tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813389
Tiểu thuyết
11.11.2009
Hoài Anh
Thuận Thiên Lý Công Uẩn

Ông Đồ: Mấy câu này có nghĩa:


Đầu rồng ngóc dậy nơi núi lớn, núi lớn đây là núi Đại Vân ở Hoa Lư nơi dựng những điện Bách Bảo Thiên Tuế, Phong Lưu, Vinh Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc.


Đuôi rồng còn lánh nơi chùa Chu Minh, tức chùa ở Cổ Pháp.


Mười tám hạt nhất định thành


Cây gạo hiện hình rồng


Trong tháng chạp thỏ và gà


Chắc chắn thấy mặt trời ló ra


Theo tôi hiểu thì thập bát tử là chỉ người họ Lý, quê ở Cổ Pháp vì ở đây có chùa Chu Minh trồng cây gạo, làm quan ở Hoa Lư vì ở đó có núi Đại Vân, đến tháng chạp năm Mão hay năm Dậu thì sẽ lên ngôi Thiên tử...


Lý Công Uẩn: Sao Đào Chi hậu lại giải thập bát tử là người tuổi Thìn năm nay mười tám tuổi.


Ông Đồ: Đào Chi hậu giải như vậy là để đánh lạc hướng nhà vua, nhằm cứu ngài đó thôi. Khi ngài đang ở Hoa Lư, nếu nhà vua biết chắc câu sấm ứng vào ngài thì nhất định hại ngài rồi...


Lý Công Uẩn: Thảo nào tôi nghe nói Đỗ Ngân đã xin nhà vua bắt tất cả những người họ Lý giam lại cho tuyệt hậu họa... Nhưng tại sao tiên sinh lại biết chuyện đó ạ?


Ông Đồ: Ngài chả từng khen tôi nho học uyên thâm, thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, trung tri nhân sự là gì?


Lý Công Uẩn: Nếu tiên sinh không muốn nói thì tôi cũng không dám ép. Chỉ xin tiên sinh giảng thêm cho về địa lý của thành Đại La này và chuyện Cao Biền trấn yểm như thế nào?


Ông Đồ: Chắc con bé nhà tôi lại bép xép về chuyện thế đất với ngài phải không. Tôi xin kể về chuyện Cao Biền trước vì nó có dính dáng đến bài kệ của thiền sư La Quí An. Tôi nghe truyền lại vì Cao Biền là Kiêu vệ tướng quân nên được Đường Ý Tông cho lãnh chức Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ. Cao Biền đến huyện Nam Định và huyện Phong Châu , dân bản địa đông đến năm mươi nghìn người, đang mùa gặt lúa, Cao Biền đánh úp một trận phá hại dữ dội rồi tiến sang đánh quân Nam Chiếu, một vương quốc trải dài từ Vân Nam bên Tàu đến phía Đông Bắc Giao Châu. Lại phá được quân Nam Chiếu, giết tướng ấy là Đoàn Tù Thiên và chém binh người Thái trắng hơn vạn cái thủ cấp. Vua Đường bèn bỏ phủ đô hộ đặt quân Tĩnh Hải dùng Cao Biền làm tiết độ sứ. Cao Biền đắp La Thành chu vi dài 1982 trượng lẻ 5 thước, cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước. Bốn thành có nữ tường  cao 5 thước 5 tấc. Địch lâu 55 sở, Môn lâu 55 cái. Úng môn (cửa tò vò) 6 cái. Ngòi nước 3 cái. Đường bộ 34 đường lại đắp chu vi dài 2125 trượng 8 thước, cao 1 trượng 5 thước, chân đê rộng 2 trượng và xây hơn 40 vạn gian nhà.


Các cụ nói Cao Biền giỏi thuật địa lý, thấy nước ta có kiểu đất nào phát đế vương đều tìm cách trấn yểm. Cao Biền tự chôn mình trong địa huyệt của kiểu đất phượng hoàng ấp noãn, chỉ trăm ngày lại hồi sinh rồi làm nên sự nghiệp đế vương danh vọng bốn biển. Cao Biền nhờ bà già gần đấy, mỗi ngày đốt giùm một nén hương, đủ trăm ngày trăm nén thì gọi dậy, rồi xuống huyệt đạp cho đất lấp lên trên mình. Nhưng vì quên không yểm thần đất nên vị thổ thần hộ huyệt giận mà khiến lũ chuột tới tha trộm của bà lão ba nén hương. Khi đốt 97 nén thấy hết hương, bà lão tưởng đã đủ trăm ngày mới gọi Biền dậy. Cao Biền ngồi dậy thấy mạch đất mới được 97 ngày chưa quán khí, thành ra không làm gì được, người cứ run bắn lên. Biết trời không cho mình, Cao Biền thất vọng ra về. Vì vậy mới có câu Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non...


Có tiếng cười khúc khích của cô cắt cỏ nghe trộm bên trong.


Ông Đồ vội suỵt. Lý Công Uẩn cất tiếng cười sảng khoái.


Ông Đồ cũng cười theo, không khí vui hẳn lên.


Lý Công Uẩn: Thảo nào hồi nhỏ tôi nghe người lớn kể chuyện: Cao Biền thường cưỡi diều giấy bay khắp nước ta, thấy nơi nào có long mạch có thể kết huyệt phát đế vương thì tìm cách trấn yểm. Đi qua Thanh Hóa thấy có kiểu đất hàm rồng, Cao Biền đã tìm cách trấn yểm nhưng vô hiệu. Đi qua sông Trà Khúc thấy có long mạch, Cao Biền dùng phép chém đứt đầu rồng, nước sông tuôn ra đỏ như máu, nên chỗ núi ấy có tên là Long Đầu.


Ông Đồ: Vùng sông Trà Khúc khi ấy còn thuộc lãnh thổ Chiêm Thành, nếu có ứng thì ứng vào Chiêm Thành, chứ không liên quan gì đến nước ta.


Lý Công Uẩn: Tôi nghe nói Cao Biền còn tìm cách triệt các thần bản địa linh ứng ở nước ta. Hắn cho bày cỗ bàn linh đình, mời thần về hưởng, nhưng bố trí một người ngồi đồng, để khi thần nhập vào người đó hâm hưởng cỗ bàn thì rút gươm chặt đứt đầu người đó nhưng các thần Tản Viên, Tô Lịch, Bạch Mã... khi bay qua đàn tế, đều nhổ bọt vào cỗ tế, mà không thèm ăn.


Ông Đồ: Chuyện ấy không biết có thật hay không chỉ biết qua chuyện đó, thấy được rằng: Cao Biền đã muốn xưng vương ở đất này nên suy tính đủ mọi mặt thiên thời, địa lợi, nhân hòa.


Thiên thời là lúc ở bên Tàu sắp xảy loạn Ngũ quí, quyền thống trị của nhà Đường không tập trung được nên không thể mở rộng uy lực khống chế của nó. Cơ hội này đã khiến cho các thế lực nhược tiểu trỗi dậy muốn giành thế chủ động. Về địa lợi, Giao Châu lọt vào giữa chân vạc. Phía Nam là Chiêm Thành, phía Bắc là Trung Hoa, phía Tây là Nam Chiếu. Thế lực nào chiếm được vị trí này, có thể khuyếch trương ảnh hưởng để khống chế cả ba mặt.


Khi Cao Biền đánh dẹp Nam Chiếu đã hao tổn rất nhiều tâm cơ để khơi đào kênh Thiên Uy, xây đắp thành Đại La, thiết lập những điểm chiến lược, đủ tỏ ra ông muốn dựng nên cơ nghiệp ở phương Nam, để làm bàn đạp tấn công lên phương Bắc mở rộng dần đất đai, hầu làm bá chủ toàn cõi Trung Hoa. Việc Cao Biền bị gọi về Tàu rồi chuốc lấy cái họa sát thân đủ chứng tỏ ông có dã tâm tranh bá đồ vương.


Còn việc Cao Biền chọn Đại La làm nơi xây thành cũng chứng tỏ ông có tầm mắt nhìn địa thế khá tinh, như đã nhận ra núi Nùng là mũi rồng, núi Tam Sơn là râu rồng. Chỉ tiếc rằng thiếu nhân hòa, không có người tài giỏi giúp đỡ nên đã cắm đất xây thành chệch mất một dặm về phía Nam.


Lý Công Uẩn: Tiên sinh nói như thế là thế nào?


Ông Đồ: Một là Cao Biền kém tài, kém tầm, hai là thần đất này linh thiêng làm cho ông mờ mắt không nhận ra chỗ nào là rốn rồng để xây thành.


Lý Công Uẩn: Như vậy tiên sinh đã tìm ra chỗ đất là rốn rồng?


Ông Đồ: Tôi chỉ đoán mò ra đất thôi, còn lòng trời có cho thì mới được.


Lý Công Uẩn: Rốn rồng là chỗ nào, thưa tiên sinh?


Ông Đồ (cười): Thiên cơ bất khả lậu... Chỉ người nào biết được lòng trời thì mới hiểu được huyền cơ của Tạo hóa.


Lý Công Uẩn: Muốn biết được lòng trời thì phải như thế nào ạ?


Ông Đồ: Sách Thượng thư nói: "Trời trông thấy do tự dân ta trông thấy. Trời nghe thấy do tự dân ta nghe thấy". Chữ Thánh có chữ Nhĩ là tai, chữ Khẩu là miệng, bên dưới là chữ Vương, ý nói bậc vua Thánh phải nghe biết nguyện vọng của dân. Còn chữ Thiên, dưới hai nét ngang có hình người dạng hai chân trên mặt Đất. Thuyết quái truyện nói: Kiền là trời, cho nên gọi là cha; Khôn là đất cho nên gọi là mẹ. Còn người đầu đội Trời, chân đạp Đất, được Trời che Đất chở, phải làm nên sự nghiệp để xứng đáng là vạn vật chi linh trong vũ trụ đồng nhất thể. Nếu có cái tâm hòa đồng với vạn vật thì sẽ hiểu được lòng trời. Quẻ Nhu, Thoán truyện nói: "Vị hồ thiên vị, dĩ chính trung dã". (Muốn mưu toan việc lớn thì phải tìm được chỗ chính trung). Rốn rồng là trục trung tâm nối trời và đất.


Lý Công Uẩn: Nếu tiên sinh tìm được đúng chỗ rốn rồng, thì xin chỉ cho biết để tôi xây một tòa thành…


Ông Đồ: (nhìn kỹ Lý Công Uẩn một hồi, rồi đột ngột hỏi)


Xin hỏi ngài một câu, ngài biết ông Nguyễn Thủ Nghĩa là ai hay không?


Lý Công Uẩn (ngơ ngác) Từ nhỏ đến giờ tôi chưa nghe thấy cái tên ấy bao giờ cả.


Ông Đồ: Thế không ai nói cho ngài biết nguồn gốc của ngài như thế nào à?


Lý Công Uẩn: Tôi khi lọt lòng mẹ ra thì mẹ tôi đã qua đời, chỉ biết cha nuôi tôi là thiền sư Lý Khánh Văn và sư phụ tôi là đại sư Vạn Hạnh mà thôi...


Ông Đồ: Tôi nói câu này khí đường đột, nếu ngài không trách tôi là nói lời thất lễ thì tôi mới dám nói.


Lý Công Uẩn: Xin Tiên sinh cứ nói cho tôi biết, đừng ngại ngùng gì cả.


Ông Đồ: Vừa rồi tôi nghe có lão thầy phù thủy tung tin nói, mẫu thân ngài là bà Phạm Thị Ngà hồi tuổi trẻ xinh đẹp, vốn giữ việc quét chùa ở chùa Tiêu, nơi có sư Vạn Hạnh trụ trì. Một đêm gió mát trăng thanh, bà mệt mỏi ngủ quên ở cửa phòng, váy sống hớ hênh. Sư tới buổi niệm Phật về bước qua người bà ta. Thế rồi bà có thai, khi sắp đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, sư bảo bà về chùa Ứng Thiên Tâm ở Cổ Pháp, nơi ấy có sư Lý Khánh Văn em ruột của Vạn Hạnh trụ trì. Một đêm mùa Xuân tháng Ba ngày Tám, bà khăn gói sang chùa Cổ Pháp, nhưng mới đến cổng chùa đã đau bụng. Bà rặn đẻ ngay trước cổng chùa. Nhà sư Lý Khánh Văn nghe thấy tiếng trẻ khóc chạy ra bế đứa trẻ lên. Bà Phạm Thị sau khi đẻ vì ra nhiều máu quá, chết, được chôn cất ngay ở chùa. Từ đấy đứa trẻ ra đời ở cổng chùa được nuôi nấng trong chùa, được đặt tên là Công Uẩn vì chùa thuộc hương Diên Uẩn, lấy họ cha nuôi là họ Lý. Chú bé lớn lên khôn ngoan khác người thường. Đến năm lên bảy tuổi thì cha nuôi đưa về chùa Tiêu cho Vạn Hạnh nuôi dạy. Khi có người hỏi cha đứa trẻ là ai thì lão phù thủy nửa úp nửa mở nói các ông các bà suy ra thì biết. Ở đời thiếu gì kẻ trốn việc quan đi ở chùa, miệng nam mô bụng một bồ dao găm. Chẳng trách được người đời đã có câu: Khuyến thiện trừng dâm, con nào đẻ tháng Ba mồng Tám. Cứu nhân độ thế của nhà ai mất một đền mười. Rồi lão xoay sang điệu hát chèo: Gió Xuân đánh tốc ới a cái dải yếm đào, anh trông thấy oản sao anh chẳng vào dâng hương a ối a... hí... hí…


Lão phù thủy còn bảo đã đánh đồng thiếp cho người xuống địa ngục thấy bà Phạm Thị đang bị quỷ sứ cưa người làm đôi vì phạm tội gian dâm... Phải lập đàn chay cầu siêu cho bà, bà mới mong thoát khỏi cực hình dưới ngục A Tỳ, sớm được đầu thai kiếp khác...


Lý Công Uẩn (đau đớn) Thế ra mọi người nghi ngờ...


Ông Đồ: Ngài còn lạ gì, làm sao bịt được miệng thiên hạ, cốt sao mình ăn ở chính đính là được. Tôi kể cho ngài nghe chuyện ấy là cốt để ngài đề phòng kẻ gian đang mưu mô sâu độc làm hại uy tín của đại sư Vạn Hạnh và của ngài. Bây giờ ngài nên tới chùa Tiêu báo cho đại sư Vạn Hạnh biết để ngài liệu cách đối phó. Ngài Vạn Hạnh có tiếng là liệu việc như thần, có khi chuyện này ngài đã biết rồi cũng nên.


Lý Công Uẩn: Tôi cũng muốn gặp sư phụ tôi để hỏi về nguồn gốc của tôi, kẻo cứ canh cánh trong lòng không làm sao nguôi được. Làm con mà không biết cha mẹ mình là ai, quả là đứa con bất hiếu không đáng sống trong trời đất.


Ông Đồ: Phải, ngài cứ về bàn bạc với đại sư xem nên tính liệu cách nào.


Lý Công Uẩn:Nếu sư phụ tôi hỏi quý danh của tiên sinh thì nên nói như thế nào ạ?


Cụ Đồ: Vừa rồi tôi có hỏi ngài có biết ông Nguyễn Thủ Nghĩa hay không ngài nói là không biết. Bây giờ nếu tôi nói tôi là Trần Minh Long thì cũng không ai biết. Đủ thấy cái biết của con người là hạn chế. Không phải ai sinh ra cũng đã biết hết mà phải học mới biết, có khi lại phải cùng khốn mới biết. Một cái tên lâu ngày không ai dám nhắc đến thì sẽ trở thành vô danh. Trái lại một người có danh thì lắm kẻ không quen biết cũng thấy người sang bắt quàng làm họ. Do đó Phật nêu ra thuyết giả danh, đem nó phân biệt với thực nghĩa. Đức Khổng nếu ra thuyết chính danh, đem nó phân biệt với hư danh. Còn Lão Tử lại nêu ra thuyết vô danh, cho rằng con người chỉ nên làm theo đúng thực chất của mình mà không nghĩ đến danh. Cũng vì thế Khổng Tử sau khi gặp Lão Tử đã phải than rằng: "Chim thì ta biết nó biết bay, cá thì ta biết nó biết lội, còn như con rồng thì ta không biết nó bay lên trời lúc nào. Ta thấy Lão Tử như con rồng vậy"!


Lý Công Uẩn: Kiến giải của tiên sinh quả là siêu quần bạt chúng.


Ông Đồ: Ngài đừng quá khen, tôi chỉ thuộc vào loại cùng nhi tri, còn đại sư Vạn Hạnh mới là bậc tiên tri, tiên giác. Nếu đại sư có hỏi tôi là ai, ngài cứ nói tôi là người tâm phúc của ông Nguyễn Thủ Nghĩa, là người sẽ nhớ ra ngay.


Lý Công Uẩn: Xin cám ơn tiên sinh, giờ tôi xin phép cáo biệt để còn thu xếp lên đường.


Ông Đồ: Xin chúc ngài lên thượng lộ bình an!


(Cô cắt cỏ ra dẫn Lý Công Uẩn đi về phía bờ Hồ Tây)


(còn tiếp)


Nguồn: Thuận Thiên Lý Công Uẩn. Tiểu thuyềt-kịch của Hoài Anh. NXB Văn học liên kết cùng Nhóm Văn chương Hồn Việt xuất bản, 2008.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »