tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078071
Truyện ngắn
19.12.2009
Hoài Anh
Cửa sông nước

Tinh Thiều để ý quan sát kỹ tòa thành Long Biên([1]) của bọn đô hộ nhà Lương. Phía trong là một dãy nhà xây gạch vồ, rui mè kèo cột đều bằng gỗ lim, sứa, táu lấy ở rừng Sặt về, đằng sau là kho quân khí từ bên Tàu đưa sang và kho lương thực vơ vét từ khắp vùng trên đất Giao Châu mang về chất đầy, đủ cho quân sĩ ăn hàng năm, chuồng ngựa và đụn rơm tươi, cỏ khô để nuôi ngựa. Ở phía ngoài là tường thành bằng đá ong lấy từ Lục Ngạn về, chân tường đổ đá hộc vững chắc. Sau lưng là một dãy đồi núi trùng điệp.


Tinh Thiều vốn quê ở huyện Tống Bình([2]), học hành giỏi giang văn hay chữ tốt, nhưng vì cha mẹ mất sớm, cảnh nhà nghèo túng nên phải đến thành Long Biên xin một việc làm để kiếm sống. Viên trưởng sử thấy Tinh Thiều không chịu đút lót cho hắn, nên chỉ cho làm chân canh cổng thành. Tạm nán lại một thời gian sau khi nắm vững địa thế, cách bố trí đồn trại, kho tàng và đường đi lối lại trong thành, chàng bỏ về quê.


Đường về, Tinh Thiều phải qua nhiều cánh rừng um tùm, ẩm thấp, có khí độc, những đầm lầy, có chỗ đất còn để lại dấu chân voi rừng và thú dữ. Hết rừng Sặt ở Trang Liệt, rừng Báng ở Đình Bảng, rừng Đa ở Du Lâm đến rừng Dâu Da ở Gia Lâm. Tới chỗ sông Đuống gặp sông Nhị, chàng liền đi theo đê sông Nhị đến cửa sông Tô Lịch ở cống Hương Bài. Ở đây, sông Tô Lịch đi từ Chợ Gạo chảy theo hướng đông tây đến chùa Cầu Đông, chếch lên phía Bắc, qua Thụy Chương đến chỗ Hồ Khẩu là cửa thoát nước từ Hồ Tây vào sông, rồi chảy theo hướng đông tây đến Yên Thái gần chợ Bưởi. Sau khi gặp con sông Thiên Phù từ Già La([3]) xuống, sông Tô quặt về nam đến Thượng Yên Quyết([4]) gặp sông Kim Ngưu chảy qua cầu Dừa([5]) đi vào đầm Sét. Còn sông Tô chảy vòng vèo qua nhiều làng thuộc huyện Thanh Đàm([6]) đến Đông Phù([7]) thì chuyển sang phía tây rồi nhập vào sông Từ Liêm([8]) ở làng Hà Liễu.


Với con mắt của một người am tường môn địa lý, chàng thấy sông Nhị từ nam lên bắc, khác nào một cành cây, nhựa chảy rào rạt, trên cành nở một đóa hoa khổng lồ, Hồ Tây là bầu nhị, huyện lỵ Tống Bình và xóm làng là tua phấn, vòng cánh mở ra đến sông Đuống, sông Từ Liêm, sông Cà Lồ, sông Tô.


Huyện Tống Bình ở giữa đồng bằng rộng nhất của Giao Châu, đúng chỗ mà con sông Cái từ đây bắc chảy xuống đông nam, chuyển sang hướng chính nam ở chỗ mà sông Lục đầu đi gần phía tây nhất. Các núi miền bắc xòe ra như những nan quạt thì nhài quạt đúng là Tống Bình. Tống Bình ở giữa vùng bán nguyệt các núi Viên Nam, Tản Viên, Tam Đảo, Pha Sơn. Sau vòng bán nguyệt ấy là vùng núi cực bắc, núi rừng trùng trùng điệp điệp bao la. Sau lưng Tống Bình là dải đất bằng hơi cao, sát vào núi. Trước mặt Tống Bình là đồng bằng phẳng lì, đến mãi bể Đông, đúng là có cái thế “sơn nghinh thủy tụ”.


Trên sông Tô những con thuyền buồm trắng, hai mái chèo thon thon, như đàn bướm bay qua bay lại. Trên bến, thuyền khắp nơi qua lại nhộn nhịp, có tiếng hát từ dưới thuyền vẳng lên:


Nước sông Tô vừa trong vừa mát


Em dừng thuyền đỗ sát thuyền anh


Dừng chèo muốn hỏi tâm tình


Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu


Tinh Thiều nhìn xuống sông thấy trong một khoang thuyền có một cô gái khăn nhiễu xanh, yếm đào, cất tiếng hát:


Bao giờ lở núi Tản Viên


Cạn sông Tô Lịch chẳng quên nghĩa người


Nghĩa này em để trong cơi


Nắp này đậy lại để nơi em nằm


Lát sau cô gái bỏ thuyền lên bờ. Thấy cô tay cắp thúng đi vung vẩy, nhan sắc mặn mòi, chàng để ý theo dõi thấy cô đi một quãng rồi rẽ vào một ngõ xóm trong thôn Cổ Lương. Chàng quyết định dừng chân lại, làm một ngôi nhà tranh trên bãi đất hoang ở bờ sông. Hỏi dò dân làng được biết cô gái chàng gặp bữa trước tên là Cúc, vì mẹ già nên nàng phải đi bán trầu chợ xa để kiếm tiền nuôi mẹ. Chàng liền nhờ người làm mối, bà mẹ thấy chàng văn hay chữ tốt nên vui lòng gả con gái cho chàng, nàng nhớ đến câu hát: “Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút cái nghiên anh đồ” nên cũng thuận tình kết duyên với chàng. Chàng dốc hết lưng vốn sắm cho nàng một gánh hàng xén đủ các mặt hàng: quế, hồi, bồ kết, hùng hoàng, phèn chua, nhang thơm, lược thưa, ống điếu, phẩm hồng, phẩm lục, phẩm xanh, bút nghiên, giấy bản, mực tàu để nàng gánh ra chợ Cầu Đông bán. Thỉnh thoảng chàng vẽ những bức tranh dân gian như rồng phượng, trúc xanh, cánh diều và phong cảnh trên giấy dó để vợ mang đi bán. Ngày Tết chàng lại ra chợ ngồi viết câu đối tết cho bà con. Thấy chữ chàng đẹp như phượng múa, rồng bay ai cũng tấm tắc khen, rủ nhau đến thuê viết. Ngày thường chàng lại viết đơn, từ, văn tự giúp cho dân làng nên cũng tạm đủ chi dùng.


Năm Nhâm Tuất([9]), chàng được tin Lý Bí người ở Long Hưng([10]) phất cờ khởi nghĩa. Nguyên Lý Bí là con độc nhất của ông Lý Toản, trưởng bộ lạc và bà Lê Thị Oánh, người Ái Châu. Từ nhỏ Lý Bí đã tỏ rõ là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ qua đời. Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột. Một hôm có một vị Pháp Tổ thiền sư đi qua trông thấy Lý Bí khôi ngô tuấn tú, liền xin Lý Bí về chùa Linh Bảo nuôi dạy. Qua hơn mười năm đọc sách chuyên cần, lại được vị thiền sư ra công chỉ bảo, Lý Bí trở thành người học rộng hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn võ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương. Có thời kỳ Lý Bí ra làm quan cho nhà Lương nhận chức giám quân ở Cửu Đức thuộc Đức Châu([11]), nhưng do bất bình với bọn đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan về quê, chiêu binh mãi mã, chống lại chính quyền đô hộ.


Tù trưởng ở Chu Diên([12]) là Triệu Túc, cùng con là Triệu Chí Thành, Triệu Quang Phục mến tài Lý Bí đã đem quân nhập với đội quân của ông. Ở thôn Văn, xã Quang Liệt có Phạm Tu một đô vật giỏi được gọi là Đô Tu, năm ấy đã sáu mươi tuổi, nhưng sức vóc còn khỏe mạnh, thường ngày còn đánh trâu ra đồng cày được vài sào ruộng. Bô lão Phạm Tu tài cao đức lớn rất có uy tín với dân làng. Cụ họp dân bàn việc khởi nghĩa, trai làng nô nức gia nhập nghĩa quân. Phạm Tu tự làm tướng, đem đội nghĩa binh làng Quang và các làng quanh vùng theo giúp Lý Bí. Hào kiệt khắp nơi như Lý Phục Man ở làng Giá([13]), anh em Trương Hống, Trương Hát ở vùng sông Cầu, ba anh em Trịnh Chính, Trịnh Trí và con gái là Quốc Nương ở thôn Thượng Đồng([14]) cũng đến tụ nghĩa.


Lý Bí đang nghỉ trưa thì quân canh vào báo có người đến xin gia nhập nghĩa quân. Ông lật đật ra đón, thấy người mới đến là một thư sinh trói gà không chặt lại đi tay không bèn hỏi:


- Túc hạ thiện dụng thứ binh khí gì?


Tinh Thiều nói:


- Bẩm minh công, kẻ tiểu sinh này chỉ thiện dụng một cây bút lông.


Lý Bí cau mày nói:


- Túc hạ có lòng đến đây ta rất quý, hiềm vì ta đã đủ người làm chân thư ký rồi.


Tinh Thiều mỉm cười:


- Tiểu sinh đến đây không phải để xin làm thư ký, mà để dâng thành Long Biên cho ngài.


Lý Bí trố mắt ngạc nhiên:


- Túc hạ nói sao?


- Tiểu sinh xin hiến ngài một kế khiến ngài không tốn một mũi tên mà lấy được thành Long Biên.


- Túc hạ nói rõ hơn xem nào?


- Bẩm minh công, tiểu nhân đã từng làm chân canh cổng thành Long Biên nên địa thế trong thành đã nắm vững như lòng bàn tay. Bốn mặt thành bố trí rất nghiêm ngặt, chỉ ở góc thành phía tây có một chỗ gọi là Cổng Đục, chúng đục tường thành ra để đưa xác người bị chúng hành hình đi chôn cất để khỏi làm kinh động công chúng, chỗ đó chỉ có một cánh cổng gỗ. Nếu ngài cho một đội cảm tử mang theo chất dẫn hỏa, lọt qua Cổng Đục vào trong thành, phóng hỏa đốt kho lương thực của chúng rồi rút êm ra ngoài. Giữa lúc đó, ngài tung quân đã mai phục sẵn, xuất kỳ bất ý bao vây bốn mặt thành thật chặt. Giặc thiếu lương ăn, sớm muộn gì cũng phải mở cửa thành ra hàng.


Dứt lời, Tinh Thiều xin giấy bút mực, chàng vung bút lông vẽ bản đồ tòa thành và vị trí chỗ Cổng Đục, dâng lên.


Lý Bí đỡ lấy bức bản đồ xem, hết lời khen ngợi, rồi y kế thi hành. Quả nhiên, khi không còn lương ăn, thứ sử Tiêu Tư ở trong thành vội sai người mang của cải vàng bạc đút lót cho Lý Bí để xin được toàn tính mạng chạy về Tàu. Lý Bí đem quân vào chiếm thành Long Biên. Trong khi đó, Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phục Man đua nhau đem quân đi lấy được hầu hết các quận, huyện.


Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản công chiếm lại. Bọn xâm lược vừa kéo sang đã bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan.


Đầu năm Quý Dậu([15]) vua Lương lại huy động binh mã sang xâm lược một lần nữa. Lư Tử Hùng và các tướng tá chỉ huy khiếp sợ còn dùng dằng chưa dám tiến quân thì Lý Bí đã chủ động ra quân đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, miền cực bắc Châu Giao, quân Lương mười phần chết bảy, tám tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt phải tự tử.


Năm Giáp Tý([16]), Lý Bí họp các tướng bàn việc đóng đô.


Triệu Túc nói:


- Dân ta sống dưới ách đô hộ bao năm, bị chúng vơ vét bóc lột, sức lực đã suy kiệt chưa hồi phục lại được. Nếu xây dựng thành trì mới e hao tốn công của của dân, chi bằng ta cứ nên tận dụng tòa thành Long Biên, nhưng cho gia cố lại, trên mặt thành xây những xạ đài, để quân ta nấp, sau đó, dùng nỏ bắn tên đồng ba cạnh xuống bọn giặc đến tấn công hay trữ nhiều đá lăn xuống để đè bẹp chúng. Ở cửa thành, đào nhiều hố rắc chông, lại cho khơi sâu con hào và đào một con sông nhánh thông đến sông Ngũ, huyện Khê để phòng thủ vững chắc…


Lý Phục Man nói:


- Tôi thấy thành Long Biên chung quanh là sườn đồi, không tiện cho việc chuyển lương thực, chi bằng ta nên đóng đô ở Ô Diên([17]) chung quanh là đồng ruộng có thể cung cấp lúa gạo nhanh chóng, dễ dàng. Thực túc, binh cường, quân sĩ có ăn no mới mau đánh thắng giặc. Không những thế, khi bình thường ta để cho một số binh sĩ đi làm ruộng để có thêm lương thực, đó cũng là chính sách “ngụ binh ư nông” vậy.


Phạm Tu nói:


- Ô Diên ở giữa đồng bằng không có thế hiểm trở để bảo vệ. Theo ý tôi, ta nên về đóng ở Cổ Loa, kinh đô của Thục An Dương Vương ngày trước. Ở đó, còn sót lại ba vòng thành, vòng thành giữa bọc lấy vòng thành trong. Vòng thành ngoài bọc lấy vòng thành giữa. Từ vòng thành ngoài đến vòng thành giữa là khu vực dành cho quan lại và quân lính. Thành trong hình chữ nhật, chu vi hơn 40 trượng. Thành cao lắm phải ba người công kênh nhau mới với đến mặt thành rộng, quân có thể dàn hàng mười mà diễu quanh. Cổng thành ở phía nam trông thẳng vào điện Ngư triều di quy. Hai vòng thành giữa và ngoài nương theo các gò cao đắp nổi men theo bờ đầm bờ ao và các nhánh nhỏ của Hoàng Giang, trên mặt cả ba vòng thành từng quãng, từng quãng lại nổi lên một ụ đất cao gọi là “Hỏa hồi”, đứng trên mỗi ụ có thể quan sát cả một vùng rộng, mỗi vòng thành đều có hào sâu bao quanh, các vòng hào lại thông nhau và thông ra Hoàng Giang. Hào rộng gần 7 trượng, thuyền có thể xếp hàng đôi, hay hàng ba mà đi hay về dễ dàng. Dựa trên cái nền có sẵn, ta chỉ cần tu bổ là có thể sử dụng được.


Tinh Thiều nói:


- Theo tôi lúc này ta không nên tìm thế hiểm để cố thủ, mà nếu giặc kéo sang, ta cần cơ động đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc. Muốn thế, ta nên đóng đô ở cửa sông Tô Lịch vì đây là đầu mối của mạng lưới giao thông, từ sông Tô có thể xuống sông Kim Ngưu, sông Thiên Phù, sông Từ Liêm, lên sông Cái có thể tỏa ra khắp miền bắc qua sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, sông Lục Đầu, sông Đà, sông Đáy, sông Châu, sông Hoàng Long, hay ra biển theo các cửa biển vào các châu quận phía nam. Ta chỉ cần đắp thành bằng đất, dựng lũy bằng tre gỗ. Khi giặc kéo quân sang, ta có thể theo sông Cái ra vùng Lục Đầu chặn giặc, nếu thế giặc quá mạnh thì ta tạm rút về giữ thành ở cửa sông Tô Lịch. Nếu thấy thế không giữ được thì ta lui quân ngược sông Cái về giữ thành Gia Ninh([18]) hay theo sông Cái ra sông Lô và hồ Điển Triệt([19]). Giặc kéo tới đánh ta sẽ dùng chiến thuật du kích quấy rối chúng, tiêu hao sinh lực của chúng, đợi lúc chúng mỏi mệt sẽ dốc toàn lực phản công, quét sạch giặc ra khỏi bờ cõi. Các tướng quân cho rằng xây thành là vững chắc mà không biết rằng có cái còn hơn cả đá. Trong thiên hạ không có gì mềm bằng nước, thế mà nước rỏ lâu ngày có thể lõm cả đá, nước đủ sức phá vỡ đê đắp bằng đất dày, nước không có hình dạng nhất định, có thể khuôn theo hình dáng mọi vật, lấp đầy mọi vật hay xuyên thấm qua mọi vật mà không để mất bản tính của mình là linh hoạt. Phương Nam nhiều sông ngòi, người từ nhỏ đã quen thủy tính, ta nên khéo lợi dụng tính của nước để dùng vào mọi việc.


Trương Hống reo lên:


- Lời của Tinh tiên sinh quả có sức mạnh như dòng nước san bằng mọi trở ngại nghi nan.


Lý Bí nghe lời Tinh Thiều, đóng đô ở cửa sông Tô Lịch, lên ngồi hoàng đế, tự xưng là Nam Việt đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, lấy niên hiệu là Đại Đức([20]), cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi các quan họp bàn việc nước và xây chùa Khai Quốc ở Yên Hoa([21]). Vua cắt đặt các quan văn võ trong triều. Triệu Túc được phong làm thái phó. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ. Tinh Thiều được cử đứng đầu các quan văn, nàng Cúc được phong làm phu nhân.


Từ đó, cửa sông Tô Lịch mở ra một cánh cửa mới cho đất nước Vạn Xuân.


H.A


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 


 








([1]) Nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh




([2]) Nay là khu vực Hà Nội




([3]) Nay là Quán La




([4]) Nay là cầu Giấy




([5]) Nay là Ô chợ Dừa




([6]) Nay là huyện Thanh Trì




([7]) Nay là xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì




([8]) Nay gọi là sông Nhuệ




([9]) Năm 542




([10]) Nay thuộc làng Hậu Tải, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình.




([11]) Nay thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.




([12]) Nay thuộc tỉnh Hải Dương




([13]) Nay thuộc xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.




([14]) Nay thuộc xã Hội Xá, huyện Gia Lâm.




([15]) Năm 543




([16]) Năm 544




([17]) Ở Đan Phượng, Hoài Đức, nay thuộc xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm.




([18]) Ở miền đồi núi Việt Trì.




([19]) Nay thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.




([20]) Đức cao cả, gắn với Phật giáo, chứ không phải Thiên Đức (đức của Trời, gắn với Nho giáo).




([21]) Nay là Yên Phụ…



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nước mắt “Hoa hậu làng” - Đỗ Xuân Thu 20.11.2017
Người đàn bà nghe nhạc đêm - Lưu Thị Mười 19.11.2017
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
Nơi bão đi qua - Trịnh Bích Ngân 17.10.2017
Mụ Tân - Y Mùi 12.10.2017
Người tử tế - Y Mùi 12.10.2017
Vương quốc mộng mơ - Nguyễn Trường 23.09.2017
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
xem thêm »