tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20033132
Tiểu thuyết
09.11.2009
Hoài Anh
Thuận Thiên Lý Công Uẩn

GIÁO ĐẦU


Phương Đông đã trải qua một thời kỳ văn triết bất phân, nên mỗi tác phẩm thường có cả phần Kinh chứa đựng triết lý, phần Truyện chứa đựng văn chương (như Luận ngữ, Mạnh Tử; Nam Hoa kinh, Hàn Phi Tử của Trung Hoa, Mahabharata, Bhagavadh Gità của Ấn Độ...) Phần Kinh thực hiện chức năng giáo dục, phần Truyện thực hiện chức năng thẩm mỹ dựa trên cái nền nhận thức.


Khổng Tử nói về giáo dục: "Hưng ư Thi lập ư Lễ, thành ư Nhạc". Giáo dục của một con người đến chỗ thành t?u bắt đầu là lấy thơ văn để làm cho tình cảm phong phú, hưng khởi đấy là giai đoạn mà nhà triết học Alfred North Whitehead (trong cuốn The Aims of Education) gọi là Romance (thơ mộng tình cảm) kế đến phải lấy Lễ tức Lý để uốn nắn con người vào phép tắc có thể đứng vững lập trường để phân biệt phải trái, tốt xấu. Đấy là giai đoạn mà Whitehead gọi là chính xác (precision) giai đoạn thứ ba và cuối cùng là giai đoạn thành tựu ở chỗ điều hòa thành điều lý nhất quán bằng tinh thần của nhạc là hòa điệu (Whitehead dùng danh từ Rhythm) tức là giai đoạn mà Whitehead gọi là tổng hợp phổ quát, (synthesis generalisation). Ba giai đoạn đó hoàn thành một chu kỳ (cycle) tiến hóa của giáo dục.


Dựa trên tinh thần trên, cuốn sách này vừa có phần Tiểu thuyết, vừa có phần Kịch. Phần kịch khi đưa lên sân khấu đạo diễn có thể tùy ý cắt bớt lời thoại với mục đích gây hiệu quả sân khấu. Nhưng đạo diễn và diễn viên cũng nên nghiên cứu phần tiểu thuyết để giúp ích cho việc sáng tạo trong biểu diễn và khán giả sau khi xem kịch cũng nên đọc phần tiểu thuyết, để hiểu rõ thêm bối cảnh của câu chuyện và ý đồ của tác giả.


Như vậy màn trong kịch tương ứng với chương của tiểu thuyết, lớp cảnh trong kịch tương ứng với đoạn của tiểu thuyết.


Thời cổ ở Hy Lạp, sân khấu chứa đựng chất thơ, hầu hết các vở kịch được viết bằng thơ, sau này kịch của Shakespeare, Goethe, Schiller, Corneille, Racine, Hugo, Edmond Rostand... cũng được viết bằng thơ. Nhưng sau đó, thơ ngày càng tách rời khỏi sân khấu. Bretch đã đưa những đoạn đồng ca viết bằng thơ vào kịch, nhưng dàn đồng ca này chứa đựng triết lý, chứ không chỉ minh họa cho tình tiết hay tâm trạng nhân vật. Học tập người đi trước, trong phần kịch có sử dụng nhiều đoạn thơ giống như trong kịch thơ và những đoạn đồng ca giống như trong sân khấu Bretch. Ngoài ra còn phối hợp với kịch câm, ca kịch, vũ kịch, cốt xây dựng một sân khấu tổng hợp, kế thừa đặc sắc của nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam.


Còn về phương diện tiểu thuyết, không nói đến những tiểu thuyết chỉ là kịch trá hình, dùng rặt đối thoại để thể hiện sự kiện và thúc đẩy hành động như tiểu thuyết của Alexandre Dumas (cha), Lê Văn Trương. v.v… Ở phương Tây, vào buổi bình minh của văn học người ta đã phát hiện có tiểu thuyết viết toàn bằng đối thoại. Ở phương Đông, tiểu thuyết chương hồi cung cấp tình tiết, hành động, nhân vật… và cả quan niệm cho sân khấu, vì thế mới có danh từ tuồng pho. Ở phương Tây, trong Graft of Fiction, Percy Lubbock khi đề cập các phương pháp viết tiểu thuyết đã nhắc đến phương pháp kịch trường (drama), ở đó các nhân vật được trình bày như ở trên sân khấu, đọc giả được nghe họ nói và thấy họ hành động. Từ lâu trên thế giới đã có thể loại tiểu thuyết viết theo thể đối thoại.


Trong tiểu luận Về lý thuyết văn xuôi, Eikhenbaum tán thành ý kiến của Otto Ludwig về sự khác biệt giữa hai hình thức kể chuyện có tính sân khấu. Trong trường hợp thứ nhất, sự trần thuật là một trong những yếu tố quyết định của tác phẩm, đôi khi là yếu tố chính. Trong trường hợp thứ hai, đối thoại của các nhân vật được đưa lên hàng đầu, và phần trần thuật đuợc giản lược thành các chú thích cho các cầu đối thoại, nghĩa là sự trần thuật trở thành những lời chỉ dẫn như trong sân khấu. Loại truyện kể này gợi nhớ đến hình thức sân khấu không chỉ vì để nhấn mạnh đến vai trò của đối thoại mà còn vì sự ưu tiên cho việc trình bày các sự kiện, chúng ta có cảm giác những hành động không phải được thậut lại mà như đang diễn ra tên sân khấu, trước mắt chúng ta. Ngôn ngữ đối thoại có tính sân khấu này một mặt sẽ tăng cường việc cá thể hóa nhân vật và mặt khác sẽ gây nghiều thông tin về thái độ của tác giả so với ngôn ngữ người kể chuyện. Điểm bất lợi này lại chính là thuận lợi cho chúng tôi bởi trong tác phẩm này tôi hướng tới một kết cấu mở: sự kiện được trình bày dưới góc nhìn của từng nhân vật, tác giả không áp đặt cho người đọc xem một quan điểm chết cứng nào, nhưng đòi hỏi người đọc, người xem cùng hợp tác trên tinh thần phá chấp của Phật học, vượt lên trên hiện tượng và chân lý thường nghiệm để khám phá chân lý tuyệt đối. Đó cũng chính là mục tiêu của sân khấu gián cách của Bretch và ý đồ của tác giả, đạo diễn phim Rashomon.


Đây mới là những suy nghĩ, tìm tòi bước đầu, rất mong có sự góp ý của đồng nghiệp và độc giả, khán giả yêu quý của chúng ta.


Tác giả


 


Hỡi các môn đồ, mỗi người các con phải học lời của Như Lai bằng chính ngôn ngữ của mình.


Thích Ca Mâu Ni (Cullavagg, v. 3,1)


Đừng hỏi bậc này Đại ẩn hay Tiểu ẩn, để còn phân biệt hạng tại gia, hạng xuất gia, không nệ nào Tăng nào Tục, chỉ cốt biện biệt lấy Tâm, vốn không có Nam hay Nữ, sao còn chấp vào hình tướng? Người chưa sáng tỏ lầm phân ra tam giáo, hiểu thấu đến nguồn thì cùng giác ngộ một Tâm.


Trần Thái Tông (Khóa hư lục)


Ở Đông phương, Tâm đã là một thành tố vũ trụ, là bản chất chân thật của hiện hữu; nó là điều kiện cốt yếu của tri thức, và do đó, của hiện hữu của thế giới khả tri.


Carl Jung (The Tibetan Book of the Great Liberation)


Phật giáo Thiền tông là sự kết hợp giữa tinh thần suy lý và trừu tượng của Ấn, với thiên bẩm cụ thể và thực tiễn của Trung Hoa.


Erich From (Zen Buddhism an psychoanalysis)


Nơi Phật và Phật, người ta tìm thấy một lề lối hòa giải bao la và đặt nó thành thực tiễn, nhiệm vụ của chúng ta là phải tự mình làm quen với nó để có thể hiểu nó tùy theo khả năng…


Karl Jaspers (The Great philosophers)


 


NHÂN VẬT


LÝ CÔNG UẨN Chức Tả Thân vệ Điện tiền Đô chỉ huy sứ, sau là vua Thuận Thiên


CÔ CẮT CO tên Nhị


ÔNG ĐỒ tên Trần Minh Long (tên thực Phạm Anh Huy)


VẠN HẠNH đại sư chùa Tiêu Sơn


QUÁCH NGANG chức Tăng thống


ĐỖ NGÂN chức Thị thư trong triều vua Cảnh Thụy (Ngọa Triều)


ĐÀO CAM MỘC chức Chi hậu


NGUYỄN ĐE chức Hữu Điện tiền Chỉ huy sứ


NGỰ BẮC VƯƠNG tên Long Cân, con thứ 6 vua Lê Đại Hành


HẢI LONG Hoàng hậu của Lê Ngọa Triều


CÔ NA bạn cô cắt cỏ


CÔ NU bạn cô cắt cỏ


CÔ MẬN bạn cô cắt cỏ


ĐÀO KHÁNH VĂN đại thần


LÝ NHẬM VĂN đại thần


TRẦN CẢO đại thần


NGÔ ĐINH đại thần


QUY THẠC PHU đại thần


ĐẶNG VĂN HIẾU đại thần


BÙI XA LỖI đại thần


Học trò của ông Đồ, nội giám, thám tử của Hải Long, gia nhân của Đỗ Ngân, các cô cắt cỏ, các tướng và quân lính của Lý Công Uẩn và Ngự Bắc vương, các nhà sư, các già, hương chức, phường chèo Chải Hê và dân làng...


Kịch xảy ra năm 1009, ở thành Đại La (Thăng Long - Hà Nội) Long Biên (Bắc Ninh) và ở Hoa Lư.


KHAI TỪ


Là một màn kịch câm xen vũ đạo


Sân khấu là một con thuyền có những phu chèo cầm mái chèo buộc dải lụa đỏ làm động tác chèo thuyền tượng trưng.


Thuyền ghé Giang Tân, bến của sông Thiên Phù, một nhánh của sông Nhị chảy qua Quán La đến chợ Bưởi thì hợp lưu với sông Tô.


Vua Thuận Thiên làm động tác bước từ dưới thuyền lên phía sau là lá cờ vàng thêu chữ Lý. Các quan văn võ theo hầu, quân sĩ dàn hàng hai bên. Vua đứng trên bến ngắm cảnh.


Tiếng đọc chiếu dời đô từ trong hậu trường vẳng ra.


"Thành Đại La, ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, tiện hình thế núi sông sau trước. Ở nơi đó mặt đất rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiêu tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chốn bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời.


Dân làng Nghĩa Đô, già trẻ mang những lá cờ may bằng lụa có thêu rồng ra đón vua.


Một số thiếu nữ múa một tấm lụa vàng, rồi quỳ xuống dâng vua.


Ánh lụa vàng hắt lên nền trời mây hiện ra dáng rồng bay lên không trung trong tiếng hát của dàn đồng ca.


Tiếng hát


Lụa vàng tươi đậm tình dân dập dờn trước gió


Hiện rồng thiêng cựa mình bay thoăn thoắt lên trời


Nhị Hà đưa thuyền rồng băng hăng như tuấn mã


Lá ngô lay ánh gươm vung lóe tia nắng ngời


Nhị Hà trôi cuồn cuộn mang phù sa bón đất


Cỏ đê xanh sắc non lam dệt kín những chân trời


Nhị Hà reo tiếng âm trầm cha ông giục giã


Nước lan lan sóng êm dâng nhịp sống muôn đời


Trong tiếng hát vua Thuận Thiên từ từ bước xuống chân đê. Mắt vua ngời sáng khi thấy cỏ non xanh dưới chân đê chạy dài tít tắp đến chân trời. Bỗng vua vục mặt vào trong đám cỏ tươi tốt, rồi ngẩng lên, nâng một ngọn cỏ xanh nở hoa tím nhạt. Tiếng hát nhỏ dần...


Tiếng của cô cắt cỏ trong hậu trường vẳng lên: Các em có gặp Lý thân vệ thì trao cho ngài mảnh gương này và bảo… chị gửi lời chào ngài và thưa với ngài chị ra đi rất thanh thản vì đã làm tròn lời thề đối với đất nước… và lời hứa đối với ngài, chỉ mong ngài sớm làm tròn nghiệp lớn để dân chúng có nơi nhờ cậy. Máu chị thấm xuống đất này sẽ mọc lên ngọn cỏ xanh bất tuyệt lướt trong gió đón mừng ngài.


Tiếng cô cắt cỏ ngừng, tiếng hát đồng ca lại vang lên, trong lúc đó màn I mở ra.


MÀN I


Cảnh lều trại quân của Lý Công Uẩn bên sông Nhị


Mở màn: Hai chiến sĩ cầm giáo và mộc đấu với nhau. Nghe tiếng chân bước, hai người thu về đứng như tư thế hình trên thạp gốm ở Thanh Hóa (Bản thạch cao của Viện Bảo tàng Mỹ thuật).


Lý Công Uẩn bước ra đứng ở giữa hai chiến sĩ, đội mũ võ, lá chắn trước ngực được trang trí bằng hai bông hoa nhiều cánh lớn như kiểu những bông hoa nhỏ rải rác trên thân áo, ở phần áo hở ra phía dưới áo giáp, nếp áo hình thành những đường cong thanh mảnh đặt song song và cách đều. Ông đứng chống gươm trước bụng. Trên cán gươm có trang trí hình hoa cúc dây, giống như pho tượng kim cương ở chùa Phật Tích (được trưng bày tại Viện Bảo tàng lịch sử) đôi gò má nổi cao, cằm nổi tròn, đôi môi mím chặt, hai mép dài cong lên, đường nét thanh thoát tinh tế, vừa hùng dũng vừa khoan hòa chứ không dữ tợn.


Tùy tướng (ra) Kính bẩm quan Thân vệ.


Lý Công Uẩn: Có chuyện chi vậy?


Tùy tướng: Bẩm quan Thân vệ, tiểu tướng nghe dân chúng đồn đại có một nhà sư điên cho tiền lũ trẻ con rồi dạy chúng hát bài đồng dao...


Lý Công Uẩn: Đồng dao như thế nào?


Tùy tướng: Bẩm, lời đồng dao là:


Đại sơn long đầu khởi


Cù vĩ ẩn Chu Minh


Thập bát tử định thành


Miên thụ định long hình


Thỏ kê lạp nguyệt nội


Định kiến nhật xuất thanh95


Lý Công Uẩn: (lẩm nhẩm) Thập bát tử định thành, (nghĩ ngợi) Họ còn nói gì nữa?


Tùy tướng: Bẩm Đức vua nghe thấy lời hát truyền bắt bọn trẻ vào tra hỏi chúng chỉ nói là nhà sư sau khi dạy chúng hát xong bỏ đi đâu mất không biết. Đức vua liền ra lệnh bắt những nhà sư vào cung, sai róc mía lên đầu tra khảo, xem có ai biết tung tích nhà sư dạy trẻ hát hay không, nhưng đều vô hiệu. Đức vua lại vời những vị quan giỏi nho học nhất triều vào tẩm cung bắt phải giải ý nghĩa lời đồng dao.


Lý Công Uẩn: (chăm chú) Họ giải như thế nào?


Tùy tướng: Có người từ Hoa Lư ra kể lại, quan Thị thư Đỗ Ngân giải rằng đó là mấy câu sấm nhằm làm dân chúng hoang mang, nói là có vị chân chúa người họ Lý, vì thập, bát, tử ghép lại thành chữ Lý, hiện đang ở hướng Thìn là Long, đến tháng chạp năm Mão Dậu thì vị chân chúa ấy sẽ xuất hiện, vì thỏ kê lạp nguyệt là tháng Chạp năm Mão Dậu. Tiếp đó Đỗ Ngân xin bắt tất cả những người họ Lý giam lại cho tuyệt hậu họa.


Đức vua lại cho vời quan Chi hậu Đào Cam Mộc vào hỏi. Quan Chi hậu tâu: Đã là câu sấm ắt ý nghĩa mù mờ có thể có nhiều cách giải. Xưa Tần Thủy Hoàng nghe thấy có câu sấm "Vong Tần giả Hồ" (làm mất nhà Tần là Hồ) cho Hồ chỉ rợ Hồ, nên đắp Vạn Lý Trường Thành ngăn rợ Hồ, tốn mất bao nhiêu thời gian, công của và sinh mạng, rốt cuộc Hồ lại ứng vào Hồ Hợi, con út Tần Thủy Hoàng, do Tần Thủy Hoàng phế thái tử Phù Tô lập Hồ Hợi lên nối ngôi, lại giết oan tướng Mông Điềm, không có người giỏi bảo vệ xã tắc nên anh hùng thảo dã mới cầm đầu dân chúng nổi lên diệt Tần. Sấm chỉ nói là thập bát tử chứ có chỉ đích danh là người họ Lý đâu? Nhỡ là vị chân chúa tuổi Thìn, năm nay mười tám tuổi, đến tháng chạp năm Mão Dậu sẽ xuất hiện thì sao? Sấm chỉ nói chung chung là năm Mão hay năm Dậu chứ không chỉ đích năm nào? Nghe xong Đức vua bấm đốt ngón tay tính toán, lẩm bẩm: nếu vị chân chúa là người tuổi Thìn thì không phải Lý Công Uẩn vì Công Uẩn tuổi Tuất. Nếu là người tuổi Thìn mà năm nay mười tám tuổi thì có lẽ ứng vào Minh Đề em ta chăng. Em ta được cha ta cử đi sang sứ Tàu, khi thấy ta giết Long Việt lên ngôi thì ở lại bên Tàu không về nữa. Chưa biết chừng y lại nhờ Tàu mang quân đưa y về tranh ngôi với ta? Tàu có đưa quân sang thì cũng phải chuẩn bị mất vài năm mà nay đã là đầu năm Dậu rồi, chờ đến năm Mão y mới trở về được thì sao. Nếu ta giết Lý Công Uẩn ngay lúc này thì đến khi Minh Đề trở về, lấy ai là người chống lại. Ta cứ theo cái sách "Tọa sơn quan hổ đấu" là hơn...


Lý Công Uẩn: Ta hiểu ra rồi, chắc Đức vua ngại ta là hổ, nên dùng kế điệu hổ ly sơn, đẩy ra khỏi kinh đô. Chi bằng ta tương kế tựu kế, không kéo quân lên châu Vị Long  để sa vào cái cảnh Long cư thiển thủy tao hà hí, hổ lạc bình dương ngộ khuyển khi. (Rồng ở nước nông bị tôm cợt, cọp lạc đồng bằng gặp chó khinh).


Tùy tướng: Bẩm nếu không kéo quân lên châu Vị Long nhỡ Đức vua buộc Thân vệ vào tội kháng chỉ thì sao?


Lý Công Uẩn: Tướng bên ngoài có khi không phải tuân theo lệnh vua. Ta kéo quân lên châu Vị Long, kẻ địch sẽ dựa vào thế hiểm của rừng núi để chống lại ta. Ta chân ướt chân ráo lên mạn ngược, lạ nước lạ cái, e khó bề xoay sở trước tình hình. Nhỡ Đức vua sai quân ra đánh vào sau lưng ta thì ta sẽ sa vào thế lưỡng diện thụ địch. Âu là ta đóng quân lại thành Đại La, dựa vào địa thế núi sông của vùng này để một mặt ngăn chặn các cuộc tấn công ở bên ngoài vào, một mặt ứng phó khi quân triều đình kéo ra đánh ta (cười). Nếu vua đã dùng kế điệu hổ ly sơn mượn tay dân miền ngược giết ta, chi bằng ta bày thế trận bối thủy dựa lưng vào sông Nhị Hà mà quyết chiến một phen.


Tùy tướng: Thân vệ quả là thần toán!


Lý Công Uẩn: Người làm tướng phải nghiên cứu địa lợi để từ cái gốc đó nẩy kỳ mưu diệu kế, như thân cây bám vào đất mới có thể nở hoa. Ngươi hãy truyền cho quân sĩ tạm nghỉ ở đây rồi theo ta đi tìm địa điểm đóng quân.


Tùy tướng: Tuân lệnh!


(còn tiếp)


Nguồn: Thuận Thiên Lý Công Uẩn. Tiểu thuyềt-kịch của Hoài Anh. NXB Văn học liên kết cùng Nhóm Văn chương Hồn Việt xuất bản, 2008.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »