào đó.


- Vớ vẩn ấy mà, - Y thốt ra - chỉ tiếc… món rau trộn và cái đĩa thôi.


Varêđa phá lên cười:


- Hài hước thật! Ông ác quá, ông Đyzma ạ, xin chúc sức khỏe ông!


- Ông biết không, - lát sau đại tá vừa đặt ly xuống vừa tiếp - đó thật là một câu khôi hài tuyệt hạng: Terkốpxki là đồ vớ vẩn, có tiếc là tiếc món rau trộn thôi!


Ngài đắc chí lắm, còn Đyzma mặc dù không hiểu ý ngài đại tá cũng buộc phải cười, trong miệng nhồm nhoàm nhai bánh xăng-uych.


Đại tá đề nghị hút thuốc và cả hai bước đến gần cửa sổ. Họ vừa kịp châm lửa thì một người đàn ông vạm vỡ, tóc vàng loáng thoáng những sợi bạc, có cử chỉ linh hoạt và đôi mắt kính bước lại gần:


- Vaxếch! - Ông ta gọi - Cho một điếu nào! Tớ quên mang thuốc lá.


Đại tá lại rút hộp đựng thuốc lá bằng bạc ra.


- Xin mời. Cho phép mình giới thiệu: ông Đyzma - bộ trưởng Jasunxki.


Đyzma giật mình. Trong đời chưa bao giờ y được trông thấy một vị bộ trưởng. Cái hồi còn ở sở bưu chính Uyxkốp, mỗi khi đả động tới ngài bộ trưởng thì bao giờ danh hiệu  ấy đối với y dường như cũng đều chứa đựng một nội dung hết sức trừu tượng, rất không thực, một thứ gì đó vô cùng xa vời, không tài nào với tới… Y ngây ngất bắt chặt bàn tay vừa chìa ra.


- Cậu biết không, - Đại tá nói - ông Đyzma vừa mới đụng đến thằng ngu Terkốpxki đấy.


- A! Thì ra chính là ông đấy ư? Cậu nói thật đấy chứ? - Bộ trưởng sôi nổi hẳn lên - Tôi có nghe! Tôi có nghe! À, à!


- Hơn nữa, cậu biết không, - Đại tá tiếp tục - khi mình chúc mừng thì ông Đyzma lại bảo “Terkốpxki là đồ vớ vẩn, chỉ tiếc món rau trộn thôi!” Cậu nghe rõ không: món rau trộn!


Cả hai cười vang, Đyzma phụ họa theo không mấy hào hứng. Chợt ngài bộ trưởng thôi cười và tuyên bố đầy ngụ ý:


- Đó là số phận của những kẻ cứ cố sức tự phình bụng ra. Đồ quái vật, cứ chen bạt mạng đi, cho tới khi bị người ta mắng thẳng vào mặt là đồ thổ tả, và sau đó còn ít giá trị hơn cả…


- …món rau trộn! - Đại tá Varêđa tiếp lời.


Cả hai lại cười phá lên. Ngài bộ trưởng khoác tay Đyzma vui vẻ nói:


- Dù sao đi nữa, cũng xin thành thực chúc mừng ông, ông Đyzma. Hết sức chân thành. Giá đất nước có được nhiều người như ông, ông bạn ạ, những người không để cho kẻ khác hà hơi vào món cháo của mình, thì chắc chắn chúng ta sẽ đứng ở vị trí khác hẳn. Cần phải có thêm nhiều những người can đảm.


Vài người nữa bước lại gần. Câu chuyện bắt đầu mở rộng.


Nikôđem Đyzma tỉnh táo hẳn lên. Cái dạ dày được tọng đầy và ít rượu cô nhắc vừa uống đã làm dịu bớt những dây thần kinh căng thẳng. Thoạt tiên, y ngỡ người ta nhầm y với một người nào khác trùng họ với y (mà rất có thể ở Vacsava y có họ hàng chưa chừng?), song sau đó y hiểu ra rằng người ta coi y là một người cùng cánh, bởi lẽ y đã chơi cho cái tay Terkôxki kia một vố. Hắn là ai thế nhỉ? Chắc phải là một nhân vật cỡ bự.


Cân nhắc tình thế, y đi đến kết luận rằng: tốt hơn hết nên tẩu cho mau! Y bắt đầu thấy lo ngại vì một người đàn ông có tuổi, đứng không xa y lắm, cứ đưa mắt theo dõi y. Thậm chí ông ta còn thận trọng di chuyển vị trí để có thể nhìn thẳng vào mặt y nữa.


“Quỷ thật, lão già muốn gì mình thế nhỉ?”.


Lời giải đáp đến ngay lập tức. Người đàn ông tuổi tác ấy giữ một hầu bàn đang đi ngang qua, nói với hắn vài lời, hất đầu chỉ về phía Đyzma. Người hầu bàn cúi đầu chào rồi tiến đến gần Đyzma thưa:


- Đức ông kia xin ngài cho được gặp một lát.


Chẳng còn cách nào khác, chạy trốn cũng không kịp nữa rồi. Nikôđem bước tới ba bước, đưa mắt buồn bã nhìn đức ông tóc bạc nọ. Ông ta hoác miệng ra cười, nói rối rít bằng giọng hết sức nhún mình:


- Vô cùng, vô cùng xin lỗi tôn ông, song nếu tôi không lầm thì đã có vinh hạnh được kiến ngộ với tôn ông hồi năm ngoái tại đại hội các công nghiệp gia ở Krcốp. Tôn ông không nhớ ra ư? Hồi tháng tư? Lêôn Kunixki?


Lão ta nói liến thoắng và hơi lắp. Bàn tay nhỏ nhắn hấp tấp chìa ra trước mặt Đyzma.


- Lêôn Kunixki.


- Nikôđem Đyzma. Song tôn ông nhầm đấy, tôi chưa bao giờ tới Kracốp cả. Có lẽ một người nào đó giống tôi chăng?


Lão già rối rít xin lỗi, cố sức thanh minh, lời của lão tuôn ra tới tấp, nhanh đến nỗi Đyzma cố lắm mới nắm bắt kịp nội dung.


- Vâng, vâng, dĩ nhiên rồi, mắt già cập quạng mà, lại đãng trí nữa, xin tôn ông hải hà lượng thứ, tuy nhiên tôi vẫn rất sung sướng, bởi lẽ ở đây tôi chẳng hề quen một ai cả, thật đáng buồn khi không biết ngỏ cùng ai đôi điều, nhất là lúc đang có một việc riêng hết sức quan trọng, đành phải nhờ người quen kiếm cho một tấm giấy mời, song thật khó lòng làm được việc gì, chả là già rồi…


- Thậm chí tôi rất lấy làm sung sướng. - Ông ta tuôn ra một mạch cũng vẫn bằng cái giọng ấy - Chính tôi rất lấy làm sung sướng được gặp tôn ông, vì tôi vừa trông thấy rằng tôn ông có quan hệ hết sức gần gũi với ngài bộ trưởng nông nghiệp vô vàn tôn kính của chúng tôi, tôi trộm nghĩ rằng, là chỗ quen biết, tôn ông sẽ vui lòng ban cho tôi một đặc ân và dùng đôi lời ưu ái giới thiệu tôi với ngài bộ trưởng Jasunxki. Song vô cùng, vô cùng xin tôn ông thứ lỗi…


- Không sao cả.


- Ôi, không, không, chính tôi đã làm gián đoạn cuộc chuyện trò thân mật giữa tôn ông với ngài bộ trưởng, song xin tôn ông hiểu cho, chả tôi là dân tỉnh lẻ, dân quê mùa chúng tôi, thưa tôn ông, cứ hay có thói xuề xòa thân mật thế đấy ạ…


“Hắn tán mới ghê chứ!” - Đyzma nghĩ thầm.


- Vì vậy, vô cùng, vô cùng xin tôn ông thứ lỗi, - Lão già vẫn lắp bắp tiếp lời - song xin tôn ông vui lòng ban cho lão già này một ân huệ, tôn ông cũng chẳng thiệt chi mà, phải không ạ?


- Ân huệ nào kia? - Đyzma ngạc nhiên.


- Ồ, tôi không dám nài tôn ông đâu ạ, nhưng giá như tôn ông vô vàn đáng kính vui lòng, nỏi tỉ dụ, giới thiệu tôi với ngài bộ trưởng, thì ngay lập tức, chắc tôn ông cũng thấy, ngài bộ trưởng sẽ nhìn tôi bằng con mắt khác hẳn: chả là chỗ bạn bè thân quen giới thiệu mà.


- Chỗ bạn bè nào kia? - Đyzma ngạc nhiên một cách hoàn toàn thành thực.


- Hê, hê, hê, xin tôn ông đừng chối. Chính tai tôi được nghe câu chuyện của các ngài mà, tôi già thật, mắt kém thật nhưng thính giác còn tốt lắm. Xin cam đoan, một khi được tôn ông giới thiệu, giả dụ như ông nói với ngài bộ trưởng thế này: “Bộ trưởng thân mến, xin phép được giới thiệu với anh một người quen thân cũ của tôi, ông Lêôn Kunixki…” Ôi, khi ấy mọi sự sẽ khác hẳn!


- Nhưng, thưa ông… - Đyzma định phản đối.


- Tôi đâu dám, hoàn toàn đâu dám nài, hê hê hê, nhưng sẽ biết ơn tôn ông vạn bội, vả chăng tôn ông có mất gì đâu cơ chứ ạ?


Đúng lúc ấy, người ta mở cánh cửa thông sang phòng bên. Dòng người di động qua, hơi bị nghẽn lại trước cửa. Khi bộ trưởng Jasunxki cùng hai người nữa đi ngang qua trước mặt Đyzma và Kunixki, ngài mỉm cười cùng Đyzma và nói với hai bạn:


- Đây là vị anh hùng của buổi tối hôm nay.


Lão Kunixki gần như đẩy Đyzma ra, còn lão cúi gập cả người chào bộ trưởng. Không còn cách nào khác, Đyzma buộc phải lên tiếng:


- Xin ngài bộ trưởng cho phép tôi được giới thiệu ông Kunixki, một người quen thân cũ của tôi.


Một sự ngạc nhiên thoáng hiện trên nét mặt bộ trưởng. Song thậm chí ngài không còn một tí thì giờ nào để đáp lại nữa, vì lão Kunixki đã chộp vội lấy tay ngài, vừa lắc lấy lắc để vừa xổ ra một thôi một hồi: lão rất sung sướng được làm quen với vị chính khách lừng lẫy, người mà tổ quốc - trước hết là nền nông nghiệp và hơn nữa là nền lâm nghiệp - hết sức biết ơn, đến chết lão cũng sẽ không sao quên nổi giây phút này, bởi lẽ lão là một nông gia kiêm công nghệ gia nghề gỗ, lão đánh giá rất cao những cống hiến lớn lao trong lĩnh vực này; tiếc thay không phải tất cả mọi kẻ dưới quyền ngài bộ trưởng đều có đủ năng lực để hiểu thấu đáo những tư tưởng chỉ đạo vĩ đại của ngài, dĩ nhiên là bao giờ ngài cũng có đầy đủ phương sách để đối phó với tình trạng ấy; còn lão, lão sẽ mãi mãi mang một món nợ không sao trả lại được với ngài Đyzma yêu quý và tốt bụng đây, người đã hạ cố giới thiệu lão với ngài bộ trưởng…


Dòng ngôn ngữ lắp bắp thao thao bất tuyệt tuôn ra cuồn cuộn khiến ngài bộ trưởng mỗi lúc một thêm kinh ngạc, ngài chỉ kịp thốt ra:


- Rất hân hạnh.


Song khi lão già nhiễu nhương bắt đầu đề cập đến những khu rừng công ở vùng Grốtnô và những xưởng xẻ gỗ nào đó… thì bộ trưởng đã khô khan ngắt lời:


- Xin ông làm ơn miễn cho tôi khỏi phải nghe những chuyện ấy tại buổi chiêu đãi này. Nếu không ở bộ tôi sẽ chẳng còn việc gì để làm nữa.


Bộ trưởng chìa tay cho Đyzma, gật đầu với lão Kunixki và bước đi.


- Ngài bộ trưởng của tôn ông quả là một người cứng rắn! - Lão Kunixki thốt ra - Tôi không ngờ đấy. Bao giờ ngài cũng thế ạ?


- Bao giờ cũng thế! - Đyzma dè dặt đáp.


Buổi chiêu đãi đã kết thúc, nhiều khách mời bước sang phòng khách sạn cạnh đấy để ăn tối.


Lão già cứ bám chằng chằng lấy Đyzma không chịu buông tha. Lão ngồi ngay cạnh y bên bàn ăn và tiếp tục thao thao bất tuyệt. Đyzma bắt đầu thấy đầu óc choáng váng.


Thực ra nguyên nhân chính gây ra tình trạng ấy là rượu cô nhắc cùng mấy ly rượu vang vừa uống, song Đyzma đã thấy mệt và buồn ngủ. Ấy vậy mà y vẫn phải tiếp tục ăn và uống, cái việc đã trở thành tra tấn nếu lưu ý đến lượng thức ăn nhiều khó tưởng tượng đã được dạ dày y hấp thụ. Đyzma khoan khoái mơ tưởng đến chiếc giường xếp chật hẹp mà y sẽ sung sướng giở ra đặt ngay dưới cửa sổ khi quay được về đến phố Uxka. Ngày mai là chủ nhật có thể người ta sẽ để yên cho y được ngủ đến mười giờ cũng nên.


Lúc ấy, lão Kunixki lại khoác chặt tay y.


- Tôn ông thân mến, xin tôn ông chớ chối từ, mới có mười một giờ chứ mấy, xin tôn ông vui lòng cạn cùng tôi một ly nhỏ vang Hung nữa! Tôi nghỉ tại đây, tại khách sạn châu Âu này, ngay gác một đây thôi. Tôi có một việc vô cùng quan trọng muốn nhờ tôn ông giúp cho. Nào, tôn ông Đyzma thân mến, nỡ lòng nào tôn ông từ chối?... Thưa tôn ông, ta sẽ cùng ngồi tay đôi với nhau, yên tĩnh, thoải mái, bên một chai vang hảo hạng.. nào! Chỉ nửa giờ, chỉ mười lăm phút thôi mà!


Lão gần như lôi tuột Đyzma theo. Cả hai cùng bước ra tiền sảnh và lát sau đã có mặt trong một căn phòng rộng rãi. Kunixki gọi điện cho người phục vụ và ra lệnh mang rượu vang tới.


Trong khi ấy, dưới nhà, cánh cửa quay lồng kính xoay liên tục, cứ mỗi vòng lại nhả ra bên ngoài thêm những quý ông đội mũ ống cao và các quý bà diện ngất trời. Một người Thụy Sĩ đứng sát mép hè đường xướng gọi ô tô.


- Xe của ngài bộ trưởng Jasunxki!


Một chiếc xe du lịch bóng nhoáng lăn bánh tới, ngài bộ trưởng vừa chia tay với đại tá Varêđa vừa hỏi thêm:


- Này, Vaxếch, cái tay đã cho Terkốpxki một keo tên là gì ấy nhỉ?


- Một tay khá đấy chứ, hả - Đại tá hơi liêu xiêu trên hai chân, hùng hồn tuyên bố - Y tên là Đyzma, phải nói rằng y đã chơi một đòn thượng thặng…


- Y có vẻ là một điền chủ hay công nghệ gia hay sao ấy, vì cậu biết không, y thân với lão Kunixki, cái lão dính vào vụ án cung ứng tà vẹt đường sắt ấy mà.


- Thì tớ chả bảo cậu đó là một tay có hạng mà! Thẳng băng!


- Phải, y có cá tính rất mạnh, tớ vẫn tin khoa tướng sọ học([4]). Sọ y nhô về phía trước, xương quai hàm rất phát triển. Tớ tin tướng sọ học! Thôi nhé, chào!


Động cơ nổ giòn, cửa xe đóng sầm sầm. Đại tá đứng lại bên hè đường.


- Hắn ta say hay sao ấy nhỉ, quỷ thật. - Đại tá tự nhủ - Tính cách thì có quan hệ quái gì với niên đại học cơ chứ?([5])


(còn tiếp)


Nguồn: Đường công danh của Nikodema Dyzmy. Tiểu thuyết của Tadeusz Dolega – Mostowicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan KARIERA NIKODEMA DYZMY, Nhà xuất bản CZYTELNIK – 1968. NXB Văn học in lần thứ hai, sắp phát hành.








([1]) Tức Chiến tranh thế giới thứ Nhất (N.D).




([2]) Đơn vị tiền Ba Lan xưa và nay. (N.D)




([3]) Nguyên văn: Frajter (hay gefrajter) - cấp bậc tương đương với binh nhất, trước đây dùng trong quân đội Ba Lan. (N.D)




([4]) Một lý thuyết khá phổ biến hồi thế kỷ XVIII-XIX, cho rằng có thể xác định năng lực trí tuệ và đặc điểm tâm lý con người trên cơ sở hình dáng sọ não. Ngày nay được xem là lý thuyết sai lầm (N.D).




([5]) Chơi chữ không dịch được. Đại tá nghe nhầm frenologia (tướng sọ học) thành chronologia (niên đại học) (N.D).


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 09.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »