tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518128
Lý luận phê bình văn học
23.01.2010
Hoài Anh
Nguyễn Huy Tưởng, ước mơ xây dựng một cửu trùng đài cho văn học

Có những cuộc gặp gỡ tưởng chừng như định mệnh. Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn tôi gặp trong thời gian ngắn nhất, nhưng sau đó đã để lại ảnh hưởng sâu đậm trong suốt cuộc đời tôi, kể cả về cách sống lẫn hướng viết. Đó là do hai lần gặp gỡ đầu tiên đã để lại ấn tượng đặc biệt, khiến tôi trực nhận ra những gì đã chi phối tính cách, cuộc đời và sáng tác của ông và sau đó lý giải được những nguyên nhân và hậu quả của nó.


Buổi khai mạc Đại hội thành lập Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam năm 1957, ở hội trường 96 phố Huế, Hà Nội, tôi đến sớm, đang ngồi ngơ ngác trên băng ghế vắng hoe, thì một người đàn ông cao lớn, có vẻ trượng phu, bước vào. Có lẽ vì thấy tôi là một thiếu niên, đại biểu nhỏ tuổi nhất của Đại hội, nên ông tiến lại hỏi chuyện. Tôi nhìn thấy ông khuôn mặt nước da trắng nổi lên những đường mạch máu hồng hồng, hàm râu vừa mới cạo chân râu hãy còn xanh, tôi thấydáng ông hiền từ chẳng khác gì cha tôi (sự thực cha tôi còn kém ông hai tuổi), tôi bỗng thấy kính mến ông như người cha đã hy sinh của tôi. Tôi đã nhận ra ông là Nguyễn Huy Tưởng, người mà mình hàng ngưỡng mộ cả về tài, đức. Sau khi hỏi tên tôi, ông bỗng hỏi tôi một câu đột ngột: "Hoài Anh đã yêu bao giờ chưa? Có yêu thì mới viết hay được". Tôi hết sức sửng sốt, không ngờ một người mình coi như bậc trưởng thượng, lại có thể quan tâm đến mặt đời thường và tâm lý con người như thế. Nhưng đến khi nhìn vào đôi mắt đẹp, cái miệng luôn tươi cười, chân mày thỉnh thoảng lại nhướng cao của ông, tôi vụt hiểu: thì ra bên trong cái cốt cách trượng phu của ông có một trái tim nhạy cảm, một tâm hồn đa tình. Nhưng đồng thời ông còn là một người chồng chung thủy, một người cha rất mực yêu thương con, nên chất lãng mạn trong ông chỉ có thể gửi gấm vào sáng tác, trong những nhân vật như Đan Thiềm trong Vũ Như Tô chẳng hạn. Vì thế nên chỉ trong khoảnh khắc, tôi thấy ông cùng toát ra vẻ người cha hiền từ và vẻ người anh từng trải của tâm hồn tôi.


Ít lâu sau, tôi có mặt trong buổi họp bàn việc dàn dựng vở Vũ Như Tô giữa đoàn kịch Sáng Tạo với tác giả. Nguyễn Huy Tưởng nói ông rất chú ý đến valeur spectacle (giá trị cảnh sắc) của sân khấu, trong vở Vũ Như Tô ông đã dựng những cảnh đồ sộ, hoành tráng, như trong hồi thứ tư, xa xa là nửa một thứ "khải hoàn môn", về phía con rồng mà chỉ phần đuôi nó cũng kéo từ nóc đến bực sân khấu, với bức tường đá ong, trên có tượng một kỵ mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm. Phải tạo được chiều sâu của đài với nhiều tầng bệ, mới ăn khớp với lời thoại của Thị Nhiên, vợ Vũ Như Tô: "Cái cổng này cao như núi, nó như nuốt tôi đi không bằng... Mà cái bực đá này nữa, sao mà cao, mà lắm bực thế? Ngã một cái thì chết mất thôi. To quá, cao quá, gió thổi mạnh quá. Tôi chóng mặt lắm, thầy nó ạ. Tôi chịu thôi, cho tôi rakhỏi chỗ này...". Thế mà nhà hát lớn là sân khấu hộp, nhỏ xíu như thế, dựng làm sao được cảnh này. Mà đoàn kịch, nếu muốn dựng thì phải dựng đúng như kịch bản, không được cắt xén, thay đổi, nếu không sẽ phá hỏng effet scènique (hiệu quả sân khấu).


Đạo diễn hứa là có cách giải quyết vấn đề bằng cách phối hợp phong cảnh với thủ thuật ánh sáng. Tạm yên tâm về phương diện cảnh trí, giờ đến chuyện nhân vật. Vũ Như Tô thì không khó cho lắm, vì khi xuất hiện trên sân khấu thì Vũ đã luống tuổi, diễn viên đóng vai này không cần phải trẻ, đẹp, chỉ cần diễn xuất già giặn là đủ. Cái khó nhất là vai Đan Thiềm. Đoàn kịch có hai nữ diễn viên chính là Bích Thanh và Linh Phi. Kể về ngoại hình thì Bích Thanh phù hợp hơn, nhưng chiều sâu nội tâm thì Linh Phi thể hiện đạt hơn, tuy cô tuổi có trẻ hơn so với tuổi của nhân vật (38), nhưng vẻ đẹp của cô có cái gì dữ dội phù hợp với tính chất quyết liệt của Đan Thiềm cũng như hình ảnh lý tưởng của Cái Đẹp mà Vũ Như Tô tôn thờ. Công việc chuẩn bị đến đấy là tạm ổn, nhưng Nguyễn Huy Tưởng vẫn chưa yên tâm, bảo phải tập dượt thật hoàn hảo bao giờ ông xem thấy hài lòng thì hãy đem trình diễn trước khán giả. Chính vì sự quá cẩn thận đó, mà Vũ Như Tô chưa được sống trong ánh sáng tiền trường và hơi ấm khán giả. Lời Thị Nhiên nói trong Vũ Như Tô dường như báo trước một định mệnh: "Thôi thế là đủ, đẹp lắm rồi! Năm năm nữa. Gớm, thầy nó đến là hay vẽ chuyện. Cứ làm nho nhỏ cũng được. Người nghèo thì làm cái nhà bé, nước nhỏ thì xây cái đài nhỏ, ai lại... Đấy, lại làm thầy nó tức. Thầy nó ở lại nhé. Thế là thành tật đấy. Khổ quá". Phó Bảo cũng trách Vũ: "Lại còn cái lệ hạch mình từng li từng tí một, thế này không đẹp, thế kia không đẹp, bẻ hành bẻ tỏi đến là khó chịu". Cái chí làm cái gì cũng muốn làm to, làm đồ sộ, kỹ tính mong đạt được sự hoàn mỹ, và cái nết cả tin anh em, cả tin người, không ngờ họ lại đemlòng oán trách muốn hại mình của Vũ Như Tô, quả thực đã "vận" vào người cha đẻ tinh thần của nó là Nguyễn Huy Tưởng. Như Vũ ngã từ trên Cửu trùng đài xuống mà thành tật, Nguyễn Huy Tưởng cũng đã phải chịu búa rìu dư luận về Vũ Như Tô.


Là một người gần gũi ông từ hồi ấy, sau khi ông qua đời tôi thấy mình có nhiệm vụ nói lại một số điều thay người đã khuất. Các nhà phê bình hồi đó chỉ bám vào quan niệm: công nông binh là lực lượng chủ yếu của cách mạng, trí thức tiểu tư sản là những phần tử bấp bênh cần phải cải tạo, của một thời kỳ nhất định để đánh giá Vũ Như Tô được viết trong giai đoạn trước đó (1942 - 1943) là thời điểm mà bản Đề cương văn hóa của Đảng nêu ra khẩu hiệu: "Dân tộc - Khoa học - Đại chúng", mà Nguyễn Huy Tưởng là một trong những người lãnh đạo Văn hóa cứu quốc có trách nhiệm thực hiện, và phổ biến đường lối ấy sâu rộng trong quần chúng. Chúng ta chỉ nên xét xem Vũ Như Tô đã thực hiện được đường lối đó đến đâu, còn có những thiếu sót gì, không thể tuyệt đối hóa người nông dân trong Vũ Như Tô đồng nhất với lực lượng cách mạng, cũng như áp đặt lý lịch cho Vũ Như Tô thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản vì dưới thời đại phong kiến thế kỷ 15, khái niệm đó chưa có. Người dân phu trong Vũ Như Tô chỉ là công cụ trong tay bọn quan liêu quân phiệt: Trịnh Duy Sản ức vì bị Tương Dực đánh đòn, cấu kết với Nguyễn Hoằng Dụ, ông này lợi dụng việc đem quân đi đánh dẹp quân Trần Cao (đây mới đích thực là những người dân nghèo đói đứng lên chống lại triều đình) mang quân về kinh, xách động dân phu đang uất hận vì phải xây đài khó nhọc, nổi dậy lật đổ Lê Tương Dực, lập vua mới lên ngôi để chúng chuyên quyền thao túng tiếp tục đàn áp những người nông dân nổi dậy để củng cố ngai vàng; nhưng vua mới là Chiêu Tông cũng lại nhu nhược, bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi, tên này lại trở thành bạo chúa mới, đó chẳng qua là "dĩ bạo dịch bạo" (lấy tàn bạo thay cho tàn bạo) mà thôi. Hành động này nằm trong một chuỗi mâu thuẫn giữa nội bộ hàng ngũ phong kiến, nhân dân bị lừa bịp đẩy ra chết thay, sau đó chẳng được hưởng chút quyền lợi nào.


Trước khi có tư tưởng và đường lối của giai cấp công nhân soi sáng, tầng lớp nông dân ở các nước phong kiến phương Đông nói chung còn mang tính chất tự do tản mạn, manh động, nghĩ đến lợi ích hẹp hòi, thiển cận, hơn những cái gì có ý nghĩa cao xa, không thiết thực đến miếng cơm, manh áo của họ. Cũng vì thế mà Ăng-ghen gọi các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm thời xưa là cuộc chiến tranh "bảo vệ bàn thờ và bếp". Ngay khi đã có chủ nghĩa cộng sản dẫn đường, trong giai đoạn đầu của cách mạng, người nông dân vẫn chưa bỏ được những thói quen cố hữu sản sinh từ chế độ phong kiến, nên có những hành động nông nổi, manh động, cũng vì thế mà Lê-nin đã phải nói đến "bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản". Chả lẽ người nông dân thế kỷ 15 lại tiến bộ, sáng suốt hơn người nông dân - và một phần công nhân - đầu thế kỷ 20 hay sao? Còn bảo Vũ Như Tô là trí thức tiểu tư sản, và bảo Vũ đem nghệ thuật thuần túy, nghệ thuật vị nghệ thuật đối lập với quần chúng nhân dân cũng là không đúng. Vũ là người xuất thân từ nông dân, cảnh nhà nghèo khổ, những thợ thuyền mà Vũ sử dụng cũng đều xuất thân từ nông dân như Phó Bảo, Phó Cõi, Phó Toét, Phó Độ... họ là một số trong hàng ngàn, vạn nghệ nhân đã xây tháp, xây đền, tác giả những tượng gỗ tượng đá, những bức chạm nổi ở đình làng, mà sử sách ngày xưa không ghi tên trừ tên một người độc nhất, Tô Phú Vượng được ghi tên do suýt mất đầu vì phạm thượng: dám ngồi lên chiếc ngai vàng mình vừa làm xong! Cũng vì bọn phong kiến coi rẻ tính mạng và tài năng người thợ, nên nghệ thuật kiến trúc nước nhà không phát triển lên được; một nhà kiến trúc tàigiỏi như Nguyễn An mà đến khi bị quân Minh bắt sang Trung Quốc mới được giao đứng ra xây thành Bắc Kinh, việc này sử sách Trung Quốc có ghi rõ, cũng như việc Hồ Nguyên Trừng chế tạo súng thần sang cho Trung Quốc. Từ đường lối Khoa học, phải xét xem có cái gì cản trở khiến nước ta không xây dựng được những công trình kiến trúc đồ sộ như Trung Quốc? Từ đường lối Dân tộc, phải xét xem tính cách của người nông dân Việt Nam xưa như thế nào? Trong Vũ Như Tô, tác giả đã đề cập đến cả hai mặt của vấn đề: Một là vì vua quan coi rẻ thợ nên thợ không hết lòng, hết sức xây dựng, hai là giữa người thợ cũng không đoàn kết với nhau, phá hoại công việc của nhau, dân chúng chỉ nghĩ đến chuyện cơm áo trước mắt, chỉ cần "cơm ba bát, áo ba manh, đói không lo, rét không chết", chỉ muốn "ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn", nên không ủng hộ việc xây đền đài, tốn của mà chẳng có lợi ích gì cho mình.


Lại có hai cách đánh giá từ bên ngoài: Người Tàu "bảo người An Nam chỉ có thể làm được cái đền, cái miếu nhỏ nhỏ bé bé... chứ đài to thì không làm nổi", do thế Vũ Như Tô vì lòng tự hào dân tộc, "dù có vất vả, dù chết đi nữa cũng phải xây xong cái đài này". Thái tử Chiêm Thành bảo người thợ Chiêm: "Mi có biết không? Nước ta hại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê khai khẩn ruộng hoang, cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường". Vì hiểu sâu sắc điều này, nên trong lời đề tựa vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng viết: "Mải vật lộn quên cả đài cao mộng lớn. Công ông cha hay là nỗi thiệt thòi? Ôi khô khan! Ôi gay gắt! Nhưng đừng vội tủi. Sức sống tràn từ ải Bắc đến đồng Nam". Còn về chuyện phê phán Vũ Như Tô đem nghệ thuật phục vụ giai cấp thống trị, thì điều đó cũng phải xét trên nhiều mặt. Vạn lý trường thành xây dựng chết hàng vạn dân phu, nhưng nó lại được coi là kỳ quan của thế giới, tiêu biểu chosức lao động và trí tuệ của con người, trên phi thuyền vũ trụ từ mặt trăng nhìn về trái đất thấy nó rõ nhất, nếu không có tay Tần Thủy Hoàng đứng ra chủ trương thì sao thực hiện nổi? Các nghệ sĩ vĩ đại Léonard de Vinci, Michel-Ange, Phidias, Raphael... nếu không dựa vào bọn quý tộc và nhà thờ, thì sao làm nổi những công trình nghệ thuật tuyệt tác? Chúng ta chỉ nên chấp nhận đó như một thực tế lịch sử, và như cái giá phải trả cho nền văn minh và cho nghệ thuật.


Là người con của một dân tộc mất nước, Nguyễn Huy Tưởng muốn phát động tinh thần tự cường dân tộc chính đáng của mọi người, nhằm chống lại cả hai kẻ thù Nhật, Pháp và bất cứ kẻ ngoại nhân nào âm mưu can thiệp vào nước ta để giành độc lập, bằng cách tìm ra cho hết ưu điểm và cả nhược điểm của dân tộc và hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Nhưng ông vẫn còn cái phân vân của một nghệ sĩ có trách nhiệm biết lo đến tiền đồ xa rộng của đất nước trong tương lai, nên viết tiếp: "Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm".


Nên nhớ rằng thời điểm mà Nguyễn Huy Tưởng viết Vũ Như Tô, vấn đề thái độ của người nghệ sĩ, đối với xã hội, đối với giai cấp thống trị được văn học thế giới đặt ra, càng lúc càng gay gắt. Nhà viết kịch Na Uy Henrik Ibsen viết vở Solness, le Constructeur (Son-nét, nhà xây dựng) kể chuyện Solness từ nhỏ đã mơ ước xây dựng được một công trình kiến trúc vĩ đại, khi trưởng thành, anh đã hoàn thành một tòa giáo đường đồ sộ, nhưng sau khi va chạm với thực tế, anh đã tỉnh mộng và tuyên bố: "Từ nay ta sẽ không xây dựng những ngôi nhà cho Thượng đế ở nữa, mà xây dựng những ngôi nhà thấp sát đất cho những người dân nghèo ở". Sự phá sản của nhà xây dựng Solness bị lôi kéo bởi ý thức ám ảnh cho rằng nghệ thuật của hắn là một cái gì khác, một cái gì cao hơn đời sống của hắn. Hắn thí mạng sống để thửđẩy đời sống đó vươn lên ngang hàng với nghệ thuật. Trong vở kịch cuối cùng của Ibsen, lúc bấy giờ đã lên bảy mươi tuổi, trong vở kịch mà tác giả đã tổng kê đời sống của mình và công việc sáng tạo của mình, nhân vật chính, điêu khắc gia Rubek, đã ý thức được cái bi thảm của cuộc sống ông ta khi ông ta nhận thấy mình đã hy sinh cả cuộc đời cho nghệ thuật. Đến truyện ngắn Tonio Kroger của nhà văn Đức Thomas Mann, nhân vật chính không còn coi định mệnh của hắn, định mệnh nghệ sĩ của hắn, sự tách rời của hắn với đời sống, theo lối của Solness và của Rubek, nghĩa là không coi nó như kết quả của những tương quan được kết hợp một cách trừu tượng, giữa đời sống nói chung và nghệ thuật nói chung, mà như một vấn đề xã hội. Thomas Mann ý thức rằng nghệ sĩ khi chỉ sống cho mình, vẫn còn đại diện cho giai cấp tư sản không ít, do đó truyện ngắn này đã nói lên sự từ khước thật sự quan niệm tư sản về đời sống. Tiếp đó khi chủ nghĩa phát xít đang hoành hành ở châu Âu, thì văn học thế giới lại đặt ra vấn đề: người nghệ sĩ có phục vụ cho giai cấp thống trị hay không cụ thể là có đi với bọn phát xít hay không? Trong Vũ Như Tô, hình ảnh tên bạo chúa Lê Tương Dực cũng mang dáng dấp của Hitler, với bàn tay khủng bố đàn áp cực kỳ trắng trợn và tàn ác. Chỉ trong hoàn cảnh chính trị gay gắt đó, số phận người nghệ sĩ mới đi vào bi kịch không lối thoát. Phải coi Vũ Như Tô như một bi kịch, chứ không phải chính kịch hay anh hùng kịch, mới có thể đánh giá một cách đúng đắn. Mỗi mâu thuẫn xã hội khi mới bùng nổ với rất nhiều xung lực đan chéo nhau, không thể chỉ trong một tác phẩm mà giải quyết được trọn vẹn, thấu đáo. Nhưng nhiệt tình nghệ sĩ là ở chỗ đã kịp thời vạch ra được bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị, qua đó gián tiếp cảnh cáo mọi người về nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, điều đó Nguyễn Huy Tưởng đã làm được. Còn những vấn đề khác thì đòi hỏi phải có thời gian mới cung cấp cho những giải pháp thỏa đáng. Chẳng hạn như vì hăm hở tự cường mà Nguyễn Huy Tưởng nhiều lúc muốn dùng triết lý siêu nhân của Nietzsche để giải quyết vấn đề vậy là không ổn. Nhưng nên nhớ rằng trong thời điểm đó Nietzsche có ảnh hưởng rất lớn trên thế giới, nhất là với những đầu óc quật cường muốn chống lại trật tự, đạo đức tư sản già cỗi suy đồi, nhưng chỉ sùng bái sức mạnh và tin vào luật đào thải những kẻ yếu.


Các nhà phê bình bảo trước Cách mạng, Nguyễn Huy Tưởng chuyên viết đề tài lịch sử là vì muốn tránh né sự kiểm duyệt khe khắt của chính quyền thực dân giai đoạn đó. Cái đó không đúng. Nguyễn Huy Tưởng từ nhỏ đã yêu và hiểu lịch sử, say mê đọc sách về lịch sử. Làng ông là làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội nằm về phía Đông kề gần với Cổ Loa, thủ đô nước ta từ thời Thục An Dương Vương hai thế kỷ trước công nguyên, có nhiều điểm chung với Cổ Loa suốt trong lịch sử phát triển của mình. Những vết tích văn hóa cổ phát hiện ở trên đất Cổ Loa không chỉ riêng cho Cổ Loa mà cả Dục Tú và vùng đất chung quanh. Chẳng hạn các di tích Bãi Mèn, Đồng Vòng thuộc đất liền với Dục Tú. Riêng ở Đình Chàng cũng đã tìm thấy vết tích văn hóa của người Việt Cổ sống cách nay hơn 3500 năm, đó là những công cụ đá, đồ gốm, những thức ăn như xương lợn, xương trâu bò, những hạt trám và cả vỏ trấu. Đến khi Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, đã lấy một cô gái cắt cỏ ở ven thành ngoại Cổ Loa họ Đỗ làm vợ, sau đó Đỗ Thị được vua Ngô ban cho những khoảnh ruộng sát thành Cổ Loa, lấy cây đa làng Dục Tú làm giới hạn, vì vậy mới có câu ngạn ngữ: "Thành Cổ Loa, cây đa Dục Tú".


Hấp thụ không khí lịch sử của quê hương và truyền thống văn hóa của gia tộc, lại cộng tác với báo Tri tân, cái "lò khảo cứu lịch sử" trước 1945, Nguyễn Huy Tưởng đã có một cái vốn tri thức lịch sử đầy đặn, để đưa vào sáng tác. Chẳng hạn cốt truyện An Tư ông rút ra từ một câu chữ hántrong Đại Việt sử ký toàn thư; ông biết đời Trần gọi vua là Quan gia... Có nhà phê bình bảo Nguyễn Mại trong Đêm hội Long Trì không có trong lịch sử. Lầm! Nguyễn Mại là một nhân vật lịch sử có thực, có tài tra án được coi như là "Bao công Việt Nam", có điều trong khi xây dựng nhân vật, Nguyễn Huy Tưởng không chép nguyên mẫu mà có hư cấu thêm để thành nhân vật điển hình có tính cách, tâm lý rõ rệt... mang chất tiểu thuyết, chứ không phải là truyện ký lịch sử. Nhưng quan trọng hơn hết là ông có cảm quan lịch sử nhạy bén, ông đã khai thác những sự kiện nằm ở những khúc quanh của lịch sử trong thời điểm có những biến động dữ dội mượn nó làm phương tiện để phản ánh hiện thực trước mắt. Cột đồng Mã Viện viết về giai đoạn Mã Viện vừa dập tắt được cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhưng vẫn vấp phải sự bất bình phản kháng của nhân dân Lạc Việt. An Tư viết về giai đoạn vua Trần phải dùng chính sách hòa hoãn tạm thời để đủ thì giờ chuẩn bị lực lượng chống quân xâm lược Nguyên Mông. Vũ Như Tô viết về giai đoạn mà mối căm hờn của nhân dân đối với tên bạo chúa Lê Tương Dực đã lên tới cực độ báo hiệu sự sụp đổ của triều đình hủ bại. Đêm hội Long Trì viết về giai đoạn bọn quý tộc phong kiến Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân.. dâm ô trác táng gây đau thương tang tóc cho nhân dân, cũng là "đêm trước" của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn... Do nắm bắt được những mâu thuẫn đã chín mùi trong xã hội đòi hỏi phải giải quyết nên tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng chứa xung đột dữ dội, kịch tính gay gắt nằm trong một bối cảnh rộng lớn.


Cách mạng đã tạo điều kiện cho nhà văn thực hiện khát vọng dựng được những tác phẩm có tầm cỡ cả về dung lượng lẫn tư tưởng. Kịch Bắc Sơn là mối duyên đầu của nhà văn đối với cách mạng, cũng là vở kịch cách mạng thực sự, với những nhân vật cán bộ và quần chúng cách mạng, đã "đuổi xa đi những cái chắp tay vái dài đời Xuân Thu trênsân khấu" như lời nhận xét của Nguyễn Đình Thi. Kịch Những người ở lại dựng trên cái nền hùng tráng của những ngày sôi sục kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội năm 1946 đặt mỗi con người trước sự lựa chọn: ở lại theo giặc hay đi đánh giặc. Nếu như Bắc Sơn và Những người ở lại đã đặt nền móng cho sân khấu cách mạng và kháng chiến, thì Ký sự Cao Lạng viết trong thời kỳ nhà văn tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng, với hình ảnh người Vệ quốc tuổi trẻ và anh chị em dân công miền ngược miền xuôi... lại đặt nền móng cho thể loại ký sự trong kháng chiến chống Pháp.


Sau ngày hòa bình lập lại (1954), ông vẫn tiếp tục đi vào những mũi nhọn của đời sống: Truyện anh Lục viết về Cải cách ruộng đất, Bốn năm sau viết về chiến công xây dựng trong hòa bình của bộ đội và nhân dân ta trên mảnh đất Điện Biên lịch sử, là tác phẩm dài hơi đầu tiên viết về chủ đề lao động, cũng là lần đầu tiên văn học ta xây dựng hình ảnh nhân vật tiêu cực trong nội bộ nhân dân với nhân vật Thống Chế. Tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô và kịch bản phim Lũy hoa, viết về Trung đoàn Thủ đô chiến đấu giam chân địch giữa lòng Hà Nội, để tạo điều kiện cho quân dân ta đủ thì giờ xây dựng chiến khu ở rừng già Việt Bắc. Nếu như trong những tác phẩm trước đây của Nguyễn Huy Tưởng, quần chúng chỉ xuất hiện như một đám đông ồn ào hay còn mờ nhạt, thì trong Sống mãi với Thủ đô và Lũy hoa, hình ảnh con người mới xuất hiện từ nhân dân đã hiện lên bằng đôi nét chấm phá nhưng đã làm nổi bật nét trí dũng và tài hoa, chất quyết liệt và lạc quan của con người Hà Nội được hun đúc qua nghìn năm lịch sử đã bừng sáng lên trong giờ phút thử lửa quyết định sự sống còn của cả dân tộc. Nếu như trong những tác phẩm viết về lịch sử trước đây, Nguyễn Huy Tưởng đã cố gắng đưa chất đời thường vào, thì trong những tác phẩm viết về hiện đại, ông lại cố gắng đưa chất sử thi, hoành tráng vào, coi đó như những đàikỷ niệm chiến công của quân dân ta bằng hình thức văn học. Nhưng dù viết về giai đoạn nào, ông cũng có những trang đằm thắm viết về tình yêu như bông hoa nở trên miệng chiến hào, và về thiên nhiên như một linh hồn sống, cùng cảm nghĩ, cùng chiến đấu bên cạnh con người. Đáng tiếc bệnh tật hiểm nghèo và cái chết đột ngột đã khiến nhà văn phải bỏ dở tác phẩm Sống mãi với Thủ đô, khi viết 700 trang mà mới tả đến ngày thứ hai của cuộc chiến đấu. Một dự án cho công trình sáng tạo đồ sộ - một thứ "Cửu trùng đài" của văn học - làm rạng rỡ cho đất nước như mơ ước của nhà văn, đã không thành! Nhưng tâm huyết của một nhà văn có chí có tài, một con người trung thực và nhân hậu, vẫn còn sống mãi trong lòng người.


HA.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »