tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525937
Lý luận phê bình văn học
16.01.2010
Hoài Anh
Lê Văn Trương với sự thăng trầm của "triết lý sức mạnh"

Nhiều người cho rằng "triết lý sức mạnh" và kiểu "người hùng" của Lê Văn Trương là chịu ảnh hưởng của Nietzsche. Theo tôi, hai cái đó khác nhau về bản chất. Dưới đây xin trình bày sơ lược về triết học Nietzsche.


Hồi trẻ Nietzsche từng là người sùng bái cuồng nhiệt Schopenhauer, lúc mới đầu đọc "Thế giới coi như là ý chí và biểu tượng", ông thấy cuốn sách này của Schopenhauer dường như là chuyên viết cho ông. Trên căn bản ông tiếp thu bản thể luận ý chí sinh mệnh của Schopenhauer. Ngay từ trong cuốn "Sự ra đời của bi kịch", Nietzsche đã ca ngợi tinh thần của Tửu thần Dionysos "đã biểu hiện ý chí toàn năng dường như ẩn giấu đằng sau nguyên lý cá thể hóa, "sinh mệnh vĩnh hằng" đó tồn tại lâu dài trải qua vạn kiếp ở bờ bên kia của tất cả mọi hiện tượng", tức chia thế giới làm hai phương diện bản thể và hiện tượng, mà đem bản chất của thế giới quy kết làm ý chí tức "sinh mệnh vĩnh hằng". Theo Nietzsche nhìn, ý chí cũng không phải là cái gì khác một thứ xung động sinh mệnh hoặc bản năng, vĩnh hằng. Nhưng ông với chủ nghĩa bi quan của Schopenhauer ngay mới bắt đầu đã có sự chia rẽ ở hai phương diện: đầu tiên, ông tuy thừa nhận có hai thế giới ý chí và hiện tượng, nhưng về nhân sinh quan, ông không chán bỏ thế giới hiện tượng, mà là trong sự đau khổ và hủy diệt của hiện tượng, cá thể, tìm kiếm sự thống nhất hiện thực của bản thể và hiện tượng, đó là đi đến bản thể luận nhất nguyên. Thứ nữa, bản thể luận ý chí sinh mệnh của ông đã gạt bỏ thành phần bi quan chủ nghĩa phủ định, tiêu diệt ý chí sinh mệnh của Schopenhauer, mà rót vào tinh thần khẳng định ý chí sinh mệnh sáng tạo, phấn đấu, tiến công và yêu tha thiết cuộc đời. Đương nhiên ông không phủ nhận nỗi đau và tính bi kịch cố hữu của cuộc đời nhưng dù cho xảy ra nỗi sợ hãi và đau khổ của cá thể hủy diệt, cũng phải thông qua vật lộn và sáng tạo để phú cho thế giới và cuộc đời ý nghĩa mới.


Ở thời kỳ giữa và sau của Nietzsche, thứ bản thể luận ý chí sinh mệnh tích cực tiến thủ này tiến một bước phát triển, hoàn thiện và hình thành bản thể luận "ý chí sức mạnh". Theo Nietzsche, bản chất của thế giới không phải là khách thể vật chất thuần túy tách rời loài người mà tồn tại cô lập, cho nên bản thể luận ý chí sinh mệnh cũng thích dụng với bản chất của con người. Đó cũng là sức sống nội tại của con người. Một lớp hàm nghĩa khác của ý chí sinh mệnh, là đồng thời với việc khẳng định sinh mệnh, cũng khẳng định sinh mệnh trong quá trình phấn đấu tiến lên tất không tránh khỏi đau khổ, mâu thuẫn và sáng tạo. Thái độ của Nietzsche đối với "nguyên lý cá thể hóa" của Schopenhauer là: vận động của ý chí sinh mệnh tuy lấy sự hủy diệt của sinh mệnh cá thể làm cái giá phải trả nhưng sự hủy diệt của sinh mệnh cá thể không phải là sự phủ định ý chí sinh mệnh, mà trái lại không ngừng thúc đẩy sự sinh ra sinh mệnh cá thể mới, dẫn tới sự sinh sôi không ngừng, vĩnh viễn vận hành của sinh mệnh vũ trụ, bởi vậy là sự khẳng định đối với sức mạnh chỉnh thể của sinh mệnh. Căn cứ vào đó, ông cho rằng, khẳng định ý chí sinh mệnh, là phải dũng cảm đón lấy và chiến thắng nguy nan, đau khổ và hy sinh, làm người mạnh trong đời sống. Ông nói: "Bí mật của thành quả lớn nhất và hưởng thụ lớn nhất có được từ sinh tồn là: sống trong cảnh hiểm!" và tiến một bước tuyên bố: "Một tiêu chí quan trọng của tinh thần Tửu thần, là chi phối bản thân anh, khiến bản thân anh kiên cường!". Lớp hàm nghĩa này tiến một bước phát huy, bản thể luận ý chí sinh mệnh liền đi tới bản thể luận "ý chí sức mạnh".


Xuất phát từ bản thể luận ý chí sinh mệnh, sức mạnh của ông, Nietzsche cho rằng nhận thức, lý trí, lô-gích, chân lý v.v... đêu chẳng qua là sản vật của bản năng sinh mệnh và ý chí sức mạnh, là phục tùng bản năng và ý chí sức mạnh và làm công cụ cho nó. Ông nói: "Xung động bảo tồn giống như cái bản năng nhất của con người luôn luôn phát ra làm tình cảm mạnh mẽ của lý trí và tinh thần; xác thịt của sinh mệnh người "là một lý trí lớn", mà lý tính, "tinh thần" chẳng qua là "lý trí nhỏ" của con người nhân đó mà "xác thịt của con người là một thứ công cụ", là "một thứ công cụ nhỏ và đồ chơi nhỏ của lý trí lớn" của con người. Chính là ý chí bảo tồn sinh mệnh và phương thức sinh tồn của xác thịt của con người quyết định và phát sinh ra lý trí và phương thức, thí dụ như lô-gích, là tập quán "đến từ thú ghiền" phi lô-gích, đến từ bản năng của sinh mệnh, đến từ nhu cầu bảo tồn và phát triển của tộc loại mà hình thành. Lại như tư duy, Nietzsche nói: "Đại bộ phận tư duy tự giác đều tất nhiên thuộc vào hoạt động bản năng, thậm chí tư duy triết học cũng là như vậy". Ở đây nhận thức lý tính của con người đã bị hạ xuống làm vật phụ thuộc và công cụ của bản năng phi lý tính, nền móng của nó trái lại, là bản năng sinh mệnh và ý chí sức mạnh. "Bản chất" cao hơn, coi như là mục tiêu dẫn dắt con người siêu việt bản thân, về sau Nietzsche quy nạp là "siêu nhân". Bởi Thượng đế đã chết; và "người là phi động vật và siêu động vật; người thượng đẳng là phi nhân và siêu nhân", người thượng đẳng là "chủ nhân" luôn phân phát hành động, còn người hạ đẳng là "nô lệ", đời sống là "sa ngã, thối nát, mềm yếu".


Nietzsche nói đến bản thể, đó "không phải là cá thể, mà là nhất thể chúng sinh", nói đến sức mạnh của ý chí, chứ không phải là đề cao sức mạnh cơ bắp, cá thể của Nietzsche là phải chấp nhận nguy nan, đau khổ và hy sinh, chứ không phải là cá nhân mạo hiểm xông pha để giành giật lấy tiền bạc bằng bất cứ giá nào, kể cả đi buôn thuốc phiện lậu. Trong Trường đời của Lê Văn Trương, Trọng Khang đánh đập phu, trong Tôi là mẹ, Vĩnh đánh đập và dọa bắn người làm công, trong Sau phút sinh ly, Tuấn đánh những người thợ đóng đồ gỗ để mua lòng bà mẹ của cô gái mà mình yêu. Như vậy nhân vật của Lê Văn Trương vẫn ứng dụng phương pháp làm giàu của giai cấp tư sản và thái độ đối với người lao động của họ, cho rằng "sức mạnh" là phải "tàn nhẫn không biết thương xót". Nietzsche triệt để phủ nhận luân lý, đạo đức của giai cấp tư sản cho đó là luân lý, đạo đức của kẻ nô lệ, hèn yếu, trong khi Lê Văn Trương không lên án toàn bộ giai cấp phong kiến và toàn bộ giai cấp tư sản (những khái niệm ấy là xa lạ trong ý thức tư tưởng Lê Văn Trương) ông muốn đề cao luân lý Nho giáo nhằm phản ứng lại với sự suy đồi đạo lý và phong hóa đương thời do bọn trưởng giả phú hào hợm của và sa đọa (bất kể chúng xuất thân từ tầng lớp nào) gây nên.


Lê Văn Trương không biết phân biệt giữa luân lý đạo đức phong kiến với luân lý đạo đức truyền thống của dân tộc. Ông tỏ ra có thiện cảm với luân lý mang màu sắc phong kiến. Trong Người anh cả, Vượng kể cho các em nghe về quan hệ của cha với người chú làm lý trưởng của họ:


" - Xưa kia, mỗi lần chú lên thăm thầy, thầy vẫn khuyên chú đừng đè nén con em, nhưng tính chú hống hách thế biết làm sao. Tôi nhớ có một lần không biết chú hà hiếp ai, họ lên mách với thầy, thầy viết thư gọi chú lên. Thầy gắt om nhà rồi... không biết chú nói thế nào, thầy bắt chú nằm thầy đánh cho một trận đau lắm. Chú khóc rưng rức, rung cả bộ râu tôm. Tôi cứ nghĩ đến lúc chú nằm dài khóc sướt mướt mà tôi cười nôn ruột. Bộ điệu của chú lúc ấy trông thiểu não và thương hại lắm. Có lẽ vì thấy thế mà thầy dỗ. Và có lẽ cũng vì thế mà thầy không bắt chú từ lý trưởng. Khi về, thầy cho chú cái điếu ống khảm. Từ đấy thì bất cứ đi đâu, chú cũng sai người mang cái điếu ấy đi theo. Thầy vẫn bảo chú tốt, nhưng phải cái tội hống hách xằng, chẳng bù với bác cả, cứ hiền như bụt.


- À thế bác cả có bao giờ mắng chú Lý về tội hống hách không?


- Bác cả hiền như đất ấy, có mắng ai, nhưng chú Lý cũng sợ bác cả lắm. Đi đâu với bác cả, chú ấy không dám mang tráp điếu đi theo. Tôi nhớ năm nào về quê ăn tết bao giờ thầy cũng tạt vào thăm bác cả trước, rồi mới về nhà. Mà chú Lý thì bao giờ cũng đến thăm thầy ngay. Thầy không bao giờ dám ngồi cùng bác cả, cũng như chú Lý không bao giờ dám ngồi cùng giường với thầy. Kể như thế cũng khí quá, nhưng tôi xem sự thủ lễ ấy cũng có chỗ hay. Nó cũng là một đặc điểm của phong tục Á Đông. Nhờ nó mà không bao giờ có sự cãi cọ trong anh em. Trong làng ta, hễ nhà nào có anh chị em cãi nhau là y như người ta nhắc đến sự trên kính dưới nhường của nhà ta. Các chị em dâu cũng ăn ở với nhau như bát nước đầy, và một khi anh em đã như thế thì đời nào các chị em dâu dám cãi nhau. Gia đình lúc nào cũng vui vẻ và cứ êm như ru".


Maurice Maeterlinck chia luân lý làm ba bậc phù hợp với ba trình độ trong lý trí người ta, dưới cùng là lẽ thường thức (le sens commun), giữa là lẽ ngay chính (le bon sens), trên nhất là lẽ huyền diệu (le sens mystique) ba bậc ấy mỗi bậc có một luân lý riêng. Luân lý của lẽ thường thức thì chỉ biết lợi ích trước mắt, biết cái nhân thân mình, ngoài việc ăn uống cư xử hàng ngày, không có hoài vọng gì cao xa cả, bậc này chỉ được khác người là biết giữ mình không phạm tội mà không gây được cho người ta có nhân cách thanh cao. Luân lý của lẽ ngay chính thì ngoài lợi ích thiển cận đã biết đến nghĩa vụ, đã gây được cho người ta một nhân cách cao hơn, biết lo đến những điều cao thượng thuộc về tính tình, về đạo nghĩa. Luân lý của lẽ huyền diệu là luân lý của những anh hùng nghĩa sĩ, của những bậc chính nhân hiền triết, đều là những người thể hiện chân lý phù hợp với đạo làm người, khi cần biết hy sinh thân mình cho nghĩa cả ở đời.


Luân lý trong tiểu thuyết Lê Văn Trương là luân lý của lẽ ngay chính, ngoại trừ một vài truyện như Tôi thân oan cho Phượng, Hận nghìn đời còn mang tính chất lên án lễ giáo khắc nghiệt và thành kiến khốc hại của xã hội phong kiến, còn nói chung vẫn chưa thoát ra khỏi quan niệm luân thường đạo lý cổ truyền. Bà giáo Huy trong Người đàn bà phương Đông, chồng bị nạn, lo phụng dưỡng bố chồng trọn đạo, nuôi con cái nên người, còn đùm bọc cả cho em gái vấp ngã trong tình yêu. Em gái bà đã nhận định: "Nàng cảm mơ hồ thấy rằng mình đã tìm ra được một lý tưởng: cái lý tưởng chỉ làm điều lành của người đàn bà Đông phương, cái lý tưởng xả thân thành nhân. Chị nàng thật suốt đời đã phụng sự cái lý tưởng ấy mà không tự biết. Là con sống cho cha mẹ, là chị sống cho các em, là vợ sống cho chồng, là mẹ sống cho các con, là người sống cho mọi người". Tình cha mẹ đối với con cái thể hiện trong việc Vân trong Tôi là mẹ, sau khi chồng chết, hy sinh, ở vậy nuôi con. Chính vì thương con nên Giao trong Người mẹ tội lỗi mới tha thứ cho tội ngoại tình của của vợ cũng như Phương vì nghĩ đến con đã biết hối hận vì mình đã phản bội tình vợ chồng. Tuấn trong Sau phút sinh ly vì thương vợ con nên đành cắt đứt mối tình với Cẩm. Ngọc Yến trong Đứa cháu đồng bạc tự tử vì thấy mình xấu xa, Wa-Phá trong Những đồng tiền siết máu tự tử vì thấy mình đã ô uế, Cô Tư Thung trong tiểu thuyết cùng tên tự tử vì thấy mình đã phụ bạc, không xứng đáng với mối tình cao thượng và thủy chung của người yêu. Tình anh em thể hiện trong việc Vượng trong Người anh cả, sau khi cha chết đã bỏ học, làm việc cật lực, hy sinh tất cả mọi vui thú cá nhân, để nuôi các em ăn học thành tài, đỗ đạt, có địa vị trong xã hội. Tình bè bạn thể hiện trong việc Phùng trong Một người khuyên Linh rời bỏ con đường trụy lạc, để tu tỉnh làm người chân chính, có lý tưởng.


Ý nghĩa và giá trị của những con người trong tiểu thuyết của Lê Văn Trương là ở chỗ trọng danh dự và phẩm cách làm người và không lợi dụng làm thiệt hại xúc phạm đến danh dự, quyền lợi của người khác. Huân trong Ao tù trưởng giả biết vợ chồng Hường Bùi gán con gái chửa hoang cho mình làm vợ, dù nghèo nhưng không vì tiền bạc mà cam chịu nhục, đã đem sự thẳng thắn và cao thượng để đối phó với hèn hạ và tội lỗi. An trong Một lương tâm trong gió lốc vì nghèo phải đi dạy học tư ở nhà bà Hàn Huỳnh bị người đàn bà dâm ô này lôi cuốn vào tội lỗi nhơ nhớp đã hết sức phấn đấu thoát ra để giữ lấy lương tâm trong sạch. Vân trong Cánh sen trong bùn thoát khỏi cảnh làm gái điếm thượng lưu tìm đến với Cung, một nhà văn để có được một tình yêu chân thật nhưng không dám nhận làm vợ chính thức của Cung vì sợ quá khứ của mình làm hại cho danh dự của người mà nàng thật sự kính yêu, tận tụy. Nhưng đây không phải là những người khắc kỷ, khổ hạnh, sống một cuộc đời thanh cao, xa lánh những thú vui phàm trần hay chỉ biết chuộng những thú vui tinh thần. Vượng trong Người anh cả tránh không xuống phố hát cô đầu, không phải vì "đạo đức" mà chỉ vì còn phải lo cho các em. Sau khi đã tròn bổn phận thì đi hát và không ngần ngại lấy vợ cô đầu.


Cô giáo Phúc trong Cô giáo tỉnh lỵ, tạm quên mối tình trắc trở của mình, lo cấp giấy bút cho học trò nghèo, phát tiền cho ăn mày, đi thăm nhà thương, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần con người nghèo khó.


"Dân Moncay, từ giai cấp thầy trụt xuống giai cấp thợ, gia đình nào có cơ hội làm quen, nàng không bỏ qua. Bước chân của người yêu đời đến đâu làm vỡ luống đất và khai hoa kết quả. Nàng đến ngưỡng cửa nhà nào, lúc ra cũng để lại một vài tư tưởng vị tha. Nàng mở thêm một lớp dạy thêu thùa cho con cái các công chức tư gia trong tỉnh. Mỗi tuần lễ một ngày.


Đời nàng cuốn tròn trong sự phụng sự lý tưởng "ái nhân như kỷ". Nàng khóc những cái tang bất hạnh và hoan lạc với tất cả hoan lạc của mọi gia đình quen biết".


Chí trong Trận đời còn có một kế hoạch to lớn hơn, chàng nói với bà con nông dân xứ Bắc khẩn hoang tại một vùng đất Campuchia - khi mà Đông Dương thuộc Pháp là một xứ gồm có năm "kỳ" trước Cách mạng tháng Tám 1945:


"Tôi sẽ mộ thật nhiều người vào đây; tôi sẽ lập ra từng xóm, mỗi xóm tôi sẽ pháp cho một số ruộng với một cái tracteur (máy kéo) đủ để làm cái số ruộng ấy cho có lời.


Tôi cử một người đại biểu trông nom.


Muốn thế, anh em phải có cái tinh thần đoàn kết, hiểu rõ rằng: "Mọi người làm để cho tất cả, tất cả làm để cho mỗi người" thì cái chương trình của tôi mới thực hiện được.


Chúng ta phải biết lợi dụng sự tiến bộ của khoa học, chứ làm theo cái lối người mình nào được bao nhiêu! Tôi mong mỏi cho mỗi gia đình vào làm ăn với tôi có một cái nhà ngói xinh xinh, một chuồng trâu bò, một chuồng lợn, một chuồng gà, một vườn cây, một vườn rau, một vựa lúa lúc nào cũng đầy. Tôi có thể mở một Sở Canh nông tư ở đây để thí nghiệm, để tính toán, để đầu tư, để tìm tòi những phương pháp có lời. Tôi sẽ mở một trường học, một nhà thương, tôi sẽ lập riêng ra một tỉnh thành miền Bắc".


Trong bài tựa tiểu thuyết Một người Lê Văn Trương viết: "Tình trạng hỗn độn của xã hội Việt Nam hiện tại ủ trong lòng nó một hiểm tượng.


Một phần đông thanh niên, bị văn minh vật chất cám dỗ, bị giáo dục gia đình kìm kẹp trong lý tưởng vinh thân, bị thành kiến hủ bại của xã hội đúc theo khuôn trưởng giả, đã nhãng quên cả khí làm trai, thiên chức của tuổi trẻ và danh dự làm người.


Lăn lóc mãi trong vực thẳm của khoái lạc đê hèn, ngụp lặn mãi trong bùn nhơ của phồn hoa hỗn tạp, cắm cúi theo mãi vết chân đẫm máu của "con bò vàng", họ đã đàn áp hết lương năng, giày xéo lên tất cả những tình cảm thiêng liêng của cõi lòng.


Đối với họ, tổ quốc là một ngụy ảnh, nghệ thuật là một hư ngôn, danh dự là một phiếm ngữ, tình yêu là một vô ý nghĩa, tình bạn là một cái xơ mướp.


Họ chỉ còn tận tụy thờ một thần tượng: thần khoái lạc; họ chỉ còn tin một luân lý: tìm khoái lạc, họ chỉ còn nghe một mệnh lệnh: hưởng khoái lạc; họ chỉ còn theo một châm ngôn: giày xéo lên tất cả để tìm và hưởng khoái lạc.


Tiểu thuyết Một người này viết ra để ghi cuộc cách mệnh tinh thần của một bạn trẻ đã bị quyến rũ bởi những luân lý, mệnh lệnh, thành kiến lầm lạc và khốc hại ấy.


Vai chính của truyện là một thanh niên trụy lạc, trong một phút giác ngộ phi thường đã hoàn toàn khôi phục được thiên lương bị hoàn cảnh làm lung lạc, đã can đảm từ chối những vinh hoa phú quý hèn hạ để dựng lại một cuộc đời tinh thần đầy danh dự.


Đây là hình ảnh một cuộc đời niên thiếu đầy ánh sáng, đầy chiến đấu, đầy tình cảm thanh cao, đau khổ mà vẫn nỗ lực tiến thủ, thất bại mà vẫn tin ở đắc thắng, hoàn toàn hy sinh cho Nghệ thuật và Tổ quốc, gạch nó ra trên mặt giấy, tôi chỉ tha thiết ước ao tất cả mọi người đều thâm tín rằng cái sinh lực súc tích linh thiêng của giống nòi sẽ có thể khôi phục được trong tâm hồn bạn trẻ, cái thiên lương, và nhất là cái khí phách làm người mà những hỗn độn của thế tình chỉ làm mờ ám trong chốc lát chứ không thể làm tiêu diệt được".


Dù đầy tâm huyết, nhưng đó chỉ là những lời kêu gọi lý tưởng, bởi làm sao thực hiện được nếu không đi theo con đường đấu tranh cách mạng. Đến tiểu thuyết Ông Hoàng một đêm viết năm 1953, có lẽ chịu ảnh hưởng của cách mạng và kháng chiến chống Pháp mà Lê Văn Trương có tham gia một thời gian, ông đã viết về xã hội thực dân "Tôi vụt thấy xã hội này xây dựng trên một nền tảng bất công và xấu xa lắm. Phải phá bỏ đi để xây dựng trên một nền tảng khác. Tôi nhủ tôi, bắt đầu từ bây giờ, phải nghĩ khác người ta, làm khác người ta, chứ không theo đuôi nữa". Đến cuối đời, Lê Văn Trương càng nhận rõ điều này khi nhìn lại quãng đời đã qua của mình. Trong Người anh hùng Chín Núi (di cảo, chưa xuất bản) ông mượn lời một nhân vật nói: "Tôi vì không bao giờ có thể quan niệm một cuộc đời công chức, đem tài lực giúp kẻ thống trị nên dù tôi nể gia đình đến mấy tôi cũng chỉ có thể cố gắng làm với họ được gần ba tháng. Rồi thì tôi tìm cách "thu xếp" để thực dân cho tôi về vườn. Thanh niên chúng tôi trong cái thời Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính mang nặng một tâm sự buồn thảm về cảnh đất nước lầm than tuy không đủ một lá gan liệt sĩ để được "về thần" ở đoạn đầu đài như các ngài, nhưng chúng tôi đều biết đau cái nhục vong nô, và coi là một điều đáng bỉ sự cộng tác với kẻ thù: Chúng tôi hết sức tránh những cơ hội gần gũi. Và hẳn rằng chúng tôi coi khinh những kẻ đã nhận lợi lộc và danh vọng ở họ.


Vì đã sẵn có trong lòng những ý chí bất khuất, cho nên dù có bỏ công sở về làm vườn hay đi buôn, chúng tôi đều có thái độ khác thường, một lối xử thế đặc biệt. Chúng tôi có mưu lợi, nhưng không màng tới những thứ bất nhân bất nghĩa, hoặc hèn mạt bẩn thỉu để có thể hại cho danh dự con người và thanh thế nòi giống.


Chúng tôi định theo đuổi mục đích gì đây về ngày mai? Chúng tôi cũng chẳng rõ. Chúng tôi chỉ mang máng rằng phải có.


... Vì cố tránh cuộc giao thiệp với bọn thực dân cùng sự dòm ngó của bọn Việt gian bán nước, chúng hay kiếm chuyện để lập công, tôi sang Cam-Pốt, tôi làm ruộng, tôi đi buôn. Buôn công khai và cả buôn bí mật.


Lúc đó tôi đang trong cái tuổi 26,27 đầy niềm tin về tài lực mình. Và tôi có một kiêu hãnh rất lớn về sự sống khác đời lạ kiểu của tôi. Tôi chỉ nghe theo cái tiếng gọi bên trong mà hành động, bất chấp mọi dư luận của thế nhân mà tôi cho họ khôn quá hóa hèn... Bởi vậy, tôi cứ hùng hục cắm đầu trên đường ý tưởng, không chệch một ly.


Huống hồ từ bao lâu nay nhìn thấy những gương tiết liệt của bao nhà cách mạng, tôi đã cảm biết cuộc sống đáng kể chỉ là những cuộc sống mà người ta đã dám sống theo ý mình. Mặc dầu cái ý mình ấy có thể đưa đến tù đày máy chém.


Trong buổi truân chuyên của quốc gia đã có bao tráng sĩ chỉ biết có ý mình mà không biết có máy chém thực dân. Lại nữa tôi nghĩ thanh niên chỉ có một thời để sống thì phải sống thẳng ngay và hùng liệt. Thế thì hà cớ gì tôi phải kiêng kỵ thứ này thứ khác, sợ hãi điều nọ tiếng kia. Tôi tự nhủ tôi phải như chiếc lưỡi cày chân lý mà kéo thẳng băng. Đụng đâu tan vỡ đấy, mãi về sau tôi mới nhận rõ hành động liều lĩnh thế là lầm; tôi đem đại sự của quốc gia chủng tộc đặt thẳng vào trong lối bụi rậm của cuộc sống hàng ngày".


Cuối cùng rút ra một bài học: "mạnh ở bắp thịt mà hèn ở tâm tư thì cũng chẳng có gì đáng quý". Đó cũng là sự tổng kết sau khi "một đời nhìn lại".


Trong bài phiếm luận Miệng kẻ sĩ ký tên Cô Lý, Lê Văn Trương ca ngợi một nhà báo đứng lên chống chế độ Ngô Đình Diệm: "Anh Tống Ngọc, tôi thật không cần biết anh là ai, tôi chỉ muốn nhớ, con cháu tôi nhớ, mọi người nhớ là anh đã dám nói một câu kiêu hùng, chẳng những nó là cả một thành kính để chiêm bái người xưa, nhắc nhở cho đời cái công cao dầy của người liệt sĩ, mà anh lại còn như ném một hòn sành vào cái chế độ bạo tàn của Diệm - Nhu.


... Với một lời nói như thế, anh như ngỏ cho toàn dân biết rằng: anh bất chấp quyền uy, bất chấp tra tấn, bất chấp bè lũ giặc cướp nó dám xưng mạo là một chính phủ nhân vị.


... Ông Công tố viện này vì địa vị cơm áo phải vâng theo mệnh lệnh của bạo tàn, nhưng chính vì cảm thấy một bất công to lớn mới không thể đừng được thốt lên khi quan tòa tuyên án anh:


- Thôi được làm vua, thua làm giặc.


... Đã chẳng chịu cúi đầu trước áp bách, mềm lưng trước quyền uy, và bất chấp mọi đe dọa, anh đứng lên lừng lững như tượng hình của người chiến sĩ vô hối và vô úy, thân người cao, con mắt sáng. Rồi dựa lưng vào cái truyền thống bất khuất của giống nòi, lại biết học ở những tuấn kiệt xưa cái bài học nguy nga của thất bại nó dám nhận thất bại để làm bạn đồng hành, anh đã ngạo nghễ buông xuống cái ao ếch cả một hòn đá tảng.


- Sao lại thua làm giặc! Cách mạng thì thua phải làm Nguyễn Thái Học chứ!


Anh Tống Ngọc, anh đã rửa đi cho đất nước một phần nào những dơ dáy gây nên bởi bọn chủ báo lái giấy và lũ bồi bút, đầy tớ chúng.


Anh lại còn cho chúng tôi một bài học đích đáng để làm người".


Đoạn này có thể là đoạn kết đích thực của tiểu thuyết Một người. Con thiên lý mã ấy từng nhảy qua Ao tù trưởng giả, phi nhanh đuổi bắt một lương tâm trong gió lốc, vẫn không vượt nổi dốc vật chất, nhưng trước khi quỵ vó, có thể nói đã hí lên được một tiếng hào hùng.


H.A.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »