tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18982813
Tiểu thuyết
14.11.2009
Hoài Anh
Thuận Thiên Lý Công Uẩn

TẮT ĐÈN ĐỔI CẢNH


Thiền phòng của Vạn Hạnh.


Phía trước có tượng đầu người mình chim, mặt người có đôi mày thanh và hơi dài, cặp mắt nửa nhắm, hơi xếch, đuôi mắt dài và hơi quặp xuống, làn môi khép lại và như hơi cười. Dọc mũi thẳng, cao. Tóc thắt bằng dải điểm hoa tạo thành một bức trên đầu (giống như pho tượng đá chùa Phật Tích).


Màn mở, Vạn Hạnh đang ngồi kiết già, hai chân xếp bằng, hai bàn tay để ngửa trong lòng, mình mặc áo cà sa.


Vạn Hạnh bảy mươi tuổi, đầu trọc, lông mày bạc, trán rộng, mắt sáng, tiếng nói như chuông, hai vai và cổ đầy đặn, phần trên thân thể như sư tử, thân thể tròn trịa như cây đa, da mịn màng, tay chân mềm mại, ngón tay dài, nét mặt trầm tĩnh.


Vạn Hạnh: (đọc kệ)


Thân như điện ảnh hữu hoàn vô


Vạn vật xuân vinh thu hựu khô


Nhậm vận thịnh suy vô bố úy


Thịnh suy như lộ thảo đầu phô  


Quách Ngang sáu mươi tuổi, gầy còm ra vẻ bậc chân tu khổ hạnh, đội mũ ni, mặc áo thâm, ra vái chào Vạn Hạnh.


Quách Ngang: Bần tăng Quách Ngang đảnh lễ trước đại sư.


Vạn Hạnh: (mở mắt ra) Có việc gì mà Phật giá của ngài Tăng thống dời gót tới đây, xin cho bần tăng này được biết.


Quách Ngang: Việc gì à? Trường kiếp nạn của Phật môn đã tới rồi mà ngài còn hỏi việc gì? Chúng tăng vì ngài mà bị liên lụy, quân lính hễ thấy người nào trọc đầu là bắt vào trong điện tra hỏi bắt phải khai ra ai là người tạo ra mấy câu sấm đang được lũ trẻ hát khắp nơi. Vua còn ra lệnh róc mía trên đầu họ, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu họ cho chảy máu ra, vua cười rầm lên. Ngay cả tôi cũng bị róc mía trên đầu vì tôi không biết cách cai quản Phật môn, để xảy ra chuyện nhà sư dạy trẻ hát lời dồng dao ngụ ý phản loạn. (gỡ chiếc mũ ni để lộ ra đầu trọc có những vết dao. Vạn Hạnh nhìn kỹ những vết chém ngay ngắn, gật gù không nói gì, Quách Ngang đội mũ vào). Tôi bị róc mía trên đầu máu chảy chan hòa, may có thuốc dấu dịt nên mới cầm được máu. Úi chu cha! Cảnh trong điện rùng rợn chẳng khác gì trong bức tranh Thập điện ở vách các chùa ấy! Nếu dưới địa ngục A Tỳ có lũ quỷ sứ rót sắt nung chảy trong lò vào miệng tội nhân, hay bắt người nằm trên giường sắt rồi dùng lửa nướng cho da thịt phồng rộp lên thì ở trong điện vua Ngọa Triều cũng đủ hình: bào lạc, đao sơn, kiếm thụ! Bọn đao phủ đầu trâu mặt ngựa cũng chẳng khác gì quỷ sứ ở dương gian! Nam mô A Di Đà Phật cứu khổ cứu nạn (chắp tay niệm).


Vạn Hạnh: Mãi đến tận giờ ngài Tăng thống mới biết có quỷ vương giáng thế à?


Quách Ngang:Chính vì đại sư cứ hay can thiệp vào chính sự, nên nhà vua mới có cớ trừng trị những người tu hành... (nhìn pho tượng đầu người mình chim, ngạc nhiên) Ủa! Sao ở đây cũng có pho tượng đầu người mình chim giống như ở chùa Phật Tích?


Vạn Hạnh:Tôi thấy pho tượng đầu người mình chim quá đẹp, nên cho thợ đá rập kiểu, tạc pho tượng này để bày ở đây.


Quách Ngang:(chăm chú nhìn Vạn Hạnh) Hình như quê ngài ở Tiên Du, nơi có chùa Phật Tích thì phải?


Vạn Hạnh:(thản nhiên) Vâng, tôi từ nhỏ đã được đến xem ngôi chùa trên ngọn đồi Phật Tích trong quầng núi Lạn Kha xưa gọi là Tiên Châu Sơn tự.


Đến đời Cao Biền lại dựng chùa Kim Ngưu ở đây. Trong chùa Phật Tích, có tượng A Di Đà, tượng Kim Cương, tượng đầu người mình chim người Tây Trúc gọi là Ca Lăng Tần Già  và những bệ đá bốn mặt được khắc hình ở trung tâm một bông sen, có hình lá bồ đề, và hai bên với năm nhạc thần mỗi một bên tấu nhạc. Từ hồi nhỏ tôi đã say mê những công trình điêu khắc đó, nên khi về tu ở chùa này, tôi phục chế những tượng và bệ đó ở đây để lưu lại chút kỷ niệm tuổi ấu thơ... (mơ màng theo đuổi những kỷ niệm xưa như không quan tâm gì đến hiện tại)


Quách Ngang: (nhíu mày nghĩ ngợi) Nếu ngài ở Tiên Du chắc đã được nghe một câu chuyện kỳ lạ. Số là vùng đó có một vị trưởng giả, nhà mấy đời theo đạo Phật, nhưng chỉ là cư sĩ tu tại gia. Vị trưởng giả đó hâm mộ đạo Phật chẳng kém gì ông Cấp Cô Độc ở thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà bên Tây Trúc ngày trước. Có vị tăng nào đến nhà khuyến hóa, ông cũng mời thụ trai linh đình, còn thiết lập tịnh xá để các tì khưu dừng chân giảng pháp giống như Kỳ Viên Hiến Đức Phật vậy. Ấy thế mà ông ta không biết dạy con, để chúng đi theo tên Nguyễn Thủ Tiệp chống lại đức Đinh Tiên Hoàng đế, sau bị giết cả họ.


(Vạn Hạnh hơi đổi sắc mặt nhưng cố giữ bình tĩnh). Ấy đó, ấy đó, Phật tử mà dính vào ba cái chuyện chính trị, chính em là bị quả báo nhãn tiền như thế đó! Ngài quê ở Tiên Du mà không biết chuyện đó à?


Vạn Hạnh:Tôi sớm bước vào cửa không nên từ lâu đã để ngoài tai những chuyện đó.


Quách Ngang:Đã biết như thế, mà ngài còn đa mang chuyện thị phi. Nếu ngài còn làm như vậy tôi e rằng tăng chúng sẽ bị nhà vua trừ diệt hết cho tuyệt hậu họa. Không những dòng Tì Ni Đa Lưu Chi  của ngài bị diệt đã đành mà dòng Vô Ngôn Thông  của tôi cũng bị vạ lây. Ngài có biết thiền sư Hoài Hải Bách Trượng  dạy như thế nào không?


Vạn Hạnh: Xin ngài Tăng Thống cứ cho nghe.


Quách Ngang:Có nhà sư hỏi Bách Trượng pháp môn đốn ngộ của Đại Thừa là gì? Bách Trượng nói: "Các ngươi trước hết phải dứt sạch hết các duyên, dẹp tất cả mọi sự thiện và bất thiện, thế gian và xuất thế gian, hết thảy các pháp, đừng nhớ nghĩ suy tưởng đến. Buông bỏ thân để cho thân tâm được tự tại. Tâm như gỗ đá không có gì để phân biệt. Tâm không có chỗ nào để mống niêm khởi. Tâm địa nếu trống không thì mặt trời trí tuệ tự nhiên hiện ra, như mây tan để lộ mặt trời. Đại sư còn dính vào chính sự như vậy là trái với bản chất của Thiền học và do đó phương pháp làm cho hoạt động đó có kết quả cũng ngược với phương pháp hành trì của Thiền học.


Vạn Hạnh: Tôi lại hiểu ý của ngài Bách Trượng một cách khác. Lục tổ Huệ Năng nêu tôn chỉ của Thiền là Vô Trụ, pháp môn của Thiền là Vô Niệm. Tức là người theo đạo Phật phải làm sao đình chỉ cắt đứt các tác dụng phức tạp của tình cảm, của ý thức, cho lòng tĩnh lại như mặt nước lặng gió, từ đó mà đi đến các hoạt động siêu việt của chúng, nói cách khác: Vô Niệm là nhìn thẳng vào hiện thực không gán ghép cho hiện thực bất cứ một ý niệm gì. Vậy là hiện thực có đó, hiện ra thực đó hay không có đó (có trước mặt ta) thì bản thân nó giấu trong mình các bản chất của nó. Nghĩa là tính tức vô tính. Khi đức Ti Ni Đa Lưu Chi đến chùa Pháp Vân thì gặp Pháp Hiền  đang thụ giới với sư Quách Duyên. Đức Tì Ni nhìn kỹ vào mặt Pháp Hiền hỏi rằng: "Người họ gì?" Pháp Hiền hỏi lại: "Hòa thượng họ gì?" Đức Tì Ni lại hỏi "Người không có họ à?" Pháp Hiền nói: "Sao lại không có nhưng đố hòa thượng biết là gì?" Đức Tì Ni quát to lên rằng: "Biết để làm gì?" Pháp Hiền tỉnh ngộ sụp xuống lạy và xin theo học. Theo quan điểm Đại Thừa, tính (họ) tức vô tính, (hiểu theo nghĩa là tính Phật). Từ chỗ vô tính ấy, Thiền tông nỗ lực tìm cái tính Phật ẩn tàng trong từng con người nói riêng, vạn vật nói chung. Trong cuộc đối đáp này, cả hai bên đều không đụng tới một lý thuyết nào của Thiền, nhưng cho thấy Thiền đã nhập vào họ như một lẽ tự nhiên bằng các sinh hoạt thường ngày. Thiền chỉ thẳng vào chân lý đó. Câu chuyện nói lên rằng đức Tì Ni đã mang mật chỉ tâm ấn của Bồ Đề Đạt Ma truyền vào nước ta từ chùa Pháp Vân và Pháp Hiền cùng thầy Quách Duyên đã chuẩn bị đủ điều kiện để tiếp thu mật chỉ Tâm ấn.


Do chỗ truyền giáo theo lối Tâm ấn, các thiền sư nhìn thẳng vào hiện tượng vào thực tại. Thực tại đó là cái nhục mất nước nhân dân khốn khổ lầm than dưới sự đô hộ Tùy, Đường. Muốn cứu vớt mình, thiền sư phải cứu vớt người, thông cảm với con người chịu khổ và làm điều thiện.


Quách Ngang: Theo tôi biết thì chỉ từ ngài Định Không thuộc đời thứ tám dòng Tì Ni mới bắt đầu kết hợp với Mật tông và tín ngưỡng dân gian bản địa, chứ các đời trước vẫn hành trì đúng kiểu học thuật của Thiền học.


Vạn Hạnh: Thế theo ngài thì chỉ dòng Vô Ngôn Thông của ngài mới hành trì đúng kiểu học thuật của Thiền học hay sao?


Quách Ngang: Đúng như vậy. Sư Thiện Hội thường vân du khắp nơi tìm thầy học đạo, sau gặp Cảm Thành , học trò ngài Vô Ngôn Thông ở chùa Kiến Sơ bèn thờ làm thầy. Một hôm sư hỏi Cảm Thành: "Trong kinh Phật có nói đức Thánh Ca Như Lai phải tu hành trải qua bao nhiêu kiếp tăng mới thành Phật thế mà Đại đức thường dạy: Tâm tức Phật, Phật tức Tâm, đệ tử không hiểu".


Sư Thành nói: "Trong kinh thì người nào nói câu ấy?" Sư nói: "Há chẳng phải là Phật nói ư?" Sư Thành nói: "Nếu là Phật nói thì làm sao ở Kinh Văn Thù, Phật lại nói ta trú ở thế gian bốn mươi chín năm, chưa từng đặt ra một câu để nói với ai bao giờ. Vả theo chính đạo thì mò theo văn để đạt đạo là Nệ, học Phật để cầu Phật là Mê, bỏ tâm mà cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm mà cầu Phật là Ma. Nay ngài không lo tu Tâm mà dính vào chính sự, như vậy chẳng phải là ngoại đạo hay sao?


Vạn Hạnh: Ngài bảo chỉ có phái Tì Ni mới chuyển sang hoạt động chính trị, thế còn Khuông Việt đại sư  ở phái Vô Ngôn Thông thì sao?


Quách Ngang: (lúng túng) Cái đó... cái đó...


Vạn Hạnh: Ngài Khuông Việt đại sư năm bốn mươi tuổi tiếng tăm vang dậy ở triều đình, Đinh Tiên Hoàng đế mời đến hỏi thăm, sắc chỉ tôn làm Tăng thống. Niên hiệu Thái Bình thứ 2, vua ban cho tước hiệu Khuông Việt đại sư, đến đức tiên đế lại càng kính trọng. Phàm những việc quân, việc nước, sư đều có tham dự. Sau khi thắng xong giặc Tống, đại sư lại giúp tiên đế làm bài từ Vương lang quy tiễn sứ Tống là Lý Giác về nước khiến sứ Tống phải phục nước ta là nước văn hiến. Như vậy chẳng phải Khuông Việt đại sư cùng tham gia chính sự là gì?


Quách Ngang: (lúng túng) Cái đó... cái đó...


Vạn Hạnh: Người hoạt động chính trị giúp dân, giúp nước là muốn noi theo các bậc Thánh. Có người hỏi. Phật và Thánh khác nhau thế nào? Một thiền sư trả lời: "Ly hạ trùng dương cúc, chi đầu thục khí minh" (Cúc dưới giậu đang tiết trùng dương, oanh đầu cành trong mùa xuân ấm). Câu này giống như câu của một thiền sư Trung Hoa khi được hỏi về ý chí của Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc đến là gì? Thiền sư đó trả lời: "Cúc hoa khai xứ thị trùng dương" (Hoa cúc nở trong tiết trùng dương). Ý nói là hoa nở đúng mùa, như sư đến đúng lúc, hoa nở lúc ấy là hợp lẽ thường, sư đến cũng là sự tất yếu. Ở đây thiền sư nước ta nói: Hai hiện tượng Phật và Thánh đều hợp lẽ thường, tất yếu, nhưng sự xuất hiện có khác nhau, vì cơ duyên cũng như cúc mùa thu, oanh mùa xuân. Khi đất nước nguy vong, sinh linh đồ thán, thì bậc Thánh ra đời dẹp loạn cứu dân cũng là đúng thời tiết, hợp lẽ thường, không khác gì Phật xuất thế cứu vớt chúng sinh khỏi đường mê vậy.


Quách Ngang: Thôi không nói dằng dai nữa, tôi chỉ xin hỏi ngài có phải là tác giả mấy câu sấm kia không?


Vạn Hạnh: Nay cứ xét lời sấm có câu Cù vĩ ẩn Chu Minh và Miên thụ hiện long hình đúng là có nói đến cây gạo trồng ở chùa Chu Minh, thì chắc chắn câu sấm ấy là của thiền sư La Quý An đặt ra.


Quách Ngang: Tại sao thiền sư La Quý An lại có phép đoán trước những việc chưa xảy ra như vậy?


Vạn Hạnh: Ngài có biết A Tỳ Đạt Ma chia mục đích tu Thiền làm bốn loại hay không? Bậc thứ nhất là "Đắc biện pháp lạc trụ" có nghĩa là nhờ tu định mà thân tâm được an tĩnh. Bậc thứ hai là "Đắc thắng tri kiến" có nghĩa là được thần thông. Bậc thứ ba là "Đắc phân biệt tuệ" tức là thấy được tính, tướng của pháp như thế. Bậc thứ tư là "Tận chú phiền não" là được giải thoát tối cao.


Như vậy có thể thấy thiền sư La Quý An đã tu đến bậc "Thắng tri kiến" nên có trình độ thần thông. Thiền của ngài không phải như bọn ngoại đạo bảo mắt không nhìn sắc, tai không nghe tiếng, mà vẫn cứ nhìn, vẫn cứ nghe đúng như thực nghĩa là không ham đắm, không chấp trước, không để mình bị kẹt cứng trong cái mình thấy, nghe hay biết mà luôn luôn nhìn nghe với tinh thần tuyệt đối: đó là chỗ cực trí của Thiền. Cái tâm như vậy là đạt đến trình độ không còn phân biệt đối tượng và tư lự, tâm chỉ tập trung vào một điểm duy nhất  không dừng lại ở hiện tượng sự vật, nhưng nền móng ở bên trong thì bất biến, bất dịch, luôn luôn hiện tại ví như lòng sông dưới làn nước chảy. Nền móng bản thể của sự vật như thế không có thời gian, đấy là điểm vô thời gian tâm linh luôn hiện tại ở cái nguồn vạn vật đồng nhất thể . Biết về sự việc xảy ra lúc này không xác định được sự kiện. Điều người ta gọi là tiên tri của Thần linh thực ra là một sự hiểu biết không thời gian của chính lúc này nó phù hợp với sự tự do của ý chí nhân loại trong thời gian. Người học được phép Tổng trì tam ma địa  là đã thông được ý thức Tam muội , nắm được cái pháp toàn diện chân không  không chấp của tâm linh thực nghiệm, vượt lên tất cả hệ thống tri thức nên đã có thể "dung tam tế" dung hợp được cả ba cõi quá khứ, hiện tại, vị lai, đạt tới mức "nhậm vận"  vậy.


Quách Ngang: Lời Ngài nói chẳng qua chỉ là gieo rắc mê tín dị đoan của phường bàng môn tả đạo.


Vạn Hạnh: Sự tiên tri không có gì là huyền bí hay hoang đường cả. Nếu một con người có thể biết trước một sự việc sắp xảy ra nhờ suy luận thì làm sao một ý thức vô biên vô lượng như ý thức Tam muội lại không biết trước việc tương lai xa được. Cái ý thức vũ trụ ấy Phật giáo gọi là Thức .


Quách Ngang: Thì ra ngài vẫn chối không nhận mình là tác giả mấy câu sấm được rao truyền. Thế còn tác giả cái thai trong bụng bà Phạm Thị, ngài có nhận hay không?


Vạn Hạnh: Ngài hẳn còn nhớ, Kinh Tương ưng bộ nói: "Thánh nhân không tranh luận với thế gian. Cái gì người trí nói là có, ngài cũng nói là có, cái gì người trí nói là không, ngài cũng nói là không?", chỉ có điều cần xét, người nói đó có phải là người trí hay là kẻ tà?


Quách Ngang: Một người đàn ông cấm dục còn khí huyết phương cương sống kề gần với một cô gái trẻ đẹp phây phây… khớ khớ… đúng là mỡ đến miệng mèo… (vội bịt miệng) Chết chết! Khẩu nghiệp… (lẩm bẩm) Nếu ăn vụng mà biết chùi mép thì cũng không sao, đằng này vẫn làm ra vẻ đạo mạo… Hèn chi người ta bảo: Thà ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối… Hì hì….


Vạn Hạnh: Thông thường, ngài tặng cho người ta vật gì mà người ta không nhận thì…


Quách Ngang: (ngơ ngác)


Vạn Hạnh: Thì vật ấy thuộc về người tặng!


Quách Ngang: Ngài bảo tôi nói dối cái gì!


Vạn Hạnh: Ngài không nói nhưng cái đầu của ngài nói! (Quách Ngang vô thức đưa tay sờ đầu)


Ngài nói là vua cho róc mía bừa bãi trên đầu ngài, nhưng nếu như vậy thì vết dao phải loạn xạ mới đúng. Nhưng tôi thấy những vết dao trên đầu ngài rất ngay ngắn, tựa hồ người róc chỉ chủ tâm lưu lại vết dao trên đầu mà không để hại cho tính mạng ngài. Phải chăng đó chỉ là khổ nhục kế để lừa người như Hoàng Cái đời Tam Quốc?


Quách Ngang: (thẹn đỏ mặt) Tôi nghĩ tình đồng đạo nên đến nhắc nhở ngài không ngờ ngài lại bỏ ngoài tai. Nếu sau này xảy ra chuyện miệng đời đàm tiếu, để nhục cho cửa Thiền, là có kẻ khẩu Phật tâm xà, thì dù tát cạn nước Tương Giang cũng không đủ rửa tiếng xấu (vùng vằng bỏ đi)


Nhớ lại chuyện cũ, nét mặt Vạn Hạnh thoáng buồn


Đèn tắt. Ánh sáng huyền ảo hiện ra. Pho tượng Kinnari đầu người mình chim cúi xuống hỏi Vạn Hạnh.


Tiếng pho tượng: Này ông Vạn Hạnh, ông tự nhận là lầu thông kinh điển nhà Phật, vậy tôi đố ông câu này:


Ai đứng ai đi?


Vạn Hạnh: Có khó gì câu ấy. Phật đứng dừng lại, còn tên cướp Anlimada đang đi trên con đường hung bạo hận thù.


Tiếng pho tượng: Giỏi! Còn câu này nữa:


Ai ngồi ai chạy?


Vạn Hạnh: Phật ngồi tĩnh tọa con ba mươi chàng trẻ đang chạy đi tìm người dân nữ ăn cắp đồ đạc bỏ trốn.


Tiếng pho tượng: Ai khóc ai cười?


Vạn Hạnh: Ma vương dụ dỗ Phật không xong, khóc vì tủi hận. Phật cười vì tìm thấy niềm thanh tĩnh an lạc.


Tiếng pho tượng: Ai quên ai nhớ?


Vạn Hạnh: (ngơ ngác chưa nghĩ ra)


Tiếng pho tượng: Tôi giải cho ông nghe nhé.


Bà Phạm Thị đã quên quá khứ, còn ông nhớ nên sinh phiền não.


Bà đã thành vô danh còn ông đang vướng mắc với giả danh


Bà đã tới Bồ đề  còn ông vẫn quẩn quanh trong mạt na thức ...


Ánh sáng huyền ảo tắt, đèn sáng lên.


Vạn Hạnh: Ta nghĩ ra rồi. Phật dạy: "Trụ vô sở trụ là trụ nơi Bồ đề, trụ vô chấp là trụ Bồ đề, trụ Pháp không là trụ Bồ đề, trụ nơi hết thảy pháp không có thể tướng là trụ Bồ đề".


Kinh Thủ lăng nghiêm nói: "Như một người yên lặng một chỗ trong lúc đó cả mười nơi đều gióng trống và cả mười nơi ấy đều được nghe cùng một lúc. Phải đạt tới mức viên thông đồng thời thấu suốt tất cả mọi phía, mới có thể thâm đạt pháp tướng. Thành Lăng Già trên đỉnh núi, hiểm tuyệt không có cửa vào, phải vận dụng trí tuệ Bát nhã  từ trên không bay xuống Vô minh  không còn, như khi biết là xà cừ thì trai bạc biến mất. Khi biết là cái thừng thì cái thừng - rắn biến đi.


(vui mừng thỉnh một hồi chuông lễ tạ Phật, rồi ngâm)


Từ trong hạt bụi chẻ đôi


Thấy ra kinh quyển, thoát đời hồng hoang


Rào mê xô ngã hai hàng


Tắm phàm thân ánh đạo vàng chân như


Vạn Hạnh lại bình tĩnh ngồi kiết già như cũ



(còn tiếp)


Nguồn: Thuận Thiên Lý Công Uẩn. Tiểu thuyềt-kịch của Hoài Anh. NXB Văn học liên kết cùng Nhóm Văn chương Hồn Việt xuất bản, 2008.


 www.trieuxuan.info


 


 



 



 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »