tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19680159
Thơ
23.01.2010
Nhiều tác giả
Thơ nhiều tác giả (3)

Trần Đương


Sinh năm 1944 (Giáp Thân), tại xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Nhiều năm làm việc ở TTX Việt Nam tại Đức..


Tác phẩm: Sầm Sơn, Thơ, 1993;


Dịch và giới thiệu các tập thơ từ tiếng Đức:


                        - Thơ tình Heine (1992);


                        - Tình yêu và Bão táp- Các-Mác (1983).


 


Hồ Nga, xứ cò


            Kính tặng Mẹ


Lại về bát ngát quê Thanh


Thăm vùng cò trắng đất lành Hồ Nga (*)


Cánh cò bay lả bay la


Bay từ ruộng lúa, bay ra cánh đồng.


Hỡi đàn có xứ Tiến Nông


Mình đi ngợp nắng trắng sông cánh cò


Mỗi lùm tre tỏa mặt hồ


Thành quê hương những tổ cò, cò ơi


Đã nghìn năm lẻ, sinh sôi


Hồ Nga cò trắng tung trời vút cao


Dập dìu sáo trúc nôn nao


Lũy tre khuất nẻo mà sao ấm lòng


Cò là bạn tốt nhà nông


Người thương người mở mênh mông bãi cò


Trồng thêm cây, tỏa mặt hồ


Tre xanh iu ấp, tổ cò bình yên


Một bảo tàng lớn thiên nhiên


Hồ Nga ơi, hãy vút lên cánh cò!


Xanh tre, xanh ruộng, xanh hồ


Trắng trời, trắng nước, trắng cò, trắng mây...


Xứ cò thanh bạch là đây...


1988


________


(*) Hồ Nga: thuộc xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa, có hàng vạn con cò đến ở quanh hồ.


 


Bảo Định Giang                


Tên thật là Nguyễn Thanh Danh, sinh năm 1919 (Kỷ Mùi), tại tỉnh Tiền Giang. Tập kết ra Bắc, Phó Chủ tịch Hội LH.VHNT Việt Nam.


                                          *


Tình Tháp Mười


           


Ai ơi, có nhớ Tháp Mười


Về đây tìm lại dấu người xưa, xa...


Sen đồng nay đã nở hoa


Mùi hương đằm thắm cho ta nhớ mình.


Hây hây nắng xế dịu lành


Trăng trầm ngả bóng bờ kênh so hàng


Tình thương đất nước mênh mang


Hồn vui như nắng trải vàng ruộng xanh


Nước phèn trong vắt thủy tinh


Lưng sâu thấy đáy tâm tình nông dân.


Gái trai lưu luyến mùa trăng


Câu hò thêm đậm tinh thần nước non.


Trăm cay nghìn đắng khôn sờn


Lòng người sau trước sắt son một lòng.


 


Bâng khuâng ai có thấu cùng


Còn đây mà lại tưởng chừng đã xa.


Ngày mai Tổ Quốc reo ca


Bờ kênh ruộng lúa có ta bên mình.


                                7- 1948


 


                         ***


 


 Cầm  Giang                      


 Sinh năm 1931 (Tân Mùi), tại Thanh Hóa. Mất năm 1989.


Thơ đã in:


Gió núi biên phòng;


Rừng trắng hoa ban;


Người bản Nà Phiêu;


Nà Phiêu đánh Mỹ.


 


 


  Núi Mường Hung dòng sông Mã


 


Anh là núi Mường Hung


Em là dòng sông Mã


Sông nhiều rêu, niều cá


Núi nhiều thú, nhiều măng


Chiều bóng anh che sông


Sớm mắt em lóng lánh


Sáo cành cây anh thổi vang lanh lảnh


Gió lùa qua miệng anh lại mỉm cười


Rộn lòng em thuyền độc mộc ngược xuôi


Như trăm nỗi băn khoăn khi đến tuổi


Nếu trời làm em sóng nổi


Anh ngả mình ngăn lại lúc phong ba


Em là búp bông trắng


Anh là ngọn lúa vàng


Thi nhau lớn đẹp nương


Tỏa mùi thơm cùng nghe chim hót


Em cứ về nhà trước


Đợi anh ở bên sông


Anh làm no lòng mường


Em làm vui ấm bản


Nếu con gấu giẫm gãy cành bông trắng


Lá lúa anh sẽ cứa đứt chân


Nếu lúa này chuột, khỉ dám đến  ăn


Sợi bông em sẽ bay mù mắt nó


 


Anh là rừng thẳm


Em là suối sâu


Cây rừng anh làm cầu


Bắc ngang lên dòng suối


Hoa sim nở đỏ chói


Soi bóng xuống lòng em


Nếu hùm về, suối em thành thác


Nếu sói về, rừng anh sẽ thành chông


Quyết chẳng chịu đau lòng


Đời chúng ta rừng núi


Suối em phá tan bóng tối


Rừng anh chặn lại bão giông


Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung


Em ngoan chảy thành dòng sông Mã


                                                2- 1953


___________


(*) Mường Hung là tên ngọn núi lớn nhất ở Sơn La- Lai Châu.


 


       Nguyễn 


Sinh năm 1932 (Nhâm Thân), tại Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội..


 


Tam Đảo một mình


                                    Tặng Mai


 


Chiều không em màu tím rất phân vân


cứ dùng dằng bóng ngày không nỡ dứt


mưa cũng tương tư rào rào thảng thốt


nước lòng khe dâng đầy


 


Nắng ngập ngừng lấp ló trong cây


màu nắng quái sao da diết thế


con đường núi như là riêng để


đợi hai người. Kìa lang thang mây


 


Nỗi mong em thành màu tím trên cây


hoa bìm nở. Hoa bìm... em có nhớ?


cái màu hoa leo lan lối ngõ


nơi chúng mình vẫn đứng chờ nhau


 


Ở trên này suốt những đêm thâu


ánh đèn sáng bướm bay về chạm cửa


con bướm thức lẽ nào anh lại ngủ


em cũng thành cánh bướm nhớ... xôn xao


 


Mái nhà tôn và hạt sương nào


vừa rớt xuống một giọt trầm ắng lặng


hoa khép cánh, suối thở dài, đêm nặng


em ở đồng bằng? em ở đâu?


 


                  Vũ Huy Hạnh


 


Tên thật là Vũ đình Hạnh, sinh năm 1946 (Bính Tuất), tại Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Cử nhân Hóa học. Hiện công tác tại Hà Nội.


                                                  *


 


Khóc nàng Tô Thị


                        Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa


             Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...


                                         Ca Dao


 


Chân vừa đặt tới Đồng Đăng


Vội vàng tìm đến hỏi thăm núi Nàng.


Cả vùng đất đá tan hoang


Lò vôi man dại hóa dàn lửa thiêu!


 


Khói bay đục cả trời chiều


Tiếng mìn công phá tình yêu bao đời!


Lò vôi bạc cả tình người


Nỡ đem nung chết những lời ca dao!


 


Ngày xưa giọng mẹ ngọt ngào


Nàng Tô Thị cũng bước vào tiếng ru


Vỗ về giấc ngủ trẻ thơ


Nàng hiền như những cánh cò bay la.


 


Trông chồng hóa đá xót xa


Hồn thiêng vương áng mây sà đầu non.


Bóng người thiếu phụ bồng con


Nghìn năm sừng sững sắt son đợi chờ.


 


Dẫu không thách thức quân thù


Cũng lời đất nước từ xưa vẹn toàn.


Nàng như cột mốc hiên ngang


Lại như đứng đợi người sang bên này!


 


Nàng ơi! Thôi cũng từ đây


Hóa thân lần nữa không ngày gặp nhau


Trời xanh có thấu lời cầu


Xin đưa Nàng tới nơi đâu vĩnh hằng!


 


Biết đem cả núi bạc vàng


Cũng không chuộc lại được Nàng nữa đâu!


Nghìn năm sau, triệu năm sau


Câu thơ truyền kiếp nỗi đau oán hờn!


                                    Hà Nội, 16-9-1991.


 


Nguồn: Rút từ Tiếng Việt, tiếng của thi ca, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thư (Thơ) ngỏ gửi Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ - Lê Thống Nhất 16.06.2017
Múa kiếm hát đáp lại bài Cai Hạ ca - Ngu Cơ 11.06.2017
Cai Hạ ca - Hạng Tịch (Hạng Vũ) 11.06.2017
Hai bài thơ của Minh Đức Hoài Trinh - Minh Đức Hoài Trinh 11.06.2017
2 bài thơ mới của Trần Quang Quý - Trần Quang Quý 09.06.2017
Rồi chúng mình vô nghĩa nhạt phai nhau - Đinh Thị Thu Vân 09.06.2017
Theo chân Lưu, Nguyễn - Phạm Huy Thông 07.06.2017
Can thuyền vua - Phạm Huy Thông 07.06.2017
Gió chiều - Phạm Huy Thông 07.06.2017
Khúc tiêu thiều - Phạm Huy Thông 07.06.2017
xem thêm »