tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525916
Tiểu thuyết
18.11.2009
Hoài Anh
Thuận Thiên Lý Công Uẩn

TẮT ĐÈN ĐỔI CẢNH


Dinh Ngự Bắc vương Long Cân


Vách tường có hình rồng (giống hình rồng ở mộ Thái sư Lê Văn Thịnh)


Thành bậc thềm có tượng con sấu đá (giống tượng con sấu ở khu vực Thăng Long (Ba Đình, Hà Nội).


Đỗ Ngân ra. Ngự Bắc vương từ trong ra đón.


Đỗ Ngân: Kính lạy Vương gia, chúc Vương gia thiên tuế.


Ngự Bắc vương: Đỗ Thị thư đấy à? Ta chờ ông mãi. Thế nào, bệnh của hoàng huynh ta có thuyên giảm được phần nào không?


Đỗ Ngân: Bẩm Vương gia, các ngự y đã dâng đủ mọi môn thuốc thang nhưng bệnh của đức kim thượng vẫn không chuyển, còn có phần xấu đi.


Ngự Bắc vương: Ta rất lo lắng về bệnh tình của hoàng huynh ta. Từ ngày xa cách người đến nay ta vẫn đêm ngày mong nhớ. Tình anh em ruột thịt có thể nào quên được. Nếu có phương pháp nào giúp người lành bệnh, ta dù có phải chết thay cho người, ta cũng không tiếc. Theo ý ông, thì ta có nên về kinh đô vấn an ngọc thể hay không?


Đỗ Ngân: (vờ nghĩ ngợi). Từ ngày có biến loạn tứ vương tranh ngôi đến nay, dân chúng kinh đô đều đêm ngày nơm nớp lo sợ. Nếu ngài kéo quân về lúc này, e rằng làm kinh động dân chúng. Nhất là ngài không có chỉ triệu mà tự tiện về, các quan lại sẽ hoang mang không biết nên đón tiếp thế nào mà ngăn lại thì sợ đắc tội với ngài...


Ngự Bắc vương: Chắc mọi người ngờ vực ta có ý dòm ngó ngôi cửu ngũ chứ gì! Ta xin thề với ông nếu ta có bụng dạ nào thì trời tru đất diệt. Khi hoàng huynh ta cử sự, nếu không có ta đem quân từ Phù Lan  đến đánh tan quân Trung Quốc vương từ Mạt Tiên  kéo lên, thì hoàng huynh ta có thể rảnh rang kéo quân từ Đằng Châu vào Hoa Lư giết Nam Phong vương và Đông Thành vương hay không?


Đỗ Ngân: Chính vì Đức vua nhớ công Vương gia giúp sức cho nên mới để cho Vương gia cai quản suốt một vùng từ Phù Lan, qua Long Biên sang đến Đại La. Hiện nay Đức vua nghi ngờ Tả Thân vệ họ Lý có ý muốn cướp ngôi, cho nên mới cử ông ta đi dẹp giặc ở châu Vị Long. Nhưng ông ta không chịu kéo quân đi Vị Long mà lại đóng quân ở thành Đại La, như vậy là cái ý phản nghịch đã rõ ràng rồi. Nếu Vương gia bắt giết được Lý Công Uẩn, để tuyệt hậu họa, thì cứ việc thong dong kéo quân về Hoa Lư, chúng tôi sẽ ra đón ngài vào cung tôn ngài lên ngôi báu, như vậy ai còn dị nghị vào đâu được nữa!


Ngự Bắc vương: (một mình) Phải rồi! Ta phải diệt Công Uẩn trước rồi hãy kéo về Hoa Lư. Nếu về Hoa Lư ngay lúc này biết đâu Công Uẩn chẳng liên minh với Trung Quốc vương đang ở bên Chiêm Thành, Hành Quân vương đang ở bên Tàu, chia làm ba mũi đánh vào Hoa Lư thì ta làm sao địch nổi.


Ta diệt xong Công Uẩn rồi thì chưa chắc Trung Quốc vương. Hành Quân vương đã dám kéo quân về tranh ngôi với ta, vì không có nội ứng.


Thế của ta bây giờ là không thể đội trời chung với Công Uẩn. Hắn mất thì ta còn, mà ta còn hắn phải mất!


(hỏi nhỏ Đỗ Ngân) Ông có mưu gì giúp ta diệt Công Uẩn được không?


Đỗ Ngân: Theo ý tôi thì ngài nên kéo quân về đóng trong thành Đại La để khống chế Lý Công Uẩn (ghé tai Ngự Bắc vương dặn nhỏ).


TẮT ĐÈN ĐỔI CẢNH


Hậu liêu chùa Tiêu.


Trong cùng bày pho tượng A Di Đà, hình một người phụ nữ với đôi mắt nhìn xuống, dọc mũi thẳng cao và thanh, miệng hơi mỉm cười làm cho bộ mặt vốn đã thanh tú lại có vẻ vừa trầm tư vừa rạng rỡ (giống pho tượng ở chùa Phật Tích). Ngoài cùng có một khuôn cửa, tiếp với mặt sàn lát gạch tráng men láng bóng. Từ khuôn cửa nhìn ra thấy cảnh dòng sông Tiêu Tương hai bên bờ sông có những dãy bạch đàn, cây khẳng khiu lá dài và hẹp bao giờ cũng ở tư thế rũ xuống, thân khoác một màu trắng đục mờ. Phía bên kia là Tam Sơn.


Giữa nhà trải thảm, có đặt hai chiếc nệm. Cạnh chiếc nệm bên trong có chồng gối xếp dành cho Vạn Hạnh, cạnh đó là ống bút, nghiên mực đồ văn phòng tứ bảo, còn chiếc nệm bên ngoài dành cho khách.


Chú tiểu: (dẫn Lý Công Uẩn ra) Xin mời thí chủ tạm nghỉ ở đây, sư tổ tôi xong khóa tụng sẽ ra tiếp đãi.


Lý Công Uẩn: Chú cứ để mặc ta (đứng cạnh cửa phòng nhìn quanh).


Cứ theo dân làng nói thì đây là nơi mẹ ta sau khi quét chùa xong thường nằm nghỉ mát. Ta những muốn ấp người vào nền gạch tráng men láng bóng này tìm lại hơi ấm của da thịt người mẹ trẻ để được ủ trong hơi thở nồng ấm của người. Ta nhớ lại năm bảy tuổi ta bắt đầu về ở chùa này thường chạy nhảy hồn nhiên vô tư trên nền gạch mà không biết rằng ta đang giẫm lên trái tim của mẹ ta.


Có sống trong phong cảnh hữu tình như thế này, ta mới hiểu hết nỗi niềm xuân của một cô gái trẻ. Sớm chiều chỉ làm bạn với tiếng chuông mõ đều đều và tiếng niệm kinh trầm trầm trong ngôi chùa hiu quạnh, nhất là trong những đêm trăng thanh gió mát. Ngoài kia là trời rộng mênh mông. Phía trước là con sông Tiêu Tương nơi còn in bóng dáng con thuyền Trương Chi. Đằng xa kia là Tam Sơn, nơi xưa có lầu cao của Mỵ Nương cấm cung trong truyện cổ. Chắc mẹ ta trong những đêm dài trằn trọc không ngủ được đã nghe tiếng hò khoan và câu hát dằng dặc mênh mông. Không biết mẹ cha ta sinh thời có mang mối hận tình nào không?


Trong suốt lớp độc bạch, có tiếng mõ và tiếng tụng kinh vẳng ra, trên cái nền đơn điệu ấy vút lên tiếng hò khoan và tiếng hát như chập chờn trên sóng.


Tiếng hát của Trương Chi vang lên


Tiếng hát


Ta như thiên nhiên gió thổi trăng lên


Khi vui ta hát


Khi buồn ta hát


Thuyền ta lướt


Thuyền ta trôi chở theo cả trăng vàng


Ánh trăng thấp ngời vẩy cá bạc đầy khoang


Ta quên cả cuộc đời lầm than cơ cực


Nhưng khi nhìn thấy Mỵ Nương ta như trong mê chợt thức


Biết trên đời này còn có nhan sắc tuyệt trần


Tóc nàng óng hơn mây, môi nàng thắm hơn cả hoa xuân


Dường như tất cả cái đẹp của đất trời chung đúc lại


Nàng tương tư tiếng hát ta bao đêm dài khắc khoải


Nhưng khi gặp nàng nơi cửa cấm lầu hoa


Ta chỉ là cái bóng nhạt mờ của tiếng hát ta


Nỗi thất vọng trên gương mặt nàng biến ta thành tảng đá


Ôi tiếng hát hay và bộ mặt xấu là hai người xa lạ


Cái đẹp nhất thời quyết đấu cùng cái đẹp thiên thu


Nhưng với gương mặt nàng ta đã trót tương tư


Nàng đã hóa vầng trăng soi mái chèo rạch sóng


Tiếng hát vô hình chỉ qua âm thanh khiến người tha hồ tưởng mộng


Ta phải giải phóng tiếng hát ra khỏi ngục tù xác thịt đọa đầy


Tiếng hát ta nhẹ như gió như mây


Lại bay trên sông dài


Lại bay vào lầu trang đánh thức linh hồn nàng khát thèm suối nhạc


Nào sông lạnh hãy cho ta gửi xác


Để tiếng hát được đầu thai tiếng khác.


(ngâm)


Nợ tình chưa trả cho ai


Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan


Tiếng hát ngừng.


Lý Công Uẩn: (nhìn pho tượng A Di Đà) Mẹ ta chắc cũng có khuôn mặt đầy đặn như thế này (Ánh sáng rọi lên pho tượng, tượng như sống hẳn lên). Kìa! Hình như mắt mẹ ta đang nhìn xuống ta, miệng mẹ ta như hơi mỉm cười với đứa con yêu.


(chợt nhớ ra) À, nhưng ta nghe người ta nói... (cất tiếng hỏi mẹ). Mẹ ơi, có phải mẹ đang ở dưới địa ngục không? Mẹ có đau đớn lắm không mẹ...?


Tiếng bà mẹ: (cất lên)


Địa ngục chỉ ở trong đáy niềm vọng tưởng


Gian tham lận sân si trong uế trược não phiền


Qua Tứ diệu đế   dứt Thập nhị nhân duyên


Lục căn  không còn, biết gì là đau đớn?


Cái Ta nhỏ nhập vào cái Ta lớn


Giọt nước hòa trong vô tận trùng dương


Bông sen rã cánh chỉ còn lại mùi hương


Đọng nụ cười lâng bay trải ba nghìn thế giới


Lý Công Uẩn: Mẹ! Mẹ cho con biết cha con là ai đi?


Tiếng bà mẹ: U minh từ độ xuôi thuyền


Ngược dòng vô thủy tới miền vô vi


Tình là chi? Nghiệp là chi?


Nước dương rửa hết niềm si bụi trần


Tới bờ, ngó lại phàm thân


Vật vờ biển khổ, phân vân nhịp cầu


Mộng là đâu? Thực là đâu?


Phù vân tan hết, mái lầu trăng nghiêng.


Đèn tắt - Ảo ảnh biến mất. Đèn lại sáng


Vạn Hạnh: (từ phía trong đi ra, vừa đi vừa lần tràng hạt)


Lý Công Uẩn: Đệ tử xin kính lạy sư phụ.


Vạn Hạnh: A Di Đà Phật, Bần tăng xin kính chào Lý Thân vệ.


Lý Công Uẩn: Xin sư phụ cứ gọi đệ tử là con như ngày trước... Hay con có lầm lỗi gì xin sư phụ dạy cho con hay để con khỏi áy náy trong lòng.


Vạn Hạnh: Không có gì cả. Đó chẳng qua là ta thủ lễ với một quan chức triều đình cho trọn đạo. Con về đây để thăm ta hay là có chuyện gì?


Lý Công Uẩn: Con về đây trước là để thăm mộ mẹ con, ở chùa Ứng Thiên Tâm, sau là để bái yết sư phụ cho trọn đạo...


(nhấn mạnh hai chữ "trọn đạo", để ý quan sát nét mặt Vạn Hạnh)


Vạn Hạnh: (vẫn thản nhiên như thường) Ta cám ơn con hãy còn nhớ đến ta. Thế còn...


Lý Công Uẩn: Con cũng đã đến lạy trước tháp Xá Lợi của Khánh Văn thiền sư (nói rành rọt từng tiếng) nghĩa phụ con...


Vạn Hạnh: Con nên danh nên giá mà vẫn không quên gốc như vậy là rất tốt... (mỉm cười) Nhớ lại cái hôm con mới đến chùa này, vì đến buổi tối, ta chưa kịp thu xếp giường nằm cho con, nên phải để con ngủ ngay trên mặt sàn này. Đêm ấy con đái dầm, tỉnh dậy thấy ướt quần, con khóc. Những việc ấy ở chùa bên kia bà hộ đã lo cho cả, nhưng ở chùa bên này từ ngày mẹ con ra đi, ta không để cho một người nữ nào ở trong chùa nữa. Ta vừa lóng ngóng thay quần cho con vừa răn dạy con. Thế là từ hôm sau trở đi, con không bao giờ đái dầm nữa. Sáng dậy, con không những không còn khoét ruột oản ăn trước như ở chùa bên kia, mà còn biết giúp chú tiểu nhóm bếp thổi xôi làm oản và ra vườn hái hoa quả về cúng Phật... Con còn nhớ không?


Lý Công Uẩn: Con nhớ ra rồi. Con nhớ buổi chiều hôm sau thấy con ngồi thơ thẩn, sư phụ hỏi sao con buồn thiu như vậy. Con kiếm cớ trả lời ở chùa bên kia gần xóm làng con còn có bạn chơi, nhưng chùa bên này ở trong núi, chung quanh không có nhà dân, nên con thiếu bạn chơi. Con thấy sư phụ đưa tay lên chấm nước mắt. Kỳ thực, không phải con buồn vì thiếu bạn chơi, mà buồn vì... các bạn không thèm chơi với con...


Vạn Hạnh: Sao các bạn lại không thèm chơi với con?


Lý Công Uẩn: Các bạn chê con là đứa con không có bố, nên không đứa nào chịu chơi với con. Bao nhiêu lần con đã gợi để sư phụ nói cho con biết cha con là ai, nhưng sư phụ đều lảng sang chuyện khác, nên con không dám hỏi nữa.


Vạn Hạnh: Vậy ra con về đây còn có ý định...


Lý Công Uẩn: (ngập ngừng rồi quả quyết). Sư phụ đã hỏi thì con không dám giấu, con về đây là để... tìm nguồn gốc ra đời của con.


Vạn Hạnh: (mỉm cười) Con đã tìm ra được điều gì chưa?


Lý Công Uẩn: Khi con cải trang làm một thương nhân về hương Diên Uẩn, đến các nhà ở chung quanh chùa Ứng Thiên Tâm tìm kiếm những người hồi ba mươi sáu năm trước đã trưởng thành để dò hỏi về tung tích của mẹ con. Con nghe một người đứng tuổi kể lại, hồi đó đức Đinh Tiên Hoàng đế đang còn trị vì, nhưng đã bắt đầu say mê tửu sắc, lại nghe lời ton hót của Hoàng hậu Ca Ông, bỏ con trưởng lập con thứ khiến trong triều chính sự rối loạn. Bọn cường hào địa chủ ở làng lợi dụng lúc đất nước lộn xộn không có kỷ cương, ra sức đánh sưu cao thuế nặng vơ vét bóc lột của dân, dân sống không nổi phải bỏ làng đi tha phương cầu thực, mười phần chỉ còn ba phần. Khi đức tiên đế Đại Hành lên ngôi, dân được sống yên ổn một dạo, nhưng sau khi người băng hà, các vương tranh ngôi đánh nhau chín năm liền. Hết Trung Quốc vương ở Mạt Tiên lên đánh nhau với Ngự Bắc vương ở Phù Lan, kéo quân qua làng bắt phu bắt lính, lại đến nhà vua hiện nay từ Hoa Lư lên đánh Ngự Man vương ở Phong Châu, làng này lại thành bãi chiến trường dân làng bị tàn hại quá nửa. Do đó những người sáu mươi tuổi trở lên có thể biết tung tích mẹ con đến nay không còn ai nữa…


Vạn Hạnh: Phải rồi. Nhân sinh thất thập cổ lai hi. Thời bình mà còn thế huống chi thời loạn, muốn tìm người sống đến sáu mươi tuổi đã khó lắm rồi.


Lý Công Uẩn: Dân làng lại bảo khi quân lính kéo qua làng, đi đến đâu đốt nhà của dân đến đấy, chỉ có chùa chiền là họ sợ oai thần phật nên còn kiêng nể và khuyên con nên đi tìm các vị trụ trì cao tuổi mà hỏi. Có người lại mách nên đến hỏi sư cụ Vạn Hạnh ở chùa Tiêu, nay đã ngoài bảy mươi tuổi, có khi ngài biết cũng nên...


Vạn Hạnh: Hỏi ta có biết hay không ư? Có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không? Bây giờ ta đã thoát ra ngoài vòng có, không rồi. Kìa kìa bóng nguyệt dòng sông, hỏi xem hai lẽ có không thế nào?


Lý Công Uẩn: Lẽ ra con không nên gợi ra chuyện cũ để làm sư phụ đau lòng, nhưng nếu không tìm ra sự thật, lòng con vẫn còn thắc mắc khôn yên... Có người bảo được nghe một thầy phù thủy qua làng nói bóng gió, sư phụ chính là... cha của con. Vậy xin sư phụ nói cho con biết, người có phải là cha của con không? (nhìn chăm chú xem nét mặt Vạn Hạnh có lộ vẻ xúc động hay không) Đã bao năm rồi con thèm gọi một tiếng cha ơi mà không được! Con cũng nghĩ đến sư phụ lúc này ở chùa hẳn là cũng rất cô đơn giữa khoảng hư không rộng lớn. Hẳn lòng người đã tịch tĩnh như lòng sông không gợn sóng, cho nên không vướng chút bụi trần... Nhưng con lòng trần vẫn còn nặng, không thể điềm nhiên được như sư phụ...


Vạn Hạnh: (thủng thẳng nói) Nói một cách nào đó thì ta cũng là cha của con...


Lý Công Uẩn: (rối rít) Người nói như thế là...


Vạn Hạnh: Phật dạy: con người có sinh thân cũng gọi là ứng thân, là do thân thể thụ bẩm của cha mẹ. Ta không phải là cha của sinh thân con, nhưng nuôi dạy con nên người, khơi dậy Phật tính trong lòng tự tính của con, như vậy cũng là người cha của pháp thân  con.


Lý Công Uẩn: Trời! Bạch sư phụ...


Vạn Hạnh: Một người cha đẻ ra một đứa con, người ta bảo là có đứa con, nhưng nếu không biết nuôi dạy để con thành người có hại cho xã hội chẳng thà không có nó còn hơn. Pháp thân là hiện thân của chân lý, theo Đại thừa, đó là hiện thân của tính Không. Theo Tiểu thừa, đấy là hiện thân của giáo pháp gồm, giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Phật giáo Mật Tông gọi Pháp thân hay Pháp giới thân là Pháp giới thể tánh trí và biểu tượng là mặt trời. Đại nhật Như Lai. Hễ thấy được mặt trời là thấy được vạn vật.


Lý Công Uẩn: Không ngờ con chỉ cách biệt sư phụ một thời gian mà Người đã ngộ ra bao chân lý uyên thâm.


Vạn Hạnh: Cái đó nhờ ở đời sống cô liêu của ta. Kinh Pháp cú có câu "Ai đã từng nếm mùi vị cô liêu, người ấy càng ưa nếm hương vị của chính pháp". Một tâm hồn khi đã chứng nhận chính pháp cũng trong và mát như dòng suối ngọt. Kinh Pháp hoa nói Đức Phật sống giữa thế gian như sư tử giữa đám thú rừng, không sợ hãi gì hết, nhưng cũng cô đơn như người cha già sang cả giữa đám tùy tùng chỉ mong đợi duy nhất ngày trở về của đứa con hoang. Ta cũng bao ngày chờ đợi đứa con hoang...


Lý Công Uẩn: (sửng sốt) Người bảo con là đứa con hoang?


Vạn Hạnh: Từ khi con bước chân vào con đường làm quan, con đã bắt đầu mê muội, chỉ lo thờ vua mà không nghĩ đến cảnh khổ của dân. Người làm quan được hưởng sự ưu đãi, riết rồi thành ghiền, thèm khát cảnh vinh thân phì gia mà quên dân chúng.


Lý Công Uẩn: Sư phụ đã thấy như vậy sao trước đây không cảnh tỉnh con?


(còn tiếp)


Nguồn: Thuận Thiên Lý Công Uẩn. Tiểu thuyềt-kịch của Hoài Anh. NXB Văn học liên kết cùng Nhóm Văn chương Hồn Việt xuất bản, 2008.


 www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »