tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524935
Lý luận phê bình văn học
20.01.2010
Hoài Anh
Nguyễn Đình Lạp, cây bút lặng lẽ và kiên nhẫn

Khoảng đầu những năm 60, tôi đang ngồi làm việc ở phòng Văn nghệ Sở Văn hóa Hà Nội, thì một phụ nữ trung niên, đẹp người, hiền hậu bước vào. Anh Chu Hà giới thiệu với tôi:


- Chị Bạch Liên, họa sĩ, vợ anh Nguyễn Đình Lạp.


A, anh Nguyễn Đình Lạp thì tôi đã đọc tiểu thuyết Ngoại ô, Ngõ hẻm của anh từ nhỏ. Hồi kháng chiến chống Pháp, nghe tin anh vào bộ đội, phụ trách văn nghệ phòng chính trị đại đoàn 304 ở Liên khu IV, đến năm 1951 anh chuyển từ Quân đội sang sinh hoạt tại Chi hội Văn nghệ Hà Nội, để vận động văn nghệ sĩ trong thành, thời kỳ này anh công tác cùng với anh Chu Hà, nên anh Chu Hà biết rất rõ về anh. Đến năm 1962, anh qua đời vì bệnh rốt rét tại quân y ở Thanh Hóa... Vậy ra đây là chị Lạp đấy ư?


Sau vài câu chuyện mở đầu, tôi nói với chị Bạch Liên:


- Chị đẹp thế này chẳng trách ngày trước anh Lạp thương chị là phải. Chị Bạch Liên cười:


- Chú với anh Chu Hà đây không biết, có lần anh Lạp đã chê tôi xấu đấy!


- Chê như thế nào mới được chứ?


- Hồi tôi công tác ở hội phụ nữ Thanh Hóa, có một bữa anh Lạp về qua nhà gặp đúng lúc tôi đang giằng chiếc chậu trong tay bà chủ nhà, không cho mượn giặt đồ vì đó là chậu riêng dùng cho hai cháu. Tôi thấy anh cau mày. Cho tới bữa cơm anh vẫn không nói gì, vẻ buồn buồn. Bỗng anh nói, giọng trầm trầm: "Hôm nay em không đẹp chút nào?" Tôi vừa ngạc nhiên, vừa tủi thân. Từ xưa có bao giờ anh chê tôi không đẹp đâu. Anh nói tiếp: "Lẽ ra em cứ đưa bà chủ nhà mượn chậu giặt, sau đó nếu em muốn thì đánh trước khi dùng. Em đã xử sự không hay. Lúc đó nom em xấu lắm!".


Đến khi anh mất, trong chiếc ba lô để lại ở viện quân y tôi còn tìm thấy hộp màu và bó bút vẽ mà anh đã gửi tận nội thành cho tôi...


Mọi người yên lặng, lát sau anh Chu Hà nói:


- Anh Lạp là người điềm đạm, hiền hậu, luôn vui vẻ với mọi người, nhưng bên trong anh nghĩ rất sâu sắc và sống có tình, vì vậy anh em ai cũng thương mến anh...


Ngay sau khi nghe chị Bạch Liên và anh Chu Hà kể chuyện về anh Nguyễn Đình Lạp, tôi đã nuôi ý định sẽ viết về anh nhưng chưa có điều kiện. Đến khi vào công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, một bữa đọc tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, thấy có trích đăng nhật ký của nhà văn Nguyễn Đình Lạp. Tôi đọc thấy những đoạn này:


"19.4 - Nằm ở quân y 32 đã 3 ngày - Vẫn sốt liên miên 39, 38,6 độ - Mạch 100 - 106 - May có các đ/c ra giúp luôn, ăn ở, nghỉ lại.


Chân đi run, nghĩ mệt mỏi. Giá có em, em ơi!


Luôn 6 đêm không ngủ - Được cái nằm ở đây là các đ/c chiến sĩ, thương binh cả.


Đời có vui và tin tưởng"


Đọc chữ tin tưởng tôi lại nhớ đến câu "Tờ-rai, Tờ-rai" (tiếng Anh nghĩa là tin tưởng) mà bác Nguyễn Huy Tưởng hồi trước hay nói để động viên mình và anh em. Trước khi anh Lạp qua đời, đã từng gặp gỡ bàn bạc với các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và Nam Cao về công việc của Chi hội Văn nghệ Hà Nội, có thể đến lúc sắp trút hơi thở cuối cùng, anh vẫn còn nhớ đến chữ tin tưởng mà bác Tưởng hay nói...


Nhưng đọc đến đoạn này thì tôi ngạc nhiên:


"17.8.51... Gặp đồng bào niềm nở làng Ái Liên. Nhớ lại 2 kỳ trú quân ở đây 2 năm cũ. Đây, ngày 7.3.50, mình đã được làm lễ kết nạp. Hai đ/c giới thiệu: Hữu và Trần Doãn Tý thì hôm nay được biết tin Tý đã bị Tây bắn chết trong một trận lùng. Thật đáng tiếc! Một thanh niên văn nghệ rất ngoan, cần cù, chịu đựng gian khổ và làm việc vô cùng tích cực".


Hữu thì tôi biết đó là anh Hữu Loan Màu tím hoa sim, hồi đó anh hay ký tên tắt là Hữu. Còn Trần Doãn Tý là ai? Ở báo tôi có một người chữa mo-rát tên là Giang Tân, thỉnh thoảng dịch bài tiếng Pháp lại ký tên Trần Doãn, nghe loáng thoáng hồi kháng chiến chống Pháp anh công tác ở Khu IV. Nhưng theo nhật ký thì Trần Doãn Tý đã chết rồi, mà anh Giang Tân vẫn còn sống. Tôi hỏi anh Giang Tân thì anh nói:


- Chính tôi là Trần Doãn Tý, hồi đó công tác cùng anh Nguyễn Đình Lạp. Hôm tôi cùng đơn vị đi đánh trận Thanh hương, tôi bị Tây đuổi theo sát nút. Chạy đến một bãi cát, tôi bỗng nhớ đến một bài thơ của Victor Hugo kể chuyện một người chạy qua bãi cát bị cát lún dìm chết, vì thế nênngập ngừng không chạy qua. Giá lúc ấy không nhớ đến câu thơ mà cứ chạy ào qua thì đã thoát, không đến nỗi bị Tây bắt. Tây bắt được tôi, đưa về giam ở Huế, rồi sau chuyển về Sài Gòn. Anh em không thấy tôi về, cho là tôi đã hy sinh nên làm lễ truy điệu tôi, do đó anh Lạp tưởng tôi đã chết. Mãi đến ngày giải phóng miền Nam tôi trở về quê, còn thấy gia đình tôi đặt bàn thờ chính tôi...


Sự đời quả éo le, anh Nguyễn Đình Lạp thương tiếc anh Trần Doãn Tý đã chết, trong khi anh Tý còn sống sờ sờ mà anh Lạp thì lại không còn!


Éo le hơn nữa là theo nhà văn Nguyễn Lương Ngọc kể lại thì hồi ở khu IV, anh Nguyễn Đình Lạp đã từng đóng vai... tướng thổ phỉ. Dạo ấy một số cán bộ trong ngành công an đang có mưu đồ chăng bẫy, để bọn phản động "liên tôn chống cộng" trao vũ khí cho kháng chiến, các anh giả tạo ra một chiến khu ngụy ở vùng núi Nưa (thuộc huyện Nông Cống, miền nam Thanh Hóa) để đòi chúng kêu tụi Pháp thả dù súng ống xuống. Mọi việc tạm xong, nhưng phải có một ông tướng để làm thủ lĩnh hoặc chủ trại điều khiển ba quân. Anh em đã chọn Nguyễn Đình Lạp. Với bộ quần áo nhà tướng, với bộ râu quai nón, với cái tẩu thuốc luôn luôn phun khói lên trời, anh quả là ở địa vị đắc thể.


 Không biết địch đã cung cấp mấy lần vũ khí và cung cấp bao nhiêu, song nghe đâu là trên đã không tán thành việc làm đó, tuy có được một chút lời, nhưng đã gây hoang mang trong dân chúng chung quanh và đặt kháng chiến vào một tình thế chính trị không tốt.


 


Và thế là giải tán trận địa, giải tán quân ngũ, ông "tướng" Nguyễn Đình Lạp không trở về Quần Tín nữa mà ra thẳng liên khu III hòa mình với bộ đội của ta đương công tác chiến gian khổ...


Cuộc đời ngắn ngủi, chưa đầy 39 tuổi của anh NguyễnĐình Lạp đã trải qua bao nỗi éo le và ly kỳ, đến nỗi sau khi biết về cuộc đời anh, tôi mới hiểu chất ly kỳ mà người ta thường phàn nàn trong các tiểu thuyết xã hội của Nguyễn Đình Lạp, không phải là không có cơ sở thực tế.


Rất có thể nhân vật ông Ất, tinh thông nho y lý số mà lại ẩn danh trong ngõ hẻm ngoại ô, hết lòng giúp đỡ, bên vực người dân nghèo lao động, cuối cùng lại đứng ra nhận tội giết tên chủ sòng Ba Sự thay cho chị Khuyên; Nguyễn Đình Lạp đã mượn từ hình ảnh ông nội anh, Nguyễn Đình Phúc, một chí sĩ đã tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, và chú ruột anh, đồng chí Nguyễn Phong Sắc, từng là ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, trực tiếp chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc là người tinh thông nho học và tính rất hào hiệp, tính hào hiệp ấy không chỉ ảnh hưởng đến Nguyễn Đình Lạp mà trong nhiều nhân vật anh dựng trong tiểu thuyết cũng có chất hào hiệp, như Sẹo tha thứ cho Nhớn về tội từng giấu mặt để cướp giật tiền của vợ anh, như Tin rộng lượng bỏ qua cho Còi về việc cô trót dại mắc lừa tên Sở Khanh Phả.


Anh Nguyễn Đình Lạp sinh ra và lớn lên ở làng Bạch Mai (nay là phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội) nên anh hiểu biết kỹ càng và sâu sắc về đời sống của người dân lao động nghèo ở một ngoại ô Hà Nội - Ô Cầu Dền, miền Vạn Thái, Bạch Mai. Trong tiểu thuyết Ngoại ô và Ngõ hẻm, anh viết rất tỉ mỉ về những người đồ tể giết lợn thuê, bán bánh dầy bánh giò, bán phở, bán rau, đẩy xe bò, có cả cô đầu và những tay "anh chị" nữa. Anh đã có những trang miêu tả đặc sắc về cảnh chọc tiết lợn, cạo lông làm lòng của anh đồ tể; cảnh giã bánh dầy, giã giò, gói bánh chưng, luộc bánh chưng; cảnh hái rau muống trên sông Tô Lịch; cảnh rang ngô, cảnh cho lợn ăn, cho đến cách pha nước chè xanh, hay cảnh làm giúp nhau, mời nhau ăn uống vui vẻ đầm ấm giữa nhữngngười cùng chung cảnh ngộ, xen với những trang tả cảnh thiên nhiên tươi mát, đậm đà, chứng tỏ anh có biệt tài về miêu tả cảnh sắc của vùng ngoại ô phía Nam Hà Nội. Nhưng quan trọng hơn hết là sự thể hiện tính cách, tâm lý của họ, ở đây Nguyễn Đình Lạp có những thành công đáng kể.


Người dân nghèo, lam lũ vất vả, bản chất vốn hiền lành, nhưng khi bị dồn nén quá thì nỗi uất hận bùng nổ thành hành động, như Khuyên đã dùng con dao mổ lợn của chồng mình để đâm chết Ba Sự, kẻ đã gài bẫy cho chồng mình phải tù để thừa cơ mua chuộc và cưỡng ép mình, hành động của Khuyên có "lô-gích" nội tại của nó khi sự vùng lên của người dân nghèo còn mang tính chất đơn lẻ, manh động, chưa được tập hợp trong lực lượng cách mạng có hàng ngũ, có tổ chức, có sách lược đấu tranh đúng đắn. Cũng như việc Pháo lao cả chiếc xe bò vào Khuyên đã trả thù Khuyên không yêu mình, cũng hoàn toàn có thể hiểu được khi người dân nghèo còn thất học, tăm tối, chưa hiểu nghĩa lý ở đời, chỉ biết phản ứng mù quáng. Việc Nhớn vì muốn cứu vợ con trong cơn bệnh nặng mà phải liều đi cướp giật, cũng chỉ là do cái đói cái nghèo thúc bách. Chính vì thế mà sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã nêu khẩu hiệu: chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.


Do đó tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp đã mang tính hiện thực nghiêm nhặt và đã hé ra khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không chỉ là hiện thực phê phán thông thường.


Nghiêm nhặt là vì trong Ngoại ô và Ngõ hẻm, tác giả đã đưa vào những chi tiết cụ thể, chính xác và đậm nét về những cảnh khám người mang thịt lợn lậu, cảnh mẹ Khuyên chết vì bệnh dịch tả, cảnh bác Vuông và Thịnh kéo đến đánh mụ Táo để bênh vực cô đầu Huệ, cảnh A Quay đánh bả chó đem bán cho hàng thịt, cảnh bác Vuông điên bị đưa vào nhà thương Vôi, cảnh bốc mả cho mẹ Khuyên, cảnh sát phạt nhau trong sòng bạc và bọn lính đến bắt bạc, nhất là cảnhKhuyên "nghiến răng, dùng tất cả sức mạnh của lòng thù ghét, phóng con dao nhọn vào mạng mỡ Sự. Mũi dao đâm rất rát mạnh và rất sâu khiến Sự ngã vật ngay xuống đất như một cây cột. Hăng máu, Khuyên rút dao đâm luôn mấy nhát nữa. Chưa đầy hai phút, Ba Sự đã hết giãy giụa, nằm tắt thở trên vũng máu".


Song những cảnh đó không làm ta thấy rùng rợn hay ghê tởm, bởi vì tác giả đã miêu tả những người nghèo không phải là tội nhân mà chỉ là những nạn nhân đã bị cái xã hội độc ác nham hiểm xô đẩy đến bước đường cùng. Chí Phèo giết Bá Kiến là sự phản ứng vô ý thức của một con người đã mù quáng bị hắn lợi dụng gieo tai vạ cho những người dân lành và thấy mình không thể nào trở lại cuộc đời lương thiện được. Nhưng Khuyên giết Ba Sự là phản ứng có ý thức của một con người căm hờn đến tột độ kẻ phá tan hạnh phúc gia đình mình lại toan làm ô nhục thể xác và nhân phẩm mình. Chị không hối hận về chuyện giết Ba Sự mà chỉ thương đứa con nhỏ dại không ai nuôi nấng chăm sóc khi mình bị tội và khi ông Ất muốn nhận tội thay chị, chị khóc nức nở: "Không, con không dám thế. Con giết người, con phải chịu tội. Đời nào con lại đổ tội cho ông", chứng tỏ chị đã "dám làm, dám chịu" dũng cảm thừa nhận hành động của mình. Đây là chuyện "tức nước vỡ bờ" chứ không phải dại dột, liều lĩnh. Việc Khuyên đâm chết Ba Sự là mức độ phản kháng cao nhất trong tác phẩm, cũng báo hiệu cuộc Cách mạng long trời lở đất của dân tộc sắp sửa nổ ra, và chỉ ba năm sau khi tác phẩm ra đời, đã thực sự nổ ra.


Khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của tác phẩm không chỉ ở chỗ báo hiệu Cách mạng, mà còn ở chỗ diễn tả xúc động và sâu sắc tâm hồn của những con người yêu lao động, yêu nghề nghiệp, thương yêu, giúp đỡ, bênh vực nhau, sẵn sàng tha thứ cho nhau khi bạn trót lầm lỡ, chung nỗi oán hờn trước bất công và tàn ác và can đảm chống lại, chínhnhững phẩm chất ấy của con người lao động, một khi được tổ chức và phát động sẽ trở nên một sức mạnh to lớn không gì ngăn cản nổi, sẽ lật nhào cái chế độ đã gây nên những cảnh bất công tàn ác mà họ phải chịu đựng. Phẩm chất đó vừa do ảnh hưởng của đạo đức dân tộc, vừa mang mầm mống đạo đức của giai cấp vô sản, và những con người lao động này cũng là mầm mống của tương lai.


Trong những phóng sự của Nguyễn Đình Lạp được thực hiện nghiêm túc như những điều tra xã hội học nhưng ngọn bút linh hoạt như máy quay phim, vấn đề giai cấp được đặt ra rõ rệt. Trong Thanh niên trụy lạc, Nguyễn Đình Lạp viết: "Nhưng có lẽ gái giang hồ sinh ra là để nhận cái sứ mệnh: "Mày chỉ là một thứ đồ chơi của đời, mày phải chịu hết, mọi điều thống khổ. Đời mắng, chửi mày, mày, không được cãi; đời đánh vào đầu cổ mày, mày không được khóc; đời vật ngã mày mà phải nằm im, không được động đậy" nên khách làng chơi biết trọng ái tình rất hiếm. Trong một trăm khách làng chơi họa có một người biết yêu. Mà trong một trăm người biết yêu họa có một người có đủ can đảm, nghị lực đứng vững với tình nhân đến hơi thở cuối cùng. Phần còn lại hoặc bị bạn bè trách móc, hoặc bị gia đình bắt buộc, hoặc vì tư tưởng giai cấp kìm kẹp, nên chỉ nửa chừng đã phải xa nhau". Trong Từ ái tình đến hôn nhân nói về nguyên nhân của nạn ế chồng, Nguyễn Đình Lạp viết: "Các cậu ấy cũng chẳng chê xấu, chê tốt gì đâu. Các cậu ấy chỉ tham giàu thôi. Chả tin thì ông nhìn cảnh ông Chánh C... ông Cửu. Con gái hai ông ấy vừa mới nhú lên mà đã vô số các cậu tham, cậu phán xô nhau vào hỏi. Là vì, hai ông ấy giàu. Là vì, các người khác nghèo, nên con gái người ta đành hẩm hiu". Còn nguyên nhân ế vợ:


 


- Tôi nghe hình như ở nhà quê cheo cưới nặng nề quá nên con trai nhà nghèo không thể lo đủ mà lấy vợ, phải thế không ông?


- Cái đó tùy từng làng. Kể thì cũng có làng nặng thật. Nào tiền, nào lợn, nào cau. Nhưng ở làng tôi thì cũng nhẹ thôi. Tất cả tiền lệ và giàu cau vào độ 10, 15 đồng.


- 15 đồng?


- Phải, ấy là chưa kể tiền đút lót các ông lý dịch, hương hội và tuần tráng nếu con gái mình lấy người thiên hạ. Tóm lại tất cả chi phí về lệ làng và chè lá có tới 30 đồng. Tiền dẫn cưới, tiền ăn uống nhà mình không kể.


...Một người cùng đinh một năm nai lung ra làm việc như con lừa, mà còn chưa đủ tiền đóng cái thuế thân thì còn kiếm vào đâu ra nữa".


Ta thấy trong nhiều tác phẩm hiện thực phê phán chỉ nêu lên mâu thuẫn giữa gia đình phong kiến với lớp trẻ Âu hóa, tân thời vẫn mang ý thức hệ tư sản, thì trong tác phẩm của Nguyễn Đình Lạp đã nêu lên mâu thuẫn giữa tầng lớp phong kiến địa chủ và tư sản với những người dân lao động nghèo ở thành thị và nông thôn bắt đầu chịu ảnh hưởng của ý thức hệ vô sản, đó cũng là điểm tiến bộ rõ rệt của Nguyễn Đình Lạp so với nhiều nhà văn đương thời. Việc lên án xã hội phong kiến thực dân của Nguyễn Đình Lạp cũng gay gắt hơn nhiều nhà văn khác. Trong Từ ái tình... đến hôn nhân, Nguyễn Đình Lạp viết: "Biết bao nhiêu kẻ tai to mặt lớn, lặng lẽ dắt vợ mình vào cổng hậu một nhà quyền quý để mong chóng được thăng trật, tăng lương hay được phẩm hàm, chức tước...


Biết bao nhiêu thằng đàn ông vô liêm sỉ tự đàn áp lương tâm, giập tắt lửa ghen để tự hạ mình xuống làm thằng bồi xách "bô" hầu hạ "người ta" trong khi "người ta" nô đùa, ríu rít với vợ mình trên giường...


Thật là bẩn thỉu, vô cùng bẩn thỉu...".


Không chỉ vạch trần âm mưu của thực dân trụy lạc hóathanh niên để bóp nghẹt ý chí phản kháng của họ, Nguyễn Đình Lạp đều quy nguyên nhân các tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc, thuốc phiện; những thảm cảnh như ế chồng, ế vợ, chửa hoang, ngoại tình, vợ cả vợ lẽ, dì ghẻ con chồng, những đứa con hoang, giết chồng... đều do tội ác của xã hội phong kiến thực dân.


Nhưng nếu những nhà văn khác như Trọng Lang trong Hà Nội lầm than, thường miêu tả gái mãi dâm chỉ là những người lao mình theo thú vui vật chất để đánh mất nhân phẩm thì Nguyễn Đình Lạp lại dựng lên hình ảnh của một cô gái giang hồ còn có liêm sỉ: "Vẫn biết đồng tiền là quý, nhưng thưa các anh, nó thật đáng khinh khi, nó làm cho người ta đau đớn nhục nhã. Có lẽ các anh cho em là "mầu". Các anh khinh em là gái "lãng mạn" mà lại còn lên mặt làm kiêu. Tùy các anh. Nhưng, em chưa đến nỗi mất cả lương tâm, chết cả liêm sỉ. Xác thịt em dù thối tha, bẩn thỉu, nhưng em cũng có linh hồn. Cái linh hồn ấy cũng biết giá trị của nó. Em không thể nào chịu khúm núm, nhục nhằn được...".


Chính sự thương yêu trân trọng những người nghèo khổ đã dẫn đường cho Nguyễn Đình Lạp đến với Cách mạng, để ít lâu sau, anh đã thể hiện hình ảnh của những con người nghèo khổ đứng lên giành lại quyền sống và nhân phẩm, trong những phóng sự dài Cảnh Dương chiến đấu và "Thôn Lệ sơn... Song vì điều kiện in ấn lúc ấy khó khăn nên chỉ in tay phổ biến nội bộ, đến nay tác phẩm đã thất lạc chưa tìm lại được. Bản thân tác giả cũng mất sớm chưa kịp viết hết những điều anh ấp ủ... Trong nhật ký còn để lại những dòng nhức nhối: "Bao nhiêu chiến đấu gay gắt và bao nhiêu nguy hiểm đã trải qua - phải cố gắng ghi chép cho thành công - Tác phẩm phải xứng đáng với công tác anh dũng của các đồng chí âm thầm, lặng lẽ mới được". "Lặng lẽ và kiên nhẫn" đó là phương châm theo đuổi suốt đời của Nguyễn Đình Lạp. Kiên nhẫn viết rồi lặng lẽ ra đi, cái công phu kiên nhẫn củaanh chỉ được đền đáp bằng sự lặng lẽ của văn đàn.


Ý nghĩ đó đã thúc đẩy tôi viết những dòng này sau hơn ba mươi năm đắn đo ngần ngại, số năm gần bằng tổng số cuộc đời của nhà văn, cũng là thời gian chị Bạch Liên nuôi hai cháu khôn lớn nên người, hai tác phẩm đúc kết bằng tình yêu của hai anh chị.


 HA.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »