tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185440
Tiểu thuyết
20.11.2009
Hoài Anh
Thuận Thiên Lý Công Uẩn

Vạn Hạnh: Muốn cho đứa con hoang trở về phải đợi khi chính nó tự giác, lại cũng phải có cơ duyên mới được, cơ duyên đó Phật học gọi là Pháp giới duyên khởi, tức y trên pháp duyên khởi để chứng nhận thế giới tương giao trong trùng trùng vô tận. Ở đây cũng giải thích về tương quan hiện hữu. Nhưng mỗi hiện hữu được quan niệm là một thực tại toàn diện - vì sinh tử tức Niết Bàn - do đó mối tương quan hiện hữu cũng toàn diện. Thí dụ tương quan giữa hai tấm kính đối diện. Một mặt kính không phải chỉ duy là một mặt kính nó bao hàm tất cả những gì không phải nó nhưng có quan hệ với nó. Như vậy hai mặt kính phản chiếu nhau không chỉ là hai, mà là tất cả và tất cả. Danh từ Pháp giới muốn nói rằng tất cả giới hạn vô biên và toàn diện của sự thực đều ở ngay với sự thực cá biệt đó. Cũng do cơ duyên, con đi tìm nguồn gốc của con, tuy không tìm thấy nhưng lại tìm ra nguồn gốc nỗi khổ của người dân ở ngay mảnh đất con chào đời. Cũng như con lọt lòng đã là một đứa trẻ mồ côi do đó con mới biết thương những đứa trẻ mồ côi thiếu tình yêu thương của cha mẹ trên khắp đại thiên thế giới.


Lý Công Uẩn: Con hiểu ra rồi. Tự giác nhi giác tha là như vậy.


Vạn Hạnh: Nay con đã hiểu được nguồn gốc nỗi khổ của dân, ấy là cơ duyên để con phát Đại Bi tâm nguyện cứu vớt tất cả chúng sinh trên hằng hà sa số thế giới này.


Lý Công Uẩn: Nghe lời sư phụ dạy, con những muốn bỏ quan tước về sống bên cạnh sư phụ để tu luyện cho chóng thành chính quả được nhập Niết Bàn.


Vạn Hạnh: Con lại rơi hết từ cực này sang cực khác rồi. Trước khi một người học Thiền, đối với người ấy núi là núi, sau khi người ấy đã thấm nhuần Thiền, núi với họ không còn là núi nữa. Nhưng khi người ấy thực sự đạt đến nơi an nghỉ núi lại vẫn là núi. Ở giai đoạn một, giai đoạn ngây thơ, ta coi núi là một thực thể độc lập. Ở giai đoạn hai ta nhận ra núi là trống rỗng và có vẻ như không có hiện thực tự tại nào. Nhưng đến giai đoạn ba của sự giác ngộ Thiền đích thực, ta vượt qua giai đoạn hai và quay trở về với một cái gì giống như lúc ta thấy nó lần đầu. Hiện nay con mới ở giai đoạn hai, nên cho rằng việc tu ở chùa khép mình theo giới luật khác hẳn với việc tu tại gia mà giữ được tự tại...


Lý Công Uẩn: Thì ra là vậy!


Vạn Hạnh: Phải ở ngay trong dòng nước mới chứng thực sự chảy của nó. Khi chứng thực như vậy, hóa ra dòng nước đang chảy trong bản tính không chảy của nó. Do đây mà chứng nghiệm được bản thể của nước vốn siêu việt cả hai tính cách động và tĩnh, như kinh Phật dạy: Động tĩnh như tướng, hiển nhiên bất sinh. Do tu tập như vậy, Bồ Tát Quán Thế Âm chứng được nhĩ căn viên thông, và từ đó hóa hiện đủ mọi hình tướng ba mươi ba thân. Tùy theo cơ cảm mà tế độ những khổ não cho chúng sinh. Có nhĩ căn viên thông, Quán Thế Âm nghe được những âm thanh của chúng sinh. Như người lội người dòng nước chảy, lội đến đâu, mất dấu vết đến đấy. Cũng vậy ở đây bắt đầu quán về bản tính của nghe. Nếu quan sát triệt để sẽ thấy rằng, tác động của chuỗi âm thanh liên tục như một dòng nước chảy, nhưng trong bản tính của nghe, mỗi âm thanh không diễn theo trình tự liên tục, nghĩa là không phải âm thanh này thúc đẩy âm thanh kia. Thí dụ như lội ngược dòng suối. Như vậy, nếu đứng bên ngoài bản tính nghe mà quan sát những cái được nghe thì chúng là một quá trình nhân quả liên tục; đứng ngoài dòng nước mới thấy được sự liên tục của nó. Như vậy vừa phải đứng trong dòng nước để chứng nghiệm trực tiếp những cái được nghe, vừa phải đứng ngoài dòng nước để thấy quá trình nhân quả liên tục của nó. Thí dụ con đã nghe thấy những âm thanh về nỗi khổ của dân chúng thì con phải nhận thức được ý nghĩa phổ quát của nó để tìm cách cứu dân khỏi khổ. Thiền chân chính không phải chỉ khi nào ngồi xếp bằng ngay ngắn trong rừng sâu núi thẳm, hoặc giữa đồng không hoang vắng mà tư duy mới là Thiền, mà ngay trong đời sống hàng ngày, có thể nói nhất cử nhất động đi, đứng, nằm ngồi, tất cả không xa rời Thiền. Trong Kinh Phật đem Phật so sánh với Rồng: "Rồng đi, đứng đều định, ngồi định, nằm cũng định, không lúc nào rồng không định: nó là Pháp thường của rồng!


Lý Công Uẩn: Hay quá! Hay quá!


Vạn Hạnh: Người xuất gia như ta cũng phải có cơ duyên mới thành tựu được. Con muốn theo ta, nhưng chính đức Phật nói: "Ta hành đạo không thầy dạy dỗ. Chỉ hành đạo một mình không bè bạn. Tích chứa một hạnh mà thờ Phật. Tự nhiên thấu suốt nẻo thành đạo". Bởi vì chân lý được nhắc nhở trong các kinh điển nguyên thủy vốn được coi là sở đắc nội tại và cá biệt. "Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa cho chính mình" như lời dạy cuối cùng của đức Phật được ghi lại trong kinh Đại bát Niết Bàn. Theo Bản sinh truyện, đức Thế Tôn đã trải qua nhiều kiếp với những hành vi như một anh hùng hiệp sĩ vĩ đại xuất hiện giữa thế gian, luôn luôn đem cả thân mạng làm lợi ích cho mọi người. Ở đây Bồ Tát, một danh hiệu trước khi Thế Tôn thành đạo, sống giữa thế gian làm tất cả những gì mà thế gian cần có, không phải vì giải thoát tối thượng mà vì sự an lành trong cuộc sống bình nhật. Ngài là một bậc hiệp sĩ cứu khổ phò nguy giữa dân chúng bình thường yếu đuối bất lực trước mọi bất công. Như vậy là đã kết hợp giữa Thể và Dụng.


Lý Công Uẩn: Thể và Dụng kết hợp với nhau như thế nào, bạch sư phụ?


Vạn Hạnh: Thỉ dụ như Dầu và Lửa. Lửa không phải là Dầu, sự cháy không phải là chất cháy nhưng Dầu cũng không rời được Lửa vì không có Dầu thì cũng không có Lửa. Không chất cháy thì không có sự cháy. Tóm lại Thể lệ thuộc vào Dụng và trái lại, Thể Dụng hỗ tương mà có.


Lý Công Uẩn: Còn về Niết Bàn thì sao ạ?


Vạn Hạnh: Còn Niết Bàn, thì nói như kinh Pháp cú: "Như một hồ nước trong suốt và yên lặng, kẻ có trí, sau khi nghe Pháp thì cũng trầm lặng sâu xa như vậy". Kinh Lăng Già nói: "Hoàn toàn không có cái gì mệnh danh là Niết Bàn. Không có một vị Phật nào chứng nhập Niết Bàn, cũng không có Niết Bàn mà Phật chứng nhập. Vượt ra ngoài nhân cách giác ngộ và chân lý được giác ngộ. Hữu hay vô hữu, cả hai đều bị vượt qua. Trí tuệ không bị ràng buộc giữa hữu hay vô. Nhưng sơ khởi, người ta chấp nhận mọi mâu thuẫn nội tại như là lý lẽ đương nhiên. Thí dụ sinh tức vô sinh. Trước hết người ta có thể vay mượn những gì đã được chứng kiến, trong kinh nghiệm thông tục để diễn tả. Như kinh Kim Cang nói: "Tất cả mọi hiện hữu do tương quan đều y như là mộng, huyễn, bọt nước, bóng trong gương, như sương mai, như ánh chớp". Đến kỳ cùng là Pháp nhĩ như thị: Như vậy là như vậy. Một trong những danh hiệu của Phật, Như Lai, vốn chỉ cho ý nghĩa này. Luận Đại trí độ nói: "Như pháp tướng mà hiểu. Như pháp tướng mà giảng thuyết. Như con đường an ổn của chư Phật mà đến... nên gọi là Như Lai". Nói gọn hơn, Như Lai tức là đến như vậy và đi như vậy. Đây mới thực là lý tưởng hành động của Bồ Tát đạo, công nghiệp đó sẽ được mô tả như là dấu chân của con chim trong bầu trời. Bồ Tát đến với thế gian cũng vậy. Tất cả mọi công trình đã từng thực hiện và đã để lại cho thế gian chẳng khác nào sự tích lũy của bao nhiêu dấu chân của cánh chim bay giữa bầu trời. Hành động này được mệnh danh là vô công dụng hạnh (hành động không cần dụng công) vì như hư không. Vả lại chính bản tính của vạn hữu cùng đồng với hư không. Kinh Phổ hiền Hạnh nguyện nhắc nhở lý tưởng của Bồ Tát rằng: Hư không còn có thể có chỗ tận cùng những tâm nguyện Đại bi của ta thì không bao giờ có thể cùng tận được. Đức Địa Tạng vương Bồ Tát từng phát nguyện rằng nếu còn có chúng sinh bị đầy đọa dưới địa ngục thì ngài chưa thành Phật.


Lý Công Uẩn: Hay quá!


Vạn Hạnh: Nhưng đó chỉ là đường lối tu Tâm, còn muốn trị nước yên dân, chỉ nghiên cứu Phật học là chưa đủ. Đức Đinh Tiên Hoàng đế cho Tăng thống Ngô Chân Lưu tước hiệu Khuông Việt đại sư và đạo sĩ Trương Ma Ni làm Tăng lục, để làm cố vấn cho nhà vua về các vấn đề liên hệ đến Phật giáo và các đạo khác. Như vậy là chỉ tôn sùng Phật giáo và Đạo giáo mà coi rẻ Nho giáo. Chuyện độc tôn Phật giáo khiến ta nghĩ đến chuyện vua A Dục bên Tây Trúc ngày trước.


Lý Công Uẩn: Chuyện vua A Dục như thế nào ạ?


Vạn Hạnh: Theo sư Huyền Trang đời Đường người đã sang Tây Trúc lấy kinh về kể lại: Vua A Dục trước đây từng xây cất ở phía bắc kinh đô một khám đường mà người ta gọi là địa ngục của A Dục, dùng đủ các cực hình có thể tưởng tượng được để tra tấn trừng trị tội nhân. Nhà vua lại còn ra lệnh kẻ nào đã vào trại giam đó thì đừng để cho ra mà sống. Nhưng một hôm một vị thánh tăng lớ vớ vô cớ bước vào bị ném vào vạc dầu mà không chết. Viên cai ngục bèn báo cho A Dục. A Dục tới tức thì, nhìn tận mắt, thấy hiện tượng đó kỳ dị tính quay ra thì viên cai ngục tâu rằng theo lệnh của nhà vua, không một kẻ nào được ra khỏi ngục mà sống, như vậy mới tính làm sao bây giờ? A Dục nhận lời đó là đúng bèn bảo ném chính viên cai ngục vào vạc dầu.


Khi về tới cung điện, A Dục đổi tính hẳn đi, ra lệnh phá khám đường và sửa lại hình luật cho nhân đạo hơn. Đúng lúc đó, ông ta hay tin quân đội mới thắng bộ lạc Kalinga, giết chết mấy ngàn quân phiến loạn và bắt được một số lớn nữa làm tù binh. A Dục hối hận vì cảnh chém giết tàn nhẫn đó, mà làm cho bao nhiêu tù binh phải xa người thân của họ. Ông bèn bảo thả hết tù binh, trả đất lại cho bộ lạc Kalinga lại còn gửi họ một bức thư xin lỗi nữa. Rồi ông ta xin quy y, mặc áo vàng, trong một thời gian không đi săn, không ăn mặn nữa, còn theo con đường Bát chính. Trong năm thứ mười một triều đại của ông, ông ban bố một loại sắc lệnh, đục khắc lên núi đá, lên cột viết theo thổ ngữ từng miền để bất kỳ người Tây Trúc nào biết chữ cũng có thể đọc được. Trong sắc lệnh viết trên cột thứ nhì viết: "Đạo sùng kính là điều rất hay. Như thế nào là sùng kính. Sùng kính là ít nghịch đạo, làm nhiều điều thiện, từ bi, khoan dung, thành thực và trong sạch". Chẳng hạn A Dục ra lệnh cho các quan phải thương dân như con, dịu dàng kiên nhẫn với họ, không có lý do chắc chắn thì không được bắt giam tra khảo họ, ông còn ra lệnh cứ đều đều đúng kỳ hạn phải đọc những chỉ thị đó trước công chúng cho mọi người biết.


Ông vua nhân từ đó quá tin lòng mộ đạo của con người và sự hiếu thuận của các con ông. Riêng phần ông, ông hăng say làm việc cho tôn giáo, tự xưng là Giáo chủ, tặng Tăng hội vô số tiền, cho xây cất tám mươi tư nghìn ngôi chùa, còn dựng ở khắp nơi trong nước nhiều dưỡng đường cho bệnh nhân, cả cho loài vật nữa. Ông phái cao tăng đi truyền bá đạo Phật ở khắp Tây Trúc, Tích Lan, Ai Cập, tới cả Hy Lạp. Ngoài những hoạt động đó ra về tôn giáo, A Dục rất siêng năng trị nước, ông làm việc suốt ngày và ai cũng có thể vào yết kiến ông bất kỳ lúc nào để bàn về việc nước.


Tật lớn nhất của ông là sự tự cao tự đại. Ông không biết rằng các tu sĩ Bà La Môn ghét ông và tìm mọi cách để hạ ông. Không riêng các tu sĩ Bà La Môn bất bình vì cấm giết sinh vật để cúng tế thì họ đâu còn được hưởng phần thịt mỡ, mà các thợ săn, người đánh cá cũng oán hận vì phải bỏ nghề, nếu không thì có thể bị trừng trị nặng. Ngay cả nông dân cũng bực tức vì luật cấm đốt cỏ khô và các sinh vật có thể có trong cỏ. Thế là một nửa dân chúng chỉ mong cho A Dục chết phứt đi.


Về già, A Dục bị cháu nội và quần thần truất ngôi. Họ rút dần các quyền hành của ông và ông đành phải thôi không tặng được gì cho Tăng hội nữa. Ngay cả về phần ăn, người ta cũng rút xuống hoài tới một ngày nọ chỉ cung cấp cho ông mỗi bữa nửa trái analaka. Nhà vua rầu rĩ nhìn phần ăn của mình rồi sai đem tặng các đạo huynh, có cái gì ông cũng đã tặng hết cho họ rồi. Người ta không biết ông mất năm nào chỉ biết rằng chỉ một thế hệ là đế quốc của ông đã tan rã...


Lý Công Uẩn: Theo sư phụ thì nguyên nhân sự thất bại của vua A Dục là ở đâu?


Vạn Hạnh: Theo ta trước hết bởi hoàn cảnh tự nhiên và xã hội của Tây Trúc. Ở Tây Trúc, miền nhiệt đới của lưu vực sông Hằng với thảo mộc rậm rạp ẩm thấp khó chịu và sức nóng như thiêu, sức khô héo của các miền khác thì hằng mười tháng liền trong một năm chỉ có giọt sương đêm để giải khát cho đất đai. Nhất là quang cảnh sa mạc đã phải làm cho họ nản chí. Đứng trước thiên nhiên ở hình thức ấy âu sầu ảm đạm khô khan với ảo ảnh lơ lửng tới lui, không lạ gì mà người Tây Trúc bắt đầu nghĩ: Thiên nhiên bất trị và ở một số chủ trương kỳ lạ là không thật. Thiên nhiên mờ ảo biến hóa luôn luôn bí mật, ghê sợ nếu anh muốn nhưng có ích lợi gì để tìm khám phá định luật của nó. Nó là ảo hóa. Nó đầy ma thuật, một quỉ thuật, một trò chơi của huyền ảo vũ trụ bí nhiệm. Đứng trước một thiên nhiên có vẻ khó chinh phục, nhìn vào xã hội Tây Trúc lại tự thấy đứng trước những vấn đề xã hội sâu xa: sự phân biệt màu da và đẳng cấp quá rõ rệt không một sư khôn khéo nào đủ để phá tan cái tai ách đó được. Chừng nào người còn là người thì luôn luôn sẽ có nguyện vọng thay đổi xã hội bất công và bế tắc. Nhưng cá nhân có vẻ hứa hẹn. Nếu chúng ta chỉ phải hiểu biết chúng ta thực là ai thì chúng ta sẽ đạt được tự do nội tâm vượt lên trên các mâu thuẫn chúng làm bế tắc cả vấn đề thiên nhiên và xã hội. Kinh Áo nghĩa thư nói: "Giác quan hướng ra bên ngoài. Nhân thế mà người ta nhìn cả ra cái gì ở bên ngoài và không nhìn thấy cái gì ở trong lòng. Người hiền trí nhắm mắt về thế giới bên ngoài và chứng kiến tự tính và cảm giác là chứng nhân giả dối". Thế giới không phải là cái gì hiện ra như thế. Đằng sau sự sống bên ngoài bề mặt mà chúng ta thực nghiệm cái trò sống chết, còn có một sức sống thâm sâu hơn nó không biết có sự chết. Đằng sau ý thức biểu hiện nó đem lại cho ta tri thức về sự vật đối tượng còn có ý thức thuần túy. Chân lý chỉ những ai nội hướng nhìn vào trong mới thực nghiệm được thôi. Vì thế người Tây Trúc chỉ lo tu thiện nội tâm mà không quan tâm đến cải tạo thiên nhiên và xã hội.


Còn Trung Hoa, văn hóa phát nguyên từ châu thổ thành lập trên sông Dương Tử và Hoàng Hà. Nhưng các con sông này không phải đồ chơi. Tai họa và ân huệ lẫn lộn nhất là sông Hoàng Hà luôn luôn đổi thay lòng sông mà người ta phải trả giá bằng sinh mạng và lao công nếu phải sinh sống với nó và nhờ vào nó. Rất sớm, ở Trung Hoa, dòng sông trở nên tượng trưng cho con rồng khó bảo. Rồng cũng là quốc hiệu trải hàng thế kỷ. Như vậy chúng ta sẽ không thấy lạkhi ở Trung Hoa có một sự kính nể thiên nhiên. Thiên nhiên là cái gì để thưởng thức, trực giác cảm thông, phụng thờ, chớ không có tư tưởng liên tục sử dụng thiên nhiên hay là ý nghĩ phải làm chủ lấy. Lão Tử nói: "Muốn lấy thiên hạ mà làm tự thấy là bất đắc dĩ. Thiên hạ là vật thiêng, không thể làm được, kẻ làm thì thất bại, kẻ cố chấp thì mất". Bất lực trước thiên nhiên, người Trung Hoa quay về xã hội. Tất cả triết lý Trung Hoa cốt yếu là nghiên cứu làm sao cho có thể giúp đỡ người và sinh sống với nhau trong trật tự và hòa mục. Khổng Tử nêu ra quan niệm về Nhân, thực hành đạo Nhân tạo ra hạng người quân tử. Khổng Tử muốn vun trồng đức tính nội tâm của người quân tử là nhằm đạt đến sự hài hòa về nhiều phương diện: Ở bình diện vũ trụ một đời sống, có Nhân thì phù hợp với đạo Trời, vì "Trời là tác giả của Đức trong ta". Ở bình diện xã hội, "Người quân tử giữ tập tục và truyền thống thì giúp cổ võ sự hòa hợp trong gia đình cộng đồng và xã hội". Những sợi dây ràng buộc hiệu quả để giữ người ta sống hòa thuận và hợp tác với nhau là những giềng mối từ nội tâm con người, tình yêu, ý thức bổn phận, lòng hiếu thảo, chứ không chỉ là những thưởng phạt bên ngoài. Ở bình diện cá nhân, người quân tử là người quân bình nhất quán với chính mình, không chao đảo bởi đời sống hay đam mê của chính mình hay sự đe dọa của người khác. Vì thế người quân tử có tâm hồn thư thái, trong khi kẻ tiểu nhân luôn đầy lo âu. Khổng Tử nói đến Nhân như là một khung cảnh đẹp trong đó người quân tử cảm thấy sống thoải mái như ở nhà mình. Đó là vì người quân tử luôn sống hòa hợp với chính mình, hơn nữa trong hành vi và tình cảm của người quân tử đi theo đạo Trung Dung giống như đường lối Trung quán của Long Thọ Bồ Tát. Lão Tử cũng nói: "Đa ngôn số cùng, hà như thủ Trung" . Họ không bao giờ đi thái quá không phải vì làm hay nghĩ quá ít. Đạo Trung Dung có một khía cạnh đặc biệt quan trọng.


Một cuộc đời không đầy tính người nếu nó được sống một cách máy móc hay chỉ vì lợi lộc, nhưng sự nhiệt thành đạo đức, đầy thiện chí và yêu thương đồng loại mà không được hướng dẫn thì cũng có những nguy hiểm. Chúng phải được kiềm chế và hướng dẫn bằng Lễ, các tập tục và bổn phận xã hội tùy theo bậc sống của mình. Đó là lý do tại sao chỉ có một sự phối hợp quân bình của nhân với sự tinh tế đạt được mới thành người quân tử. Sách Đại học nói: Người giảng đạo đức làm gương trong gia đình sẽ mau chóng lan ra toàn xã hội. Những suy tư này cũng được áp dụng cho bổn phận phục vụ đời sống công cộng. Người quân tử nhận lãnh chức vụ để làm bổn phận mình cho dù họ không được hưởng lợi lộc gì. Và trong một hành vi vô vụ lợi như thế họ hành động phù hợp với bản chất người của họ. Đức của người quân tử giống như gió, Đức của kẻ tiểu nhân giống như cỏ. Gió thổi làm cho cỏ rạp xuống.


Lão Tử cũng nói: "Đạo chỉ việc sinh sản. Đức lo việc nuôi dưỡng, Đức theo Đạo như lạch nước theo sông ra biển". Lão Tử chủ trương tu thân luyện tính, Khổng Tử chủ trương cùng lý tận tính, Thích Ca chủ trương minh tâm kiến tính. Lão Tử nói vô vi là chỉ thái độ sống thuận theo tự nhiên thì Phật học cũng có khái niệm Asamskrita hình thành không do nhân duyên tương hợp, vượt lên trên hiện tượng sinh diệt biến hóa. Lão Tử nói: "Làm nên vạn vật mà không kể công, không xưng danh" thì Phật cũng có chủ trương "Vô công dụng hạnh". Lão Tử nói: "Người noi theo pháp của đất, Đất noi theo pháp của Trời, Trời noi theo pháp của Đạo, Đạo noi theo pháp của Tự nhiên". Tam giáo có những chỗ giống nhau, do đó mới có thuyết "Tam giáo đồng lưu, đồng quy nhi thù đồ" .


Nếu sau này con có lên cầm quyền trị nước thì nên chủ trương "Tam giáo tịnh hành".


Lý Công Uẩn: Bạch sư phụ, như vậy có trái với tôn chỉ của đạo Phật không ạ?


(còn tiếp)


Nguồn: Thuận Thiên Lý Công Uẩn. Tiểu thuyềt-kịch của Hoài Anh. NXB Văn học liên kết cùng Nhóm Văn chương Hồn Việt xuất bản, 2008.


 www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »