tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078053
Lý luận phê bình văn học
02.02.2010
Hoài Anh
Tô Hoài, Nhà văn viết về Hà Nội đặc sắc và phong phú

Hồi nhỏ tôi đã biết nhà văn Tô Hoài do ông từng về Đại Hoàng chơi với chú Nam Cao. Theo những người thân kể lại, thì hồi Nam Cao dạy học ở Hà Nội, Tô Hoài có theo học một thời gian nhưng hai thầy trò đã nhanh chóng trở thành đôi bạn thân vì đều chung mơ ước viết văn. Về chuyện viết văn thì Tô Hoài lại là người động viên Nam Cao viết, dẫn Nam Cao đến làm quen với các báo, các nhà xuất bản để đăng bài, in sách. Tô Hoài cũng dẫn Nam Cao đến gặp các nhà văn, nhà phê bình như lên Vũ gia trang ở Thái Hà Ấp thăm nhà phê bình Vũ Ngọc Phan.


Sau này Vũ Ngọc Phan có kể lại chuyện ông đến thăm nhà Tô Hoài: "Qua sân đình làng Nghĩa Đô có hai cây đa to thì đến nhà Tô Hoài, đúng hơn là nhà bà ngoại của anh, giáp nhà Lại Việt - một nhà làm giấy dó nổi tiếng hồi bấy giờ. Bà ngoại anh là một bà già vui tính, hiếu khách; cụ thương yêu anh vô cùng. Căn nhà này quân Cờ Đen đã từngđóng hồi thực dân Pháp mới xâm lược nước ta. Mặt tường sau nhà, sát với con đường làng, đã lở hết vôi, trơ ra những viên gạch cổ. Nhà ba gian hai chái, hai chái là hai gian buồng. Buồng giáp cổng là phòng làm việc của Tô Hoài, rất đơn sơ, có thể nói là quá đơn sơ. Chính nơi đây Tô Hoài đã viết những tác phẩm đầu tay của mình. Sân nhà anh có hai cây hồng bì còn thấp mà đã sai quả, tỏa một mùi thơm mát trong nhà".


Sinh trưởng trong một gia đình nghèo làm nghề dệt lụa thủ công ở Nghĩa Đô... hồi nhỏ Tô Hoài đã theo mẹ, theo chị vào Hà Nội, đến các cửa hiệu tơ lụa ở Hàng Đào, Hàng Ngang... để giao hàng. Tô Hoài chỉ được học hết bậc tiểu học, sau đó phải đi làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, làm kế toán, bán giày, thư ký hiệu buôn...


Năm 1938, chịu ảnh hưởng tích cực của phong trào Mặt trận Bình dân, Tô Hoài tham gia hoạt động trong các tổ ái hữu thợ dệt và Thanh niên Dân chủ ở Hà Đông và Hà Nội. Sau một số bài thơ không thành công, ông chuyển sang viết văn xuôi. Truyện đầu tay là Dưới gầm cầu, ông gửi cho tuần báo Hà Nội Tân Văn của Vũ Ngọc Phan. Nội dung như sau: "Cái Gái ở nhà bà Khán Âu ở Nghĩa Đô, làm con nuôi. Gái nghe bạn là cái Mơ rủ ra Hà Nội, vì nó cho Hà Nội là sung sướng "làm ăn dễ chịu". Ra Hà Nội, Gái chưa tìm được việc làm, ban đêm đến ngủ dưới gầm cầu, bị hãm hiếp". Truyện viết phảng phất Vũ Trọng Phụng, có những nhận xét sắc, văn viết hoạt. Sau khi cắt đi vài đoạn không cần thiết. Vũ Ngọc Phan cho đăng. Tiếp đó, Hà Nội Tân Văn lại cho đăng những truyện ngắn: Câu chuyện vợ chồng hàng ngày, Bụi ô tô, Nước lên, Một đêm sáng giăng suông, Đàn bà. Tâm sự cô hàng xén, Ba bố con...


Đến năm 1910, Tô Hoài chọn được một hướng đi mới là viết truyện về loài vật. Ông cho in Dế mèn phiêu lưu ký (Nhà xuất bản Á Châu, 1941). Tiếp đó là tiểu thuyết Trăngthề (Nhà xuất bản Tân Dân, 1941). Năm 1942, Tô Hoài lại cho in tập truyện ngắn về loài vật O chuột (Nhà xuất bản Tân Dân). Trong lời tựa, Vũ Ngọc Phan viết: "Trong truyện Tuổi trẻ, con gà trống đi theo tiếng gọi của tình yêu rồi lạc mất; trong truyện Gã Chuột Bạch, vợ chuột chết hóc vì tham ăn; trong chuyện Đôi Gi Đá, tiếng pháo ngày Tết làm cho gia đình nhà Gi phải bỏ tổ mà đi; trong truyện Một cuộc bể dâu, sau những ngày hùng cứ một phương, con gà chọi độc nhỡn chết về bệnh dịch; trong truyện Đực, anh chó trở về già nằm buồn thiu, nhớ lại cái dĩ vãng đầy khổ não; trong truyện Cu Lặc, gã nhà quê này phải rời quê hương để đi tìm chỗ cung cấp cho cái bụng. Rặt những chuyện chết chóc, ly tán tha phương cầu thực, dồn dập một cách vô tình và tai ác đến những loài chỉ mong sống là may. Ông Trời thật bất công quá...


... Những tâm hồn giản dị ấy, cả tâm hồn vật lẫn tâm hồn người, Tô Hoài đã mượn để diễn những thương tâm của cảnh ngây dại và nghèo nàn, nên tập truyện này ta phải đọc theo con mắt riêng, không nên phân biệt người với vật, vì vật cũng là người, và nếu có người thì người cũng gần như vật.


Tôi dám chắc chuyện O Chuột này của Tô Hoài sẽ đem lại cho người đọc những cảm tưởng rất mới, những cảm tưởng nửa vui nửa buồn, vì nó có nhiều đoạn làm cho người ta cười nên tiếng khóc, khóc nên... tiếng cười".


Sau đó Tô Hoài còn cho in tiểu thuyết Quê người (Nhà xuất bản Mới, 1942), tập truyện ngắn Nhà nghèo (Nhà xuất bản Tân Dân, 1942), truyện Xóm Giếng ngày xưa (Nhà xuất bản Tân Dân, 1944), Cỏ dại (Nhà xuất bản Hà Nội, 1944) và những truyện viết cho thiếu nhi in trong loại sách Truyền bá và Hoa mai: Trê và Cóc; Ông trạng Chuối; Mực tàu giấy bản; Nói về cái đầu tôi; Ngọn cờ lau; Thằng Nhỏ; Lá thư rơi; Võ sĩ Bọ ngựa; Ba anh em; Ba bà cháu; Đám cưới Chuột; Chuột thành phố, Câu chuyện ngày chủ nhật...


Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt Minh, viết báo bí mật. Sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp gây hấn ở Nam bộ và đánh lan ra Nam Trung bộ, Tô Hoài đã vào công tác ở Nam Trung bộ, viết ký sự đăng báo Tiên phong của Hội Văn hóa cứu quốc. Đến kháng chiến chống Pháp, ông làm báo Cứu quốc ở Việt Bắc. Thời kỳ này Nam Cao đang làm chủ tịch xã, Tô Hoài viết thư mời Nam Cao lên Việt Bắc cùng làm báo Cứu quốc. Có thể nói Tô Hoài là người bạn thân nhất, chí tình nhất của Nam Cao. Hai ông dã cùng đi dự Chiến dịch Thu Đông năm 1950, khi ghé lại Bắc Sơn rồi về qua Vũ Lăng, máy bay địch bắn phá Vũ Lăng, ba lô quần ao của hai ông cháy hết. Nhưng hai ông vẫn bỏ mặc đấy, đi cứu thương. Máy bay đến đánh phá nữa, hai ông vẫn cùng dân quân dọn dẹp các đám cháy cho đến tối mịt. Khi chiến dịch sắp mở, hai ông phải vượt qua đường số 4 quãng Lạng Sơn sang với cánh quân bên kia huyện Thoát Lãng. Đường số 4 bị địch chiếm đóng. Chúng canh gác và đi lại suốt ngày đêm. Hai ông đến trạm liên lạc, chờ giao thông vào báo vượt đường được. Đến khi đi được thì rất nguy hiểm, mấy lần chết hụt, nhưng may mắn thoát đươc.


Ở Việt Bắc, Tô Hoài đã tham dự nhiều chiến dịch và viết được tập truyện ngắn Xuống làng (1950), tập truyện ngắn Chính phủ tạm vay. Năm 1952, Tô Hoài lên công tác ở Tây Bắc, ở đó Tô Hoài phải "ba cùng" - cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào Thái Mèo, ngày ngày vác dao, mang gùi ra rẫy, ra nương theo bà con, vừa làm việc, vừa nói chuyện tuyên truyền, tổ chức cơ sở. Đêm dạy họ học chữ, kể chuyện đời xưa, đời nay, truyền bá văn minh khoa học tiến bộ, hoặc quy tụ trẻ em dạy chúng hát, học dệt vải sợi thô, học thổi khèn, múa vũ, học bắn ná, làm bẫy, đi săn với các thanh niên trong bản, cùng các cụ già chuyện trò, uống rượucần... Tô Hoài phải tập ăn các món ăn không quen, mặc quần áo bằng vải sợi thô, học nói tiếng dân tộc. Từ cách sống, từ thói quen, từ nếp suy nghĩ, phong tục tập quán cho đến tâm hồn của đồng bào dân tộc ít người thấm hẳn vào Tô Hoài, nhờ đó ông đã viết được tập Truyện Tây Bắc (1953), Cứu đất cứu mường (1954), Tào Lường (1955), Miền Tây (1967)...


Năm 1954, tôi tham gia tiếp quản Thủ đô, sau khi ổn định xong sinh hoạt ở thành phố, tôi đến trụ sở Hội Văn Nghệ Việt Nam thăm Tô Hoài. Tôi nói với ông: "Ngày mai cháu nghỉ phép về thăm quê, nếu bác đồng ý thì để cháu dẫn em Thiên con chú Nam Cao lên đây để bác giúp đỡ cho nó đi học". Ông cười bảo ông đã đưa Thiên lên ở đây rồi và gọi Thiên ra gặp tôi. Tôi thấy ông xử sự thật là chu đáo, đối với bạn vô cùng trọn tình trọn nghĩa. Sau đó ông xin cho Thiên đi học nước ngoài, đỗ Phó tiến sĩ ngành Thủy sản.


Năm 1957, Tô Hoài cho in tập truyện Khác trước. Đến năm 1957, cho in tiểu thuyết Mười năm. Tác phẩm phản ảnh thời gian mười năm 1936 - 1945 ở làng Hạ (tức làng Nghĩa Đô) với những cuộc biểu tình chống thuế, những vụ đình công, sự thành lập các Hội Ái hữu trong thời Mặt trận Bình dân (1936 - 1939), bộ máy đàn áp của Pháp và hiến binh Nhật chặt đầu dân ta sau khi chúng tràn vào Đông Dương năm 1940 và nạn đói khủng khiếp khoảng 1944 - 1945. Tác phẩm này cũng rút ra từ vốn sống thực sự của Tô Hoài, những nhân vật chính là ông và lứa thanh niên bạn ông.


Tô Hoài rất am hiểu về Hà Nội. Ngoài vốn sống trực tiếp, ông còn tạo vốn sống gián tiếp bằng cách chăm chỉ đọc báo, hàng ngày ghi chép tỉ mỉ những chi tiết về giá cả sinh hoạt chợ búa, tiếng nhà nghề, tiếng lóng, tiếng "thời đại", những mốt quần áo, bài hát, trò chơi... thông dụng trong từng giai đoạn. Tô Hoài còn cùng với Nguyễn Tuân và NguyễnHuy Tưởng đến khắp các quán ăn Hà Nội, Từ Đại Lầu, Hoan Lạc Viên, Mỹ Kinh của người Hoa, đến bà bún thang đeo chuỗi ngọc xanh trong chợ Đồng Xuân, bà nem chua giò chả chợ hàng Da, ông kính cận canh giò sấu phố Hàng Buồm, ông Văn Phú ếch tẩm bột rán phố Ga, ông Sinh thịt chó chợ hoa Cống chéo, bà cụ chả cá phố Làng Lược, bác phở "sửa sai" phố Hàng Giày, quán ông "Thủy Hử" ngõ Ngô Sĩ Liên, hiệu chả cá Lã Vọng của các con ông My phố Chả Cá... Những quán, cửa hiệu này bác Tuân và bác Tưởng đã là khách quen từ trước năm 1945. Khi thấy bác Tuân đến, bà My ra chào và hỏi một câu thân mật: "Hồi này các ông đóng ở đâu mà không thấy lại chơi". Lại có quán, bà chủ quán tóc trần cuốn lần khăn nhung, mặc the tứ thân nâu, trịnh trọng đưa cơi trầu ra mời bác Tuân bác Tưởng, giọng đặc Hà Nội cũ: "Chẳng hay quý ông nhậm chức đây hay rồi còn phải đổi đi đâu?". Tô Hoài mặc cho bác Tuân, bác Tưởng thù ứng với chủ quán theo phép lịch sự, chỉ tủm tỉm cười quan sát rồi về ghi chép, để sau đó viết ra những trang đặc sắc về quà Hà Nội trong Chuyện Hà Nội tinh tế, cặn kẽ hơn cả những trang viết của Thạch Lam trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường, Vũ Bằng trong Miếng ngon Hà Nội... Cũng vì sành về các món ăn, cho nên khi thấy bài của tôi viết trên báo Nhân Dân, nói phở Trưởng Ca là một đặc sắc của Hà Nội, ông bảo tôi: "Phở Trưởng Ca không ngon, chỉ là hiệu phở mở sớm cho khách đi chơi cô đầu về ăn mà thôi". Khi bác Tưởng qua đời, bác Tuân già yếu ít đi chơi, Tô Hoài còn đến những quán như quán thịt chó ông Lâm ở chợ Châu Long, quán nem rán bà hàng cửa đình phố Vải Thâm, hàng cháo tiết ở chợ ga Mới, quán phở Thìn hàng Dầu... Ông thường uống bia hơi ở cửa hàng Thủy Tạ, Tôn Đản và quầy bia ở góc hồ Thiền Quang người ta đặt tên là bãi bia Chuồng Cọp. Còn rượu đế ông thường uống ở quán Triệu Việt Vương.


Tô Hoài còn thâm nhập thực tế bằng cách nhận làm đạibiểu tổ dân phố, làm đủ mọi công việc linh tinh, phức tạp để tìm hiểu về đời sống, ý nghĩa, tình cảm của người dân thường...


Đề tài Hà Nội luôn luôn trở đi trở lại trong tác phẩm của Tô Hoài: Vỡ tỉnh, Người ven thành, Chuyện cũ Hà Nội, Quê nhà... Ông viết kỹ, luôn luôn sửa, tỉa bớt chữ cho cô đọng, đảo cú pháp cho gần với cách nói thông thường, nhiều nhận xét hóm hỉnh, sắc sảo, giàu chất tạo hình và chất thơ, nhất là trong những đoạn miêu tả thiên nhiên, cảnh sắc. Có thể nói Tô Hoài là nhà văn đặc sắc và phong phú viết về Hà Nội, ở đó bóng dáng, linh hồn Hà Nội hiện ra rất rõ, rất gợi cảm. Gần ông, có khi đánh máy bản thảo giùm ông, tôi đã học được ông rất nhiều về kinh nghiệm sử dụng chữ nghĩa của một bậc thầy coi tôi như con cháu trong nhà. Những ngày B.52 Mỹ đánh phá Hà Nội, ông, bác Tuân và tôi cùng trực chiến ở thành phố. Ông bảo tôi viết bài phê bình cuốn Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân để ông đăng vào tạp chí Tác phẩm mới do ông phụ trách, bài viết này được bác Tuân nhận xét: "Cậu ấy cũng kỹ tính đấy". Tô Hoài còn động viên tôi viết truyện lịch sử, xét tặng thưởng, viết thư góp ý...


Trả lời một cuộc phỏng vấn, Tô Hoài nói về đề tài và cách viết của ông:


"Cho tới nay tôi đã viết và in hàng trăm đầu sách, và dù nhân vật có là con vật được nhân cách hóa nhưng thật thì tôi cũng chỉ tập trung vào hai đề tài: 1 - Vấn đề và con người vùng ngoại ô thành phố Hà Nội, bởi vì ngoại thành là sinh quán của tôi và cho tới nay tôi vẫn đi về đấy, do vậy, hầu như đó là một đề tài do bẩm sinh. 2 - Trong kháng chiến chống Pháp, tôi đã ở Việt Bắc ngót mười năm, về sau còn đi lại nhiều nữa, nhờ vậy tôi am tường đôi chút về một số dân tộc anh em như Tày, Nùng, Dao, H'Mông... Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng như một quê hương đề tài của tôi. ề tài của tôi chỉ có hai, không nhiều và không phải cái gì cũng viết được. Còn như tôi thường miêu tả phong tục, tập quán thì cũng là một quan niệm cho phương pháp xây dựng truyện và nhân vật của tôi. Tôi cho rằng câu chuyện và nhân vật phải luôn luôn được bao bọc và ảnh hưởng qua lại với phong tục, tập quán, nghề nghiệp và quan hệ từ gia đình ra ngoài xã hội".


Trong Tự truyện, viết:


"Chưa bao giờ tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh, mặc dầu tôi thích đọc những truyện ấy. Bởi lẽ giản dị (...) viết giống cái thật thì nhân vật những ông nhà giàu con quan có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người ấy, không bắt chước được". Vì thế "tôi đã miêu tả tâm trạng của tôi, gia đình tôi, làng tôi, mọi cái của mình, quanh mình. Quê người, Trăng thề, Xóm Giếng ngày xưa. Cả những chuyện loài vật tưởng như xa lạ kia cũng không ngoài cái rộn ràng hay thầm lặng của khu vườn trước cửa".


Tôi nghĩ Tô Hoài không thi vị hóa người ở tầng lớp trên trong xã hội cũ như Khái Hưng, Nhất Linh, nhưng cũng không đem họ biếm họa đến mức gần như quái thai kiểu Vũ Trọng Phụng, hay cường điệu về họ với giọng ngả sang hoạt kê kiểu Nguyễn Công Hoan. Cùng thương người ở tầng lớp dưới, nhưng Tô Hoài thủ thỉ chứ không ồn ào như Nguyên Hồng, hóm hỉnh chứ không tinh quái như Nam Cao, tinh tế chứ không mộc mạc như Ngô Tất Tố, cũng không đề cập đến những biến động xã hội lớn như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng... ông chỉ kể những câu chuyện hàng ngày trong đời sống bình thường của những con người bình thường, không khoa trương, tô vẽ để thu hút người đọc, không phóng đại, dồn ép nhằm hiệu quả giật gân. Cái cười của ông cũng là cái cười nhẹ nhàng, từ tốn chứ không cay độc.


Ông tả cảnh rất giỏi, những cảnh như "Ngựa điên" trongMiền Tây rất sống như tranh, như phim. Tả người đàn bà tắm hong tóc trong Mười năm kín kín hở hở như hư như thực. Có những cách so sánh rất khơi gợi: Trăng vằng vặc như ban ngày, nhìn sướng mắt như thấy người con gái mặc áo lụa (Mười năm), hay tạo hình, tạo thanh: Người phu xe khom lưng xuống, hai khuỷu tay nhô lên như hai cánh chim, mặt đất phẳng lì, những bàn chân vả xuống bạch bạch (Tự truyện). Ông tả chân dung người rất đặc sắc: Lúc u tôi cười nếp nhăn ở đuôi con mắt nheo lại, xếp lên nhau, đến khi hết cười cũng còn hằn những vết rạn khía quanh xuống hai bên gò má (Cỏ dại).


Văn đối thoại của ông vừa bám chặt mà vẫn nhuần nhị trong ngôn ngữ dân gian, vừa tung tẩy mà vẫn khít khao trong ngôn ngữ tâm lý. Ông viết về ngôn ngữ của lớp trẻ, nhất là của những cặp tình nhân thành công hơn Nam Cao. Thí dụ một đoạn đối thoại của Hời và Ngây trong Quê người:


- Này...


- Gì?


- Xem gì hả?


- Xem cúng cầu mát ở chợ Thượng. Có cả hát chèo. Ngây nói chủng chẳng:


- Để liệu. Tôi phải dệt cửi mà.


- Cầu mát những ba ngày ba đêm cơ. Đi xem vào tối hăm mốt. Tối ấy là tối ngày phiên, chắc đi được đấy.


- Đi thì được, nhưng ai biết, ngượng chết.


- Ngượng chó gì. Có đi với tôi đâu mà sợ. Rủ cái Bướm, cái Lụa hay cái Mơ đi một thể cho vui. Lúc nào về, tôi đưa về tận ngõ.


- Ừ... ừ... Ai biết...


- Chẳng ai biết đâu. - Còn phải xin phép thầy.


- Tối ngày phiên thong thả, thế nào thầy chẳng cho đi. Cứ "ừ" một tiếng chắc chắn cho tôi liệu trước. Ừ đi nào.


- Ừ thì ừ.


- Chắc chứ?


- Chắc.


- Tối hăm mốt.


- Ừ, tối hăm mốt.


- Có thế chứ. Tối nào cũng chuyện thì thầm cách rào thế này thì chán ngắt. Mấy lỵ hôm này đi xem phim, tôi sẽ nói rõ tỏ một câu chuyện vui lắm.


Ngây lườm yêu người bạn tình.


- Chỉ được cái thế là nhanh.. Thôi khuya rồi, về đi. Bầm anh ở nhà thức giấc mà không thấy thì chửi cho vỡ xóm.


- Ừ thì về.


- Về ngay đi.


Hời vác gậy lên vai, ngoái cổ lại nói:


- Tối hăm mốt. Nhớ đấy nhá.


- Không nhớ.


Hời lại đứng dừng:


- Ừ thì nhớ.


Ngôn ngữ của người đứng tuổi thì Nam Cao viết thành công hơn Tô Hoài. Thí dụ lời bà mẹ trong Một đám cưới của Nam Cao:


"Thưa ông đã có lòng thương đến cháu mà xét ra như thế này thì thật ông thương quá, thương mọi nhẽ, cái gì ông cũng châm chước đi cho cả, khiến chúng tôi cảm tạ cái bụngông mà lại lấy làm xấu hổ về cách chúng tôi xử lắm. Chúng tôi xử thế này thật quả là không phải, nhưng lạy Giời! lạy Đất! Chúng tôi cũng muốn nghĩ thế nào kia, nhưng ông Giời ông ấy chỉ cho nghĩ đến thế thôi, thì cũng phải rầu lòng mà chịu vậy. May sao mà lại được ông thương, người ta thì còn bảo chín bỏ làm mười, chứ như ông thì thật một bỏ làm mười mà không được một cũng bỏ làm mười. Có vậy thì việc cháu mới xong xuôi được. Giá phải bố vợ như bố vợ nhà khác nhất nhất gì cũng bắt đủ lề lối, thì nhà như nhà chúng tôi lấy gì mà lo được? Ắt là cháu suốt đời không có vợ. Nhưng phúc làm sao lại gặp được ông bố vợ thương con rể như ông thì có phải ông cũng còn thương nhà chúng tôi lắm không?"


Văn Tô Hoài viết kỹ nhưng không cầu kỳ, khó hiểu, giọng văn đặc Việt Nam, giống Nam Cao, không thỉnh thoảng đặt câu theo ngữ pháp Tây như Ngô Tất Tố, cũng không đôi khi lai Tây như Vũ Trọng Phụng. Về dùng chữ dân gian, ông đằm chứ không sóc kiểu Nguyễn Công Hoan. Chất thơ trong truyện ông kín đáo, nhuần nhị chỉ phảng phất như hoa lý chứ không ngào ngạt như hoa đại kiểu Nguyên Hồng. Văn phong ông giống một cô gái quê nền nã, chứ không táo bạo kiểu văn phong Nam Cao.


Tô Hoài còn khác Nam Cao ở chỗ ngón võ của ông kín và thâm. Viết về cảnh của thầy giáo nghèo, Nam Cao viết cả một cuốn tiểu thuyết Sống mòn, nhưng trong Giăng thề, Tô Hoài chỉ đưa ra hai điển hình nhà giáo, Hoạnh và Câu. Ông chấm phá đôi nét về cảnh nhà ông giáo Hoạnh:


"Nhà ông giáo Hoạnh có ba gian. Một gian bên kia có cửa đi vào. Đây là buồng vợ ông giáo, nằm với đứa con nhỏ. Trong ấy còn để đồ đạc quí báu gì nữa thì không biết, vì lúc nào cũng tối om om. Bước vào mùi đất mốc xông lên lạnh rợn người. Gian nữa một cái phản mà chồng vừa làm chỗ ngủ của thằng Biên, cái Giá hoặc của chính nhà giáo... Cómấy ông đồ rau gạch vỡ ngồi ngơ ngác trong mấy đống tàn gio. Vài chiếc nồi treo rải rác ở mấy hốc cột. Dưới mặt đất ẩm, vô khối cóc cụ ngồi châu hầu thỉnh thoảng lại tép lưỡi bắt ruồi. Có một điều lạ. Nhà này vốn là nhà ông giáo Hoạnh. Phải. Vậy mà đố ai bới đâu cho thấy được một cuốn sách hoặc một lọ mực..."


Đồng dao có câu: "Ông thầy có sách, đào ngạch có dao". Nhà một ông thầy mà không có sách có lọ mực thì đủ biết là nghèo đến thế nào. Còn anh giáo Câu cũng không hơn gì, anh phải kiếm thêm tiền bằng cách nuôi đàn gà: "Đàn gà của nhà giáo còn nhiều nữa. Chả thầy Câu có một đàn gà ấp, hai mụ mái đang đẻ, ba chị mái tơ và bốn chú gà trống lớn. Đổ đồng mỗi tháng cũng được ngót hai chục trứng". Câu yêu một cô gái quê chạy chợ tên Miến nhưng vì nghèo không cưới nổi Miến, Miến ra thành phố làm rồi lấy khách. Khi được cái tin ấy, nỗi đau thất tình cũng không làm Câu quên bụng đói:


"Buồn hơn nữa, bụng nhà giáo đã hơi đoi đói. Trong túi còn độ bốn hào. Song không kiếm thấy hàng phở. Đêm đã về khuya. Hai vai áo the của Câu ẩm ướt và lạnh ngắt. Không nghỉ, anh cứ đi bạt mạng ra ngoài thành phố. Từ giờ đến sáng mai bao giờ về đến Hạ Nha thì về. Một mình một bóng đi lủi thủi. Trên đầu có ông giăng đi theo".


Nhẹ nhàng thủ thỉ thế thôi nhưng vẫn chứa sức mạnh nổ phá xã hội cũ đầy bất công áp bức. Vậy mới thật cao tay!


Tôi liên tưởng đến trường hợp Stendhal, ông không giỏi dựng cốt truyện và tính cách nhân vật như Balzac, nhưng lại giỏi nắm bắt tình cảm và tâm lý nhân vật. Stendhal nói: "Tiểu thuyết như một cái mã vĩ mà cái thùng đàn dội lại âm thanh chính là tâm hồn người đọc". Chỉ đi sâu vào tình cảm, khát vọng của nhân vật mà hình ảnh thời đại họ sống hiện lên rất rõ. Roger Nimier viết: "Chính tác giả mà Đỏ và Đenđưa đến nhiều cách đọc khác nhau. Người ta có thể đánh hơi được Stendhal trong đó. Người ta tìm thấy thế kỷ mười chín trong đó, cả thế kỷ bị đặt nằm trên bàn mổ, những nhà quý phái quê mùa, kiêu căng và gay gắt của nó được bày ra và những người đàng hoàng, rực rỡ vẻ tươi vui khỏe khoắn dưới mắt nhà giải phẫu. Cũng còn là một khảo sát về tình yêu, được đẩy tới xa trong những bức tường của xã hội.


Cuốn tiểu thuyết tồn tại, với một hình thức kỳ lạ, đuợc viết thật nhanh bởi một người đã chứa nó trong đầu và cũng không buồn nghĩ tới việc sáng tạo (bởi khi đó người ta bắt chước ai cũng thấy rõ), mà có lẽ chỉ nghĩ đến cách bộc lộ tâm hồn mình.


...Sáng tạo ra lối độc thoại nội tâm, dù không nghĩ tới điều đó, Stendhal đã cho thấy bà De Rênal, Julien Sorel, Hathilde, suy luận, mơ mộng, chạy đuổi theo tư tưởng, say sưa với tinh thần mình, dù khôn hay điên..." (HA nhấn mạnh).


Đoạn văn này gợi ý cho tôi tìm hiểu về phong cách Tô Hoài, ông viết theo hứng chứ không cấu trúc câu chuyện một cách chặt chẽ, viết chạy theo mạch tình cảm của nhân vật nhằm bộc lộ tâm hồn nhân vật, tưởng chừng như lang bang, nhưng mạch văn liên tục từ đầu đến cuối. Tôi nhớ Stendhal có lần bảo Balzac: "Tôi không bao giờ nghĩ đến nghệ thuật viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi không băn khoăn về quy luật". Ông còn nói: "Chắc hẳn chỉ có những tình cảm là thực, song để đạt tới chân lý phải thêm bốn dấu thăng trên những điều diễn tả của tôi". Balzac phải khen ngợi Đỏ và Đen là "một bức tranh năm chục bộ chiều ngang và ba chục bộ chiều cao, một bức tranh được tạo nên bằng sự tinh tế đầy tính chất Hòa Lan". Jean Prévost thì nhận xét: "Nhà văn bẩm sinh này đặt rất đúng mọi vấn đề về động tác và tâm lý, và tỏ vẻ thông thạo mọi khó khăn của nghề viết văn".


Tô Hoài có sự tinh tế trong tác phẩm của mình vì chviết về những cái gì mình quen thuộc, và đã làm đúng như lời của Stendhal: "Viết mỗi ngày một ít, thiên tài hay không cũng vậy" và "Tôi phải lao thân vào đời để tìm hiểu con người bằng kinh nghiệm bản thân". Vũ Ngọc Phan từ năm 1942 đã tiên kiến: "Tô Hoài tỏ ra không giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông", quả là tinh đời.


Hoài Anh


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »