tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185463
Lý luận phê bình văn học
03.02.2010
Hoài Anh
Vũ Bằng, con chim tiêu liêu suốt đời chỉ đậu một cành

Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan xếp Vũ Bằng vào loại tiểu thuyết tả chân rồi phê bình Vũ Bằng về đường xã hội và về đường tâm lý của nhân vật trong tiểu thuyết của ông. Thí dụ:


"... Về đường xã hội, Vũ Bằng đã lập một truyện không đúng sự thực. Ông có thể cho Hải (trong Truyện hai người ) là "một kẻ đau đớn và khổ cực", vì cái nghề "cạo giấy" ít tiền của chàng, nhưng ông chỉ có thể tìm cái nguyên nhân đau khổ của chàng ta ở điều khác, thí dụ ở cái học dở dang nó làm cho chàng ta đo lầm sức mình và có những mong ước cao quá phận mình. Còn như bảo ở xã hội Việt Nam hiện thời, nghề cạo giấy là một nghề cực khổ thì không đúng. Vì nếu ta đặt Hải bên cạnh một người lao động ta sẽ thấy có sự khác xa ngay.


Về đường tâm lý, nếu đọc lược cả truyện, người ta nhận thấy Hải là một thiếu niên có tín ngưỡng, có lý tưởng. Nhưng nếu xét nhận từng đoạn một, qua các tình tiết và mọi việc, người ta còn thấy Hải là một thiếu niên khờ dại nữa, rồi ở giữa những cái khờ dại của chàng, lại điểm thêm cái tính dí dỏm và láu vặt. Tác giả đúc một nhân vật trong một khuôn tâm lý như thế, kể ra phức tạp thật".


Có đọc cuốn Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng, mới thấy Vũ Bằng có một quan niệm riêng về tiểu thuyết: "Như chúng ta đã biết, tiểu thuyết tân thời, tiểu thuyết gần đời thiết thực, nói tóm lại là tiểu thuyết, không có ý định chủ trương một học thuyết hay biểu dương một chủ nghĩa nữa rồi, bởi vậy nên những nhân vật đại biểu (personnages représantatifs) cũng không tồn tại nữa.


... Những "nhân vật sống" trong tiểu thuyết bây giờ thì khác hẳn. Họ cũng là người như chúng ta, không hơn không kém, có một tấm lòng quảng đại nhưng lại rất có thể có những điểm kém hèn, có một khối óc quang minh nhưng lại rất có thể sa vào hầm tội lỗi. Một "nhân vật sống" là thế, một nhân vật sống" là một nhân vật phản chiếu cái hình ảnh của đời, là một nhân vật như chúng ta đây, một nhân vật rất gần, rất thân thiết chúng ta, một nhân vật mà nhìn vào lòng, thấy như nhìn vào lòng ta vậy.


Một "nhân vật sống" không cứ phải nói nhiều, hò hét nhiều, hành động nhiều, nhưng tự gây ra sự tình, biến cố, chỉ định lấy những cảnh ngộ và cảm nghĩ rất phiền phức. Sống đây là sống cả vật chất lẫn tinh thần, sống cái đời sông bên ngoài và sống cả cái đời sống bên trong nữa - mà có khi lại sống cái đời sống bên trong nhiều hơn bên ngoài. Nhân vật chính của Dostoievski trong Những đêm trắng (Les nuits blanches) chính là một nhân vật sống, sống cả bên ngoài, sống cả bên trong. Nghĩa là cái sống bên ngoài đã nói đại khái ở trên kia, còn cái sống bên trong tưởng cũng nên đem vẽ lại ra đây cho ta hiểu đại khái nghĩa cái sống trong một "nhân vật sống" như thế nào:


- Em muốn biết tôi là người gì ư? Thế thì tôi là thế này: tôi là một mô hình.


- Một mô hình là một cái gì?


- Một mô hình là một người vớ vẩn, là một phẩm tính, là một... Nhưng em có biết thế nào là một người tư tưởng hay không?


- Một người tư tưởng ? Thì chính em, em là một người tư tưởng. hàng ngày ngồi bên cạnh bà em, em nghĩ bao nhiêu điều trong óc. Nhưng ước mộng đó đi xa lắm. Có lần em mơ thấy em lấy một vị hoàng tử nước Tàu. Lắm khi mơ mộng cũng thú...".


Vũ Bằng còn phỏng theo Những đêm trắng để viết truyện Em ơi đừng tuyệt vọng (in trong tập Để cho chàng khỏi khổ). Điều đó chứng tỏ Vũ Bằng đã chịu ảnh hưởng Dostoievski.


Nếu trong Tội ác và Hình phạt, Dostoievski đã để cho Raskolnikov công bố một bài báo trình bày các cơ sở lý thuyết của anh ta thì trong Tội ác và hối hận (1940) Vũ Bằng cũng để cho tên giết người Mai Sơn từng viết báo, Vũ Bằng đã để cho nhà trinh thám nghiệp dư Vinh nói với y: "Phải, phải, tôi biết là anh đã viết báo, tôi đã cố dò tìm những bài báo của anh và tôi đã được đọc một bài của anh nói về tội ác.


Anh ơi, anh đã lầm biết bao nhiêu! Anh viết cũng như Raskolnikov ở trong tiểu thuyết của người Nga.


Án mạng tức là một cách để phản kháng đẳng cấp của xã hội không biết tổ chức vậy - và không có gì khác cả! Những kẻ làm tội ác có lý do chắc chắn thay, khi mà họ nói như thế tức là họ nói hết cả. Họ không công nhận một lý do gì khác thế, họ làm tội ác mà lấy làm thỏa mãn. Theo họ, người ta sở dĩ phải giết người cũng chỉ là bởi vì hoàn cảnh nó đưa đẩy đến đó và chỉ vì có thế.


Tôi, tôi không thể nào chịu được. Tôi chủ trương rằng: người ta, dù ở thứ bực nào, dù tài giỏi đến thế nào cũng không có quyền giết kẻ khác - ngay như những người giết kẻ khác để lấy tiền làm những việc có ích tày trời cũng vậy.


Tôi, tôi đã biết có một người ngụy biện khi muốn giết một ông cụ giàu để lấy tiền. Anh ta ngụy biện rằng:


"Một bên là một ông già ngu độn, điên rồ, khoảnh ác chỉ làm hại người ta, không biết tại sao mình sống, mà có sống chăng nữa thì cũng chỉ mai đây, thần chết cũng đến lôi đi. Mà một bên là bao nhiêu sức khỏe của hoa niên tươi tắn uổng đi một cách vô ích vì không nơi nương dựa. Thử tạm lấy một số tiền ông lão cúng các chùa chiền mà xem! Có thể làm được bao nhiêu việc có ích.


"Thí mạng một con gián đi để cứu lấy vài chục người sống, để làm một công cuộc có ích cho hàng bao nhiêu người, đó chính là một câu giải quyết thuộc về toán pháp vậy.


Anh ơi, anh Mai Sơn, còn có cái gì sầu thảm hơn lối ngụy biện ấy nữa không? Tôi tưởng một người có học đã biện thuyết được đến như thế, một khi giết được người rồi thì lại đau khổ hơn những người vô học nhiều lắm.


Ở đời, không ai được tự cho mình cái quyền phép về tinh thần được giết người. Cái quyền phép về tinh thần, theo ý tôi lại còn gớm ghiếc hơn cái quyền phép công khai, cái quyền phép được pháp luật người đời công nhận.


Pháp luật có khi để sổng một đứa giết người, nhưng đứa giết người thì không bao giờ tự để sổng mình bởi vì nó dù là một đứa giết người nhưng nó vẫn là người - mà đã là người thì phải có lương tâm, đã là người thì phải có nhân sinh tình cảm. Càng những người có học thì lương tâm càng sáng suốt, cái nhân sinh tình cảm càng mông mênh; cho nên càng những người ấy lại càng đau đớn vì cái lỗi lầm cái tội ác của mình làm. Những người ấy có một hình phạt nặng hơn là lao tù, nếu họ trốn được ngoài vòng pháp luật, những người ấy khốn khổ ở bên ngoài nhiều hơn là họ bị ở trong vòng tù tội...".


Nếu như hồi đầu thế kỷ 20, người ta đã chế giễu những ông đồ sính tân thư đã "trút toàn bộ cuốn Ẩm băng vào một trang giấy",thì ở đây Vũ Bằng cũng đã trút toàn bộ chủ đề tư tưởng của Tội ác và Hình phạt vào một trang giấy, chỉ có khác là Vũ Bằng dùng nó làm lời của Vinh thuyết phục Mai Sơn. Điều kỳ lạ là Mai Sơn nghe xong những lời đó, lập tức hối hận và uống thuốc độc tự tử để chuộc tội mặc dầu trước đó chưa có một phút giây băn khoăn về tội ác của mình chỉ đơn thuần là một tên giết người vì tiền, đầy mưu mô thủ đoạn, độc ác nham hiểm, đã giết mẹ già của mình còn toan giết nốt người anh cùng cha khác mẹ của mình để chiếm gia tài của cha để lại. Vinh dùng phương pháp điều tra bằng dò xét và suy lý của một nhà trinh thám chuyên nghiệp trong khi Porphiri trong Tội ác và Hình phạt, theo Bakhtin trong Những vấn đề thi pháp Dostoievski nhận xét: không dựa vào tâm lý học điều tra xét xử, mà dựa vào một thứ trực giác đối thoại đặc biệt, nó cho phép thâm nhập vào tâm hồn chưa hoàn thành chưa xong xuôi của Raskolnikov. Ba lần gặp gỡ giữa Porphiri và Raskolnikov hoàn toàn không phải là các cuộc thẩm vấn điều tra thông thường; và không phải vì chúng diễn ra "không theo thể thức" (điều mà Prophiri luôn luôn nhấn mạnh) mà là vì chúng phá vỡ các nguyên lý của mối quan hệ qua lại truyền thống về mặt tâm lý giữa người thẩm vấn và phạm nhân (điều mà Dostoievski nhấn mạnh). Cả ba cuộc gặp gỡ này của Porphiri và Raskolnikov đều là ba cuộc đối thoại đa thanh đích thực và tuyệt vời".


Trong Tội ác và Hình phạt, Raskolnikov là nhân vật chính, còn trong Tội ác và hối hận của Vũ Bằng, Mai Sơn chỉ là một nhân vật phản diện, không có cá tính, không có quá trình diễn biến tâm lý. Nó chứng tỏ Vũ Bằng chỉ nắm được Tội ác và Hình phạt của Dostoievski như trong một cái khung đề cương cốt truyện; trong khi, theo Stefan Zweig, "Dostoievski chỉ bộc lộ ý định của mình trong tác phẩm hoàn chỉnh; ông thiêu hủy các đề cương trong ngọn lửa của nhiệt tình sáng tạo... Những phân tích tâm lý táo bạo nhất của các nhà văn khác có vẻ nông cạn so với những quan sát của ông. Chúng gây cảm giác như những sách giáo khoa cũ về kỹ thuật điện trong đó một vài yếu tố đã được chỉ ra nhưng trong đó người ta chưa có một ý niệm nhỏ về các nguyên lý cơ bản".


Xét về hình thức bề ngoài thì cốt truyện Oedipe, Hamlet, Tội ác và Hình phạt kể cả Tên của đóa hồng của Umberto Eco, giống như những tiểu thuyết trinh thám điều tra vụ án, nhưng qua lao động nghệ thuật của tác giả, đã được nâng lên thành những tác phẩm có giá trị tâm lý và triết lý cao siêu, trong khi Vũ Bằng mặc dù có cái mẫu để mô phỏng là Tội ác và Hình phạt, lại để Tội ác và hối hận trở về nguyên hình của một tiểu thuyết trinh thám kiêm luận đề kiêm luân lý, thời gian hành động rất dài, thời gian tâm trạng rất ngắn, chứng tỏ việc sử dụng thời gian nghệ thuật trong tác phẩm rất yếu, quả là đáng tiếc. Nhân vật Hải trong Truyện hai người (1940) của Vũ Bằng vừa giống Raskolnikov trong Tội ác và trừng phạt của Dostoievski ở chỗ ân hận vì để mẹ và em gái phải sống nghèo khổ vừa giống Mưskin trong Chàng ngốc ở chỗ là người lương thiện nhưng vẫn đam mê một phụ nữ phóng đãng thích hưởng thụ vật chất. Nhân vật của Dostoievski có tính chất nghịch thường không thể đặt vào cái khung xã hội để phán xét xem có phù hợp với cái khuôn tâm lý thông thường hay không?


Trong cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski, N.Bakhtin viết: "Nhân vật làm cho Dostoievski quan tâm không như một hiện tượng của hiện thực, có các dấu hiệu xác định, cố định về mặt điển hình xã hội và tính cách cá nhân, không như một diện mạo nhất định, được tạo thành bằng các đặc điểm đơn nghĩa và khách quan, mà trong tổng thể sẽ trả lời cho câu hỏi: "Nó là ai?". Không, nhân vật làm cho Dostoievski quan tâm chỉ như một quan điểm đặc biệt đối với thế giới và đối với chính nó, như một lập trường ý nghĩa và lập trường đánh giá của con người đối với bản thân và đối với thế giới xung quanh nó.


Đó là đặc điểm rất quan trọng và căn bản trong cảm thụ nhân vật. Như vậy, cái cần khám phá và khắc họa không phải là tồn tại được xác định nhân vật, là hình tượng cố định của nó, mà là sự tổng kết mới nhất của ý thức và của sự tự ý thức của nó, suy đến cùng, là tiếng nói mới nhất của nhân vật về chính nó và thế giới của nó.


... Nhân vật của Dostoievski không chỉ là lời phát ngôn về chính mình và những người gần gũi nhất xung quanh mình, mà còn là ý kiến về thế giới: nó không chỉ là người đang ý thức, mà còn là nhà tư tưởng".


Về nguyên tắc cấu tạo các loại hình đối thoại trong tiểu thuyết Dostoievski, Bakhtin viết: "Bất cứ đâu thì đó vẫn là sự giao thoa, sự cộng hưởng hay là sự xen lẫn của các câu đối thoại công khai với các câu đối đáp của cuộc đối thoại nội tâm của các nhân vật. Khắp nơi đều là một tổng thể xác định gồm các tư tưởng, ý nghĩ và lời nói được dẫn dắt ra theo một số tiếng nói không chập nhau, có âm hưởng khác nhau trong từng tiếng nói ấy". Thử liên hệ với một đoạn trong Truyện hai người:.


"... - Anh Hải, buổi tối anh về làm gì ở nhà? Anh có đi chim gái không? Anh có đi cô đầu không? Hay là anh đọc sách?


- Thú thực với các anh - (lời Hải) lúc mới vào làm ở đây, độ hai, ba tháng tôi cũng đọc hết một cuốn truyện tây, nhưng vì sau buổi tối về, tôi mệt quá - mà vì lười cũng có - tôi chỉ xem những tin tức ở một tờ báo hàng ngày mà thôi. Sự thực, tôi cũng không lấy làm thích thú lắm bằng những truyện kiếm hiệp: những truyện ấy xem ham lắm mà lại không phải nghĩ.


- Thế chỉ có thế thôi à?


- Sáng chủ nhật, được nghỉ tôi đi chơi. Tôi lên Hồ Tây ngồi ở trên bãi cỏ để hít thở không khí buổi sáng. Trưa, tôi ăn. Cũng có khi tôi đi xem đá bóng giải buồn, nhưng nếu có chợ phiên thì tôi bỏ đá bóng vào xem chợ phiên cho lạ.


- A! a! anh em ơi, bác Hải lại đi cả chợ phiên nữa đấy, ghê không?


Và câu chuyện ấy thế là tự nhiên được anh em trong sở đem ra bàn luận.


Bàn luận đến chợ phiên tức là phải bàn luận đến đàn bà mà đàn ông đã bàn luận đến đàn bà thì tức là phải bàn luận đến sự chơi bời giấu vợ.


Một người đứng lên nói:


- Hôm qua, nhà tôi phải về Nam Định để thăm con cháu ốm. Tôi được tự do nên đập trống suốt đêm. Gớm! Cái nhà ấy có con bé sao mà hẩu thế! Mình dắt nó đi ăn. Nó kết với mình quá và đến sáng hãy còn khóc rưng rức vì cảm động.


Một người khác tiếp theo:


- Tôi, tôi thích nhảy đầm hơn. Nhảy đầm có vẻ tây mà lại không tốn tiền như đi hát. Đây nhé: các anh thử tính xem. Tôi làm một tháng được ba mươi lăm đồng. Một tháng bốn lần phải gom tám đồng bạc để đi Vạn Thái hay Chùa Mới chẳng hạn thì có phải là hết ngốn mất cả lương. Âu là "đằng" này cứ công ty với một thằng nào, mỗi tuần lễ đồng bạc, đi uống chai bia, chai nước chanh sì sằng gì đó rồi nhảy đến một hai giờ đêm thì về. Vừa ngủ được lại vừa không hại tiền.


Một người khác nữa nói:


- Thế cũng hay. Nhưng tôi thì tôi ngổ hơn các bác. Đập làm gì? Nhảy làm gì? Tôi buồn thì tôi ngủ. Nếu tôi không ngủ thì tôi đi phòng cho thuê: như thế, vừa rẻ mà lại vừa không bận rộn. Đóng cửa buồng lại thì chẳng còn ma nào biết đấy vào đâu, dù người ấy là "ma phăm" đi nữa.


... Hải vừa cúi đầu viết sổ vừa nhìn họ mà buồn cười. Chàng nghĩ:


- Ối! các ông chỉ chạy theo những cái lóe mắt người ta, những cô ả đẹp đẽ, những cô ả tiêu nhiều tiền. Những cô ả tiêu nhiều tiền làm cho ông ấy không biết quý cái của kiếm bằng mồ hôi nước mắt và những cô ả đẹp, lừa dối các ông ấy, sẽ mở mắt các ông ấy mà bảo cho biết ái tình chỉ là một thú vui giản tiện. Để rồi mà xem: các "bố" ấy sẽ hối ngay".


Stefan Zweig viết: "Công cụ giúp Dostoievski đi sâu đến như vậy vào tâm hồn con người là ngôn từ. Goethe miêu tả mọi cái bằng cái nhìn; ông là, theo cách diễn đạt của Wagner, người của đôi mắt, Dostoievski, người của đôi tai. Ông phải nghe và cho các nhân vật của mình nói lên để chúng ta cảm giác về sự tồn tại của họ. Merejkovski nói rõ điều đó: ở Tolstoi, chúng ta nghe thấy vì chúng ta nhìn thấy; Ở Dostoievski chúng ta nhìn thấy bởi chúng ta nghe thấy. Các nhân vật của ông là những cái bóng, những vong hồn khi họ còn giữ im lặng. Lời nói là hơi sương làm cho tâm hồn sinh sôi. Khi nói, họ bộc lộ ra những gì ở trong họ, trải bày màu sắc, phấn hoa để mà thụ tinh. Trong tranh luận, họ sôi nổi lên, họ thức dậy".


Chúng ta thấy những viên chức ở sở làm công việc đơn điệu như những cái máy, sống trong văn phòng lặng lẽ như những cái bóng, chỉ khi họ nói lên thì họ mới là con người, có những ý nghĩa riêng, có những mơ ước thầm kín mà có khi họ không đủ can đảm thực hiện trong cuộc đời thật.


Ở các tác phẩm Một mình trong đêm tối, Truyện hai người, Cô vợ lẽ tóc rễ tre, Bèo nước, Gặp nhau lại xa nhau... Vũ Bằng đều khai thác chuyện anh thư ký Hải yêu cô Trâm, nhưng mỗi lần câu chuyện lại được "biến tấu" một chút. Trong Một mình trong đêm tối, Trâm sau yêu Phương, trong Truyện hai người, Trâm sau yêu Phúc, anh học sinh ở gác ngoài, trong Cô vợ lẽ tóc rễ tre, Hải nghe lời cụ chủ khuyên không lấy Trâm làm vợ lẽ nữa, nhưng sau Trâm lại đi làm vợ lẽ ông Phượng ký, khi vợ cả ông Phượng ký ghen Trâm lại đi làm vợ lẽ một người khác, Hải và Trâm chia tay nhau giống như trong Gặp nhau lại xa nhau. Tính chất đa thanh trong Bèo nước được khai thác mạnh hơn trong Truyện hai người. Sau đây là một đoạn độc thoại nội tâm của Hải sau khi ghen định đâm chết Trâm và ông Phượng ký nhưng lại sợ.


"Không! Không làm sao cả! Về đến nhà rồi, nằm kỹ trong chăn rồi mà vẫn không thấy ai đến bắt, Hải mới chắc chắn là mình vô sự.


Ông nói với cái chăn rằng: "Ta không phải là người xấu. Chẳng qua họ xử ức thì ta làm thế? Con giun xéo lắm phải quằn. Không nghĩ nữa!"


Trần Văn Hải xua đuổi sự hối hận đi. Nó đi thật. Nhưng kể từ hôm đó Hải ốm, và ốm nặng. Mà làm sao không ốm được? Đời Hải, từ bé, phẳng như một giòng sông không có một cái cầu. Ông sống gần như không phải nghĩ, gần như không phải cố công, cùng sức. Cái gì cũng đeo theo một cái khuôn. Ông cứ theo khuôn đó: làm sổ, phát lương, và cự những người làm ở dưới quyền ông mà không chăm chỉ. Không được chệch cái khuôn đó một ly. Một con tính làm sai làm cho ông sợ. Một chữ viết lầm làm cho ông bực mình. Một cái nhìn của cụ chủ mà hàm ý nghĩa trách móc cũng làm cho ông ăn mất ngon ngủ mất yên. Trần Văn Hải ngày trước là thế đó? Vậy mà có ai lại có thể ngờ được rằng ông lại mê vợ lẽ rồi thôi việc, lại đi vào tận Sài Gòn để làm giàu, lại cả gan đâm vào cái lốp ôtô của một người lạ để trả thù một mối tình".


Nếu trong Cô vợ lẽ tóc rễ tre, Vũ Bằng để cho cụ chủ khuyên Hải không để ý đến Trâm nữa, thì trong Bèo nước, Vũ Bằng lại để cho Hải tưởng tượng ra cảnh cụ chủ đến gặp mình:


"Trần Văn Hải lấy tay vuốt những giọt mồ hôi trên trán. Ông vẫn còn sợ cụ chủ như ngày trước, tuy lúc đó ông đương ngồi nhà ông. Nhà ông tối mò mò. Mưa phùn lâm râm. Kính cửa sổ mờ mờ ướt. Đáng lý phải bật đèn lên cho sáng. Nhưng ông Hải ngại. Ông ngồi im, nhìn cái buồng ông đương ngồi. Vụt một cái, ở cánh tủ áo, ông thấy hai chấm sáng. Thế là cái gì? Ma? Không. Đó là hai con mắt cụ chủ hiện ra. Hai con mắt cụ chủ hiện ra ở đằng sau đôi kính trắng. Y như đôi mắt sáu năm về trước. Sáu năm về trước, đôi mắt ấy sáng nhất sở. Bây giờ, chúng sáng nhất nhà ông. Ông không còn giấu giếm được nữa, bởi vì đôi mắt ấy đã nhìn suốt cả.


Hải ngồi im lặng, đầu cúi xuống. Ông nhận tội với đôi mắt đó. Cái tội không nghe lời. Không nghe lời cụ mới chết, bây giờ đã biết thân chưa? Đôi mắt đó, mỗi lúc một thêm nghiêm. Và chúng nói với ông như thế này: "Ông Hải. Ông dại quá. Tôi tưởng ông thôi việc gì lẽ gì. Hóa ra ông thôi việc chỉ vì cái Cô-Có-Cái-Đầu-Trời-Đánh, Cô-Có-Tóc-Rễ-Tre, Cô-Con-Gái-Của-Một-Ông-Thổi-Kèn-Xiếc ư? Tôi thương ông quá...".


Một tiếng cười vang lên ở trong nhà. Ông Trần Văn Hải nhớ rằng, ngày trước, cụ chủ đã cười suýt sặc thuốc lào khi nói tới Trâm. Nhưng ông Hải không cười. Vì đôi mắt cụ chủ vẫn nhìn vào ông chòng chọc:


"Tại sao, ông có biết không? Tôi thương ông bởi tại ông có ý tưởng lấy cô ta làm lẽ. Chao ôi, vợ lẽ! Vợ lẽ có phải chuyện thường đâu. Đó là món xa xỉ. Người ta phải có nhiều tiền mới được. Như tôi đây chẳng hạn. Ấy thế mà tôi không lấy đấy. Huống chi ông! Ông đã biết dại rồi đấy chứ? Tôi nói có bao giờ sai đâu! "Của" ấy, tôi đã xem tướng cho rồi: chỉ có mà hại gia đạo, chứ không ích gì cho ai hết. Bây giờ ông thấy rồi đấy nhé!


Hải chắp tay lại "dạ" rồi lại ngồi im lặng. Thì đã bảo cụ là một cuốn Larousse kiêm một cuốn sách Bách khoa toàn thư mà lại! Thì đã bảo cụ là Trời mà lại! Hải đã bị quỷ ám hay sao mà lại có lúc dám đi nghĩ rằng cụ nói thánh nói tướng, cụ không biết gì, cụ bịp? Đôi mắt cụ chủ mỗi lúc một rõ thêm. Bây giờ thì nó sáng đến độ nghiêm nghị quá:


"Phải, ông biết dại rồi. Nay cũng còn vừa kịp. Vậy thì ông phải nghe tôi, ông Hải. Ông làm lại ngay cuộc đời của ông đi. Đừng nghĩ viển vông nữa. Đừng nghĩ chuyện vợ lẽ con thêm nữa. Ông đi làm việc đi, và phải chăm hơn trước, và phải chăm hơn trước! Ông nên nghĩ rằng ông làm việc cho ông chứ không phải làm việc cho tôi. Biết không? Công việc sẽ gạt bỏ những tư tưởng "bậy bạ" ra khỏi óc. Ông đã có nhiều tham vọng quá. Người ta chết vì tham vọng đấy, ông ạ. Ông phải làm mẫu mực cho vợ con ông ở nhà. À, nói đến vợ con ông, tôi mới lại nhớ ra. Ông vẫn cho bà ấy và các cô ấy về nhà quê đấy à?".


Chuyện Hải tưởng tượng ra cảnh gặp cụ chủ, khiến ta liên tưởng đến cảnh Ivan Karamazov nói chuyện với quỷ trong Anh em nhà Karamazov. Lời lẽ của con quỷ cũng lặp lại lời nói và ý nghĩ của Ivan. Con quỷ mang vào đối thoại nội tâm của Ivan các giọng điệu nhạo báng và lên án phũ phàng, trong khi lời lẽ của cụ chủ cũng chỉ là lời nói và ý nghĩ của Hải khi đã tỉnh ngộ. Cụ chủ mang vào đối thoại nội tâm của Hải giọng điệu khuyên can, đó cũng là tiếng nói bên trong thứ hai của bản thân Hải giống như tiếng nói bên trong của Goliatkin trong Kẻ song trùng. Còn tiếng nói của con quỷ thì lại là tiếng nói của người khác vang lên trong nội tâm Ivan. Trong Bèo nước cũng có những chỗ tiếng nói của người khác vang lên trong đối thoại nội tâm của Hải. Thí dụ:


"Ơ kìa, Trần Văn Hải, anh đương ở đâu thế này? Đây là chỗ làm ăn đấy chứ? Có phải là chỗ để anh mơ mộng thế đâu. Đừng ăn cắp thì giờ của chủ. Và anh có muốn mất hết việc làm hay không thì bảo tôi".


Đoạn trên đây cũng giống như lời Raskolnikov nói với chính mình (thường là gọi bằng "mày" như xưng hô với người khác) thuyết phục mình, trêu chọc, tố cáo, nhạo báng bản thân mình. Hải cũng từng nói với chính mình: "Cả hai đứa: "phập" và một nhát dao nữa: "phập". Thế là xong chuyện "Chúng nó hẳn không còn thể nào mà ngồi bù khú với nhau được nữa, phải, phải, làm một việc ác, nào có khó gì đâu. Tại sao mày lại không làm hở Hải?".


Ngay từ khi Truyện hai người vừa ra đời, người ta đã nhận ra ngay cái mới của lối viết của Vũ Bằng, Anh Mỹ viết trong Việt Báo, ngày 6.8.1940: "Toàn truyện văn viết rất công phu và bình dị một lối văn rất mới chưa có ai từng nêu, mà rất đều.... Đoạn kết thực là cao. Cái triết lý cái luân lý ở tất cả quyển truyện, thu vào đó, tỏ ra người viết có một tinh thần không giống như một số lớn văn sĩ mà ít lâu nay ta vẫn đọc" cảm giác mới ấy là do Vũ Bằng đã sớm hơn nhiều nhà văn khác: chú ý học tập kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại Phương Tây để làm giàu thêm cho văn học Việt Nam.


Vũ Bằng đã học tập được yếu tố hình thức trong tiểu thuyết của Dostoievski, nhưng vẫn chưa nắm được bản chất đối thoại của mọi yếu tố trong cấu trúc tiểu thuyết của Dostoievski. Bakhtin viết: "Tiểu thuyết đa thanh toàn bộ là mang tính đối thoại. Giữa tất cả các yếu tố cấu trúc tiểu thuyết đều tồn tại quan hệ đối thoại, tức là chúng được đặt đối lập với nhau theo tính chất đối vị... Dostoievski đã biết lắng nghe các quan hệ đối thoại ở khắp nơi, trong tất cả các biểu hiện của cuộc sống được ý thức và có suy nghĩ. Ý thức bắt đầu ở đâu thì ở đó bắt đầu có đối thoại".


Nhưng ở Vũ Bằng, ý nghĩ của các nhân vật vẫn chưa phải là những ý thức tư tưởng biểu hiện ra trong đời sống và có nguyên mẫu ở thời đại lúc bấy giờ, như trong tiểu thuyết Dostoievski, mà mới chỉ là những ý nghĩ xoay quanh vấn đề nhân sinh quan của con người như về tình yêu, hưởng lạc cá nhân, bổn phận đối với gia đình... nên những tiếng nói đó thiếu độ vang xã hội cần thiết. Nếu trong tiểu thuyết Dostoievski, nhân vật có quyền phát ngôn ngang hàng với tác giả, độc lập với ý thức của tác giả, nhưng ý thức tác giả vẫn dẫn dắt các tiếng nói của nhân vật vào cuộc đối thoại lớn của cuộc sống, thì ở Vũ Bằng, ý thức của tác giả bị chìm lấp giữa các tiếng nói của nhân vật. Vũ Bằng viết: "Không phải là tôi không tìm cách phô bày ý nghĩ của tôi qua những nhân vật trong tiểu thuyết của tôi đâu, nhưng điều tôi muốn là những ý kiến đó đều diễn đạt ra bởi những nhân vật phụ thuộc với đời của họ, mà những nhân vật chính sở dĩ nói điều này điều nọ là vì họ cần phải nói, bởi vì những điều đó hợp với tâm tình của họ, thành kiến của họ". Do đó Vũ Bằng đã dẫn lời của Duhamel: "Ở chương đầu truyện Deux hommes (Hai người, giống tên một cuốn truyện của Vũ Bằng - HA) tôi phác họa tư tưởng của một người đang tản bộ. Rồi kết luận bằng một câu: "Y nghĩ đến tất cả những điều đó và trăm ngàn điều khác nữa, nhưng y không biết rằng y đang nghĩ"...


Nếu Hải trong Truyện hai người làm thư ký kế toán cho tòa soạn báo Buổi sáng, thì Louis Salavin trong Hai người của Duhamel cũng làm việc trong một hãng đại lý khử độc. Nhân vật Louis Salavin điển hình cho hạng người yếu đuối và vô cùng đau khổ, chính vì nhận thức được sự yếu đuối và bất lực trong việc chịu nhận số kiếp riêng biệt của mình chẳng khác gì Hải. Trong cuốn khảo luận Nhận xét về những thiên hồi ký tưởng tượng, Duhamel có tuyên bố ông không tin rằng nhà tiểu thuyết có thể sáng tạo những nhân vật hoàn toàn tưởng tượng, hoàn toàn không dính líu gì tới cuộc đời của tác giả. Do đó Duhamel đã viết một bộ tiểu thuyết trường giang mười tập dưới hình thức nhật ký của y sĩ Laurent Pasquier (hóa thân của chính tác giả) nhan đề Ký sự họ nhà Pasquier. Có thể nói những chuyện xảy ra đối với Hải, bản thân Vũ Bằng đã từng trải qua, chỉ có khác là Vũ Bằng không xưng "tôi" trong tiểu thuyết. Trong Khảo về tiểu thuyết, Vũ Bằng đặt vấn đề: "Viết tiểu thuyết nên dùng ngôi thứ mấy?" và trả lời: "Cái quan hệ có phải là cho nhân vật xưng "tôi" hay gọi nhân vật là "nó" đâu nhưng ở chỗ tinh thần vô tư của tác giả, ở chỗ tác giả nghiêm khắc với nhân vật ít hay nhiều. Trong làng văn Pháp, Marcel Proust là người hay dùng chữ "tôi", vậy mà theo tôi, thì Proust vô tư và nghiêm khắc với nhân vật của mình hơn là Bourget, một người chỉ dùng ngôi thứ ba mà viết". Vũ Bằng còn viết: "Sự thực của một thời gian hay sự thực của một phong cảnh đó là tất cả những cái gì mắt ta trông thấy mà lại còn là tất cả những vấn đề về dĩ vãng, hiện tại và gần như về tương lai nữa. Tất cả những cái đó trộn lộn lại và hiện ra trong óc chúng ta, mà ông André Maurois đã gọi là "sự thực thi vị (réaliste poétique)".


Chính vì đi theo khuynh hướng hiện thực có chất thơ, Vũ Bằng mới viết được Thương nhớ mười hai, cũng là một kiểu "đi tìm thời gian đã mất" như của Proust, nhưng lại rất Việt Nam, với một bút pháp đầy cảm xúc. Ở đó mỗi một từ đều dội lên cả một ngôn ngữ âm nhạc và một năng lực gợi mở đầy ma lực.


Không chỉ giàu chất thơ, văn Vũ Bằng còn rất thành thực, điều này là ông chịu ảnh hưởng của André Gide. Trong hồi ký Cai ông đã kể cả về cái xấu của mình với một sự thành thực không thua gì Gide, ông cũng trích dẫn câu "Ôi gia đình! Ta ghét mi!", lời nhân vật Michel trong Kẻ vô luân của Gide. Trong Thương nhớ mười hai, ông cũng dành nhiều trang thật cảm động cho người vợ sống ở miền Bắc, cũng như Gide đã dành những trang nồng đượm nhất của Nhật ký để nói về vợ, và nhất là về cái chết của vợ, coi đó là cái tang lớn nhất của đời ông, mặc dù trong cuộc đời thật, bà không mấy hạnh phúc. Viết đối với Gide là một hình thức tự thú. Viết tức là viết về mình trước tiên, là thanh toán nợ nần với chính mình. Gide cũng là người ca ngợi các nguồn ảnh hưởng trong văn chương.


Đầu năm 1973, Vũ Bằng cho đăng truyện ngắn Anh nói em nghe, cũng về chuyện hai người yêu, sau khi chia tay, gặp lại nhau. Lần này ông không nấp sau cái tên Hải nữa, mà xưng anh ở ngôi thứ nhất. Nhưng nếu ở những truyện trước đây không có cái nền xã hội thì ở truyện này bối cảnh xã hội rất rõ: đó là Sài Gòn dưới ảnh hưởng của văn hóa thực dân mới Mỹ: "Em vận một cái áo dài đến đầu gối kiểu chiêu đãi viên Nhựt Bổn và một cái quần chân voi... Em đứng ở trên hè giữa những cây kiểng thời trang của những nhà giàu hay muốn có tiếng là giàu: cây sứ Thái Lan, gốc tùng Hương Cảng, mấy cành trúc Nhật, một cặp Đỗ Quyên... Với bao nhiêu là đồ nấu với bao nhiêu là trái cây, kẹo mứt, bao nhiêu là hộp trà, hộp bánh Mỹ, Đài Loan, Đại Hàn...


.... Đến khi bồi bưng thức ăn lên, em đưa tay lên nhìn giờ. Em nói:


- Ồ, đã tám giờ mười rồi ư?


Quả anh là một thằng ngu. Anh lại hỏi có phải ở nhà đợi em không?


- Cố nhiên là ở nhà đợi em.


Cố nhiên thật. Là vì em đã lấy một ngoại kiều giàu không để đâu cho hết tiền. Tám giờ ông ta ở sở về. Chín giờ thì ăn cơm. Mười giờ hơn đi ca vũ nhạc, chừng mười một giờ hơn đi ca vũ nhạc, chừng mười một giờ hơn thì về ngủ".


Thế là cùng với việc mở rộng diện xã hội trong tác phẩm của mình, Vũ Bằng đã trở về với chủ nghĩa hiện thực chân chính, miêu tả các chiều sâu của tâm hồn người; cũng trở về với tâm hồn quê hương, tâm hồn đất nước. Vũ Bằng có một bút danh là Tiêu Liêu, con chim tiêu liêu suốt đời chỉ đậu một cành, nhà văn quả xứng đáng với biệt hiệu ấy.


 


Hoài Anh


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »