tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21085644
07.11.2012
Triệu Xuân
Hoa Kỳ - "Tân Thế giới"

 


My 1Trước Trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York, 03-2000.


Một mình trên đất Mỹ, tôi tha thẩn đi trên cảng biển của thành phố San Francisco - ngày trước ông cha ta đọc theo âm Hán Việt là Cựu Kim Sơn - mà lòng cứ nghĩ về ông Bùi Viện, một nhà Nho yêu nước thương nòi, muốn canh tân đất nước. 127 năm trước, ông một mình ra đi mang theo sứ mệnh của triều đình Tự Đức muốn bang giao với Hoa Kỳ, nhờ Mỹ trợ lực để chống Pháp. Bùi Viện đi thuyền buồm sang Hồng Kông, rồi đến Nhật Bản và từ cảng Yokohama, ông đáp tàu đi San Francisco. Không biết bàn chân ông đã đi trên những nẻo đường nào của thành phố bên bờ Thái Bình Dương này? Nhưng tôi chắc chắn rằng ông đã từng một mình đi dạo trên cảng, trên vịnh San Francisco để suy tư trước khi rời Nam Mỹ lên miền Đông Bắc để tới thủ đô Hoa Kỳ xin gặp Tổng thống Mỹ. Sau gần một năm vận động, Bùi Viện đã được Tổng thống Ulysses S. Grant tiếp, và hội đàm (Grant là vị Tổng thống thứ mười tám của Mỹ, nhậm chức khi bốn mươi sáu tuổi, làm tổng thống hai nhiệm kỳ từ 1869 đến 1877, sinh ngày 27-4-1822, mất ngày 23-7-1885, thọ sáu mươi ba tuổi). Lúc này Mỹ cũng muốn có mặt ở Đông Nam Á, nhưng vì trong tay Bùi Viện không có Quốc thư nên đại sự không thành! Đến năm 1875, lần thứ hai Mỹ du, Bùi Viện đã có Quốc thư nhưng thời cơ đã tuột khỏi tầm tay rồi: Nước Mỹ chưa đủ điều kiện, hoặc là không thể đưa quân ra nước ngoài vào thời điểm đó. Thời cơ bang giao với Mỹ đã lỡ, không biết đó là cơ may hay là tai họa của Việt Nam? Đêm mùa xuân ở trên cầu Kim Môn lộng gió, thành phố Cựu Kim Sơn rực rỡ ánh điện muôn màu, tôi nghĩ về ông Bùi Viện và, không hiểu vì gió biển lạnh hay vì cớ gì mà lòng tôi se sắt…


Tôi bay từ Tân Sơn Nhất sau ba giờ bay tới Đài Bắc (Đài Loan), ngồi chờ sáu giờ đồng hồ chuyển lên máy bay lớn hơn rồi bay một lèo qua Mỹ theo đường ven biển Thái Bình Dương của châu Á lên Alasca, lại dọc theo bờ Thái Bình Dương của nước Mỹ để đáp xuống San Francisco, đúng cái thành phố mà nhà Nho Bùi Viện đã dừng chân. Tổng cộng tôi đã mất hai mươi tiếng đồng hồ để bay tới Mỹ!


Tôi đặt chân xuống sân bay quốc tế San Francisco, miền Tây Nam Hoa Kỳ vào chiều thứ bảy lúc 16 giờ 15 phút theo giờ địa phương ngày 18 tháng 3 năm 2000, tức 7 giờ 15 phút ngày chủ nhật theo giờ Việt Nam. Sau khi nhận hành lý, tôi làm thủ tục nhập cảnh không đầy hai phút. Nhân viên phụ trách là một người da đen, cầm hộ chiếu, lật đúng trang cần thiết, đưa vào máy quét rồi nhìn vào mặt tôi, nhìn lại trên màn hình computer. Thế là xong! Anh ta nở nụ cười thật tươi với hàm răng rất trắng và nói: “Nước Mỹ đón chào ông!”.


Tôi treo áo veston, cà vạt… vào tủ áo, mặc bộ đồ giản dị như hàng triệu người Mỹ khác: quần kaki, áo thun, khoác bên ngoài chiếc áo len mỏng, thay đôi giày da bằng đôi giày thể thao và đi ra đường, bắt đầu chuyến hành trình để “tìm hiểu bản chất của xã hội Mỹ”. Tôi còn nhớ gần bốn chục năm về trước, sau vụ ám sát một chính khách ở Mỹ, trên trang nhất một tờ báo lớn ở ta, có in tranh châm biếm với câu lục bát: “Mỹ là một nước văn minh. Giết người như chuột, tội tình gì đâu!”. Xem phim Mỹ, có khá nhiều phim về tội phạm, toàn giết chóc, hiếp dâm, băng đảng thanh toán nhau, bắt cóc tống tiền…. Khiếp quá! Chẳng lẽ một đất nước được coi là “Tân thế giới”, thế giới của Tự do, có tượng Nữ thần Tự do, một quốc gia tự hào là có Tự do - Bình đẳng - Bác ái mà xã hội lại đồi bại như vậy ư?


Tổng lãnh sự Mỹ ở thành phố Hồ Chí Minh khi phỏng vấn để cấp visa, chỉ hỏi tôi đúng một câu: “Ông là nhà văn được mời đến Mỹ, đi một mình, ông có mục đích gì ở Mỹ?”. Tôi trả lời: “Tôi muốn hiểu được bản chất của xã hội Mỹ!”. Trong suốt hơn một tháng trời, bằng máy bay, xe hơi, xe buýt, tàu hỏa, tàu điện nổi, tàu điện ngầm (ở Mỹ gọi là subway), du thuyền và đi bộ, tôi đã đi từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây, ở lại chín tiểu bang, hai mươi thành phố lớn, hòa vào dòng người cuồn cuộn trên các nẻo đường Hoa Kỳ để quan sát, hỏi, nghe, chiêm ngưỡng và suy ngẫm.


Khi tôi rời nước Mỹ thì người ta đang tiến hành kiểm kê dân số toàn Liên bang. Theo cuộc kiểm tra dân số năm 1992 thì Mỹ có 253 triệu dân. Số liệu dự báo trước cuộc kiểm kê dân số năm nay là trên 260 triệu; số dân chính thức sẽ công bố vào cuối tháng 6 tới. Với trên 260 triệu dân, 50 tiểu bang, Hoa Kỳ là một thế giới hoàn toàn khác với những gì tôi đã được đọc, được nghe, được xem qua phim ảnh!


Một vị Tổng thống Hoa Kỳ, ông John F. Kennedy đã từng nói: “Nước Mỹ là một quốc gia của dân nhập cư”. Đúng vậy, ở bất cứ nơi nào trên đất Mỹ ta cũng nhận ra điều này: Người dân bản xứ, tức là con cháu những người Indians rất ít. Người Mỹ hiện đại là con cháu của những người nhập cư (có một phần mười dân Mỹ sinh ở nước ngoài!). Tôi chọn cho mình tiêu điểm của chuyến Mỹ du là tìm hiểu xã hội Mỹ, người dân Mỹ. Họ sống và làm việc ra sao? Họ có gì phải lo lắng? Họ có được Tự do - Bình đẳng - Bác ái thật sự hay không?


Phần 1: Thung lũng Hoa vàng - miền đất lành của người lao động lương thiện


Thành phố San Francisco bên bờ Thái Bình Dương là thành phố đẹp của thế giới. Vịnh San Francisco, tiết trời đầu xuân, trời và biển xanh ngắt, cánh hải âu trắng bạc. Mỗi ngày có hàng trăm ngàn người đủ mọi sắc tộc, màu da đến chiêm ngưỡng cầu Golden Gate. Cây cầu cáp treo này người Pháp xây dựng đã lâu lắm rồi, vậy mà trong trận động đất năm 1999, cây cầu mới, hiện đại hơn thì bị sập, còn Golden Gate không hề hấn gì!


Trong chuyến tàu lướt trên vịnh thăm cầu, tôi gặp Catherine Le, một thanh nữ gốc châu Á rất xinh đẹp. Cô sinh năm 1969, định cư tại Mỹ từ 1995 nhờ chị ruột bảo lãnh. Cô lên xe hoa năm 1996, hiện có một con trai ba tuổi. Hai vợ chồng làm việc trong hãng điện tử, mà chị cô là một trong những giám đốc điều hành. Mức lương của vợ chồng cô hiện tại là mười đôla một giờ. Hai ngày cuối tuần, nếu làm thêm giờ thì mỗi giờ được tính gấp gấp rưỡi đến hai lần (mức lương thấp nhất tại đây là năm đôla rưỡi một giờ). Hai vợ chồng Catherine có tổng thu nhập bình quân 4.500 đôla một tháng; trừ các loại thuế và bảo hiểm, tiền thuê nhà, tiền ăn hàng ngày, tiền trả góp xe, tiền điện, điện thoại, tiền nước, tiền hơi đốt… còn 2.000 đôla. Hai vợ chồng vừa đi làm, vừa học thêm đại học. Họ đang học năm thứ hai đại học. Nếu có bằng cử nhân, họ sẽ hưởng lương cơ bản 1.000 đô một tuần chứ không phải 400 đô như hiện nay!


Thành phố San Jose là thủ phủ của Thung lũng Hoa vàng - tức Silicon Valley - có một trường đại học (University) và hai trường Đại học Cộng đồng (College Community, khác với University). Những người vừa đi làm vừa học đại học thường học tại các trường đại học cộng đồng. Tôi đã đến thăm cả hai trường College ở San Jose. Một trong hai trường mang tên Evergreen Community College. Mỗi trường hơn chục ngàn sinh viên đủ mọi màu da trên khắp thế giới. Người học tại đại học cộng đồng được hãng khuyến khích đi học, đến kỳ thi cử cho nghỉ làm vẫn hưởng lương. Người đi học còn được tiền phụ cấp và nếu làm thêm việc thiện nguyện, làm việc trong trường (School job) thì mỗi khóa học có thể kiếm thêm 1.000 – 1.500 đôla.


Một gia đình công nhân Mỹ ăn uống có tốn kém không? Không! Tiền ăn thấp hơn nhiều so với các khoản chi khác. So với thu nhập thì giá ăn uống ở Mỹ vào loại rẻ nhất, rẻ hơn nhiều so với ở Pháp, ở Australia. Catherine mời tôi ăn bữa cơm gia đình vào cuối tuần. Những món chính gồm tôm hùm hấp gừng, cá hồi ăn sống với mù tạt, hào nướng, thịt bò bíptết, cánh gà chiên bơ, chân giò heo nấu măng, nấm đông cô… Cánh gà 2,8 đôla một pound (gần nửa ký) trong khi phần còn lại của thịt con gà chỉ 85 xu (cent) một pound. Trứng gà thì rẻ như cho. Thịt gà Mỹ trên đất Mỹ ăn thấy ngon, gần được như gà ta, không nhạt và bở như thịt gà công nghiệp mà ta quen gọi là gà Mỹ! Riêng rau muống, rau mồng tơi về mùa đông khá mắc: rau muống ba đô một pound, rau thơm còn mắc hơn. Mùa hè, rau muống rẻ, chỉ một đô rưỡi một pound. Tại đây có đủ loại rau, quả, củ, tương, chao, mẻ, mắm tôm, nước mắm Phú Quốc…, hầu hết nhập từ Thái Lan. Catherine kể: “Cả nhà ba người ăn thoải mái, uống sữa như uống nước, mỗi tháng hết khoảng 600 đô”. Ở đây không ai phải lo đến chuyện ăn. Trong siêu thị, món gì cũng tính thuế, đánh vào người mua, nhưng thức ăn, thực phẩm là không thuế! Đồ uống rất rẻ: nước cam, nước ngọt, sữa tươi, có hàng trăm loại. Một chai bia Heineken, nếu mua cả lố về nhà uống chỉ 1,1 đôla. Uống một chai Heineken sản xuất tại Mỹ, thơm hơn, đậm đà hơn và “phê” bằng uống ba chai sản xuất tại quận 12 thành phố Hồ Chí Minh! Có gần một trăm loại bia, nước ngọt bày bán trong các siêu thị. Rượu Hennessy loại XO giá 99 đôla một chai chưa tính thuế; đắt hơn nhiều so với mua tại Việt Nam, nhưng chắc chắn không phải lo rượu giả! Người lao động không bao giờ phải lo cái ăn, gặp nhau không bao giờ hỏi Bác đã ăn cơm chưa? mà hỏi: Giá cổ phiếu của Microsoft đã giảm 14%, còn đang giảm tiếp; cổ phiếu của Oracle thì đang lên, bác có mua thêm, hay bán ra không? Hoặc: Cuối tuần này gia đình anh đi chơi ở đâu?! Catherine nói: “Chỉ cần lương thiện, chăm chỉ làm ăn là tạo dựng được cuộc sống gia đình đầy đủ, hạnh phúc. Cơ hội cho người lao động lương thiện lập nghiệp rất nhiều. Cuộc sống không bấp bênh, không có gì phải lo lắng. Sự lo lắng, nếu có là lo sao cho con mình học giỏi, mặc sao cho đẹp và có nhà riêng, đổi xe hơi BMW đời mới, mong được đi du lịch khắp thế giới!…”.


Có những khoản tiền phải chi với giá cao hơn giá ăn uống nhiều, chẳng hạn tiền gửi trẻ. Gửi một đứa trẻ từ sơ sinh đến năm tuổi với giá từ 300-700 đôla một tháng, tùy theo nơi gửi nhận nhiều hay ít trẻ! Hai đứa con học ở tiểu học tư thục một tháng hết 1.000 đôla: học nguyên ngày, ăn hai bữa, trong trường có khu vui chơi và tiện nghi học tập hoàn hảo! Nhờ có ông bà ngoại ở gần nên Catherine không phải chi khoản tiền gửi trẻ cho cậu con trai ba tuổi. Catherine khoe: Mỗi tháng, gia đình cô tích lũy được tối thiểu 1.500-2.000 đô. Đến tháng 5 này, vợ chồng cô sẽ mua một xe Toyota đời mới, thay cho chiếc xe hơi cũ!


Hôm đến nhà Catherine, tôi gặp chị ruột của cô, tên là Terry Le, một trong những gương mặt thành đạt của giới trẻ Mỹ! Đó là một người thông minh, nhạy cảm và bản lĩnh! Thu nhập của Terry Le (ở Mỹ người ta kiêng hỏi về chuyện này, tôi biết được là nhờ hỏi về mức thuế cô đóng) trừ các khoản thuế còn 6.000-7.000 đôla một tháng. Terry Le sinh năm 1962, định cư tại Mỹ từ 1979. Năm 1984, cô tốt nghiệp loại xuất sắc Đại học California (University of California), ngành tin học, chuyên về phần mềm. Ngay từ khi đang học năm cuối cùng cô đã được một hãng điện tử trong Thung lũng Hoa vàng mời đến làm việc sau khi ra trường. Nhận bằng cử nhân (Bachelor), cô có việc làm ngay, với thu nhập 55.000 đôla một năm!


Ở Mỹ, có việc làm nghĩa là có tất cả, trong cùng một tuần lễ! Terry Le lên xe hoa. Hai người quen nhau bốn năm, hẹn nhau học xong đại học mới cưới. Quà cưới của chồng tặng vợ là một chiếc xe Toyota đã chạy hơn 5.000 dặm, giá xe mua lại rất rẻ: chỉ 1.000 đôla. Trước đây họ ở nhà thuê, mỗi tháng 500 đôla, nay có việc làm, không phải ở nhà thuê nữa. Họ mua một căn nhà bốn phòng ngủ với giá lúc mua là 200.000 đôla. Nhà có bãi cỏ rộng 200 mét vuông và sân chơi trẻ con rộng 450 mét vuông. Khi tôi đến thăm thì căn nhà này có giá gấp đôi rồi! Mua nhà trả góp hàng tháng, trả trong vòng hai mươi năm thì hết! Thế nhưng, vợ chồng cô đã trả dứt căn nhà này trong tám năm! Trang trí nội thất, tiện nghi sinh hoạt trong nhà từ đồ điện gia dụng, điện tử đến dụng cụ làm bếp…. đều gọi đến trong cùng một ngày. Tất cả đều có thể trả góp!


Sức trẻ, tài cao, vợ chồng Terry Le chăm chỉ làm thêm giờ, có ngày làm liên tục mười bảy tiếng. Họ gặp may mắn, được thăng tiến liên tục, nhờ thế tích lũy rất nhanh! Năm 1994, kỷ niệm mười năm ngày cưới, vợ chồng Terry Le mua thêm căn nhà thứ hai, riêng diện tích bãi cỏ vườn cây rộng gần 1.000 mét vuông. Vợ chồng cô có hai con, con lớn học lớp sáu, con út học lớp một. Đại gia đình của cô hiện có hơn sáu mươi người gồm cha mẹ vợ, anh chị em bên vợ, anh chị em bên chồng và các con, đều sinh sống tại thành phố San Jose. Đại gia đình này khiến những gia đình Mỹ da trắng phải nể phục về sự đoàn kết thương yêu đùm bọc nhau!


Terry Le hiện làm Giám đốc Điều hành một building (mỗi building là một nhà máy rộng khoảng 15.000 mét vuông) trong 26 building của hãng Sanmina tại Silicon Valley. Cô thường phải đi công tác ở nước ngoài. Sanmina có nhiều chi nhánh ở nước ngoài. Đây chỉ là một hãng bậc trung, thành lập năm 1992, năm 1993 ra thị trường chứng khoán New York; lợi nhuận năm 1999 của Sanmina hơn 1,5 tỷ đôla.


Tôi đã tới Hãng Sanmina. Tại đây chuyên sản xuất các linh kiện: bảng, mê, mạch, chi tiết của máy computer và các loại thiết bị điện tử khác. Trong tổng số gần mười ngàn công nhân, người gốc châu Á khá đông. Đội ngũ kỹ thuật viên thì giỏi nhất và đông nhất là người gốc Ấn Độ. Đồng phục của nhân viên là áo choàng trắng, từ giày đến bao tay đều cách điện. Tôi được tự do thăm quan, hỏi han! Có bốn cặp vợ chồng là người nhà của Terry Le cùng làm việc trong hãng này. Phần lớn công nhân đi làm bằng xe hơi riêng. Chỉ có một số rất ít công nhân đi làm bằng xe park - giống như tàu hỏa nhưng chạy bằng điện.


Sao lại gọi là xe park? Từ năm 1954, trường đại học Stanford (ở Palo Alto - San Francisco), một trong năm trường đại học danh tiếng nhất của Mỹ, đã cho thuê dài hạn Công viên Nghiên cứu Khoa học rộng gần 3.250 hécta của trường để thu hút các nhà đầu tư đến xây dựng khu công nghệ cao. Công ty Hewlett Packard là doanh nghiệp đầu tiên lập nghiệp tại Công viên Nghiên cứu của Stanford. Tốc độ thu hút đầu tư tại đây nhanh đến chóng mặt, nhất là từ năm 1980 đến nay. Người ta sôi sục, đổ xô đến Thung lũng Hoa vàng tìm cơ hội làm ăn có phần còn hơn cả thế kỷ 19 khi người ta đổ xô về miền Viễn Tây Hoa Kỳ để tìm vàng! Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Silicon Valley trở thành khu công nghệ cao, gương mặt của nền Kinh tế Tri thức, phát triển nhất ở Mỹ, và là khu công nghệ hiện đại, phát triển nhất thế giới. Công viên (park) của Stanford trở thành danh từ chung chỉ khu công nghệ điện tử. Xe công cộng chuyên chở công nhân chạy tới khu công nghệ cao này quen gọi là xe park!


Từ năm 1980 trở về trước, đoạn đường từ thành phố San Francisco về San Jose (khoảng 90 phút xe hơi, chạy với tốc độ bình quân 75 dặm một giờ, tương đương 120 km một giờ) phần lớn còn là đất nông nghiệp, vào mùa xuân rặt một loài hoa dại màu vàng bao phủ; vì thế mới gọi là Thung lũng Hoa vàng. Vậy mà nay hàng trăm ngàn doanh nghiệp đã phủ kín thung lũng này! Cho đến khi tôi tới thăm Silicon Valley, các doanh nghiệp không chỉ tọa lạc trong Công viên Nghiên cứu của Đại học Stanford mà đã bao trùm lên cả vùng Thung lũng Hoa vàng có diện tích tự nhiên rộng gần tám trăm cây số vuông thuộc quận Santa Clara, miền bắc tiểu bang California.


San Jose là một thành phố có lịch sử, có nhiều công trình kiến trúc theo lối Pháp, rất đẹp, là thủ phủ của Thung lũng Hoa vàng. Cư dân làm việc trong thung lũng điện tử sinh sống trong những khu đô thị mới xây dựng trên những đồi núi bao quanh thung lũng. Từ trên đỉnh đồi cao nhìn toàn cảnh thành phố thật tuyệt vời: nhà xây từng lớp từng lớp cao dần theo triền đồi. Diện tích xây dựng chỉ bằng một phần tư diện tích cây xanh thiên nhiên. Các công trình công cộng được quy hoạch rất khoa học và mang tính mỹ thuật cao. Ngược với ở Việt Nam, tại đây, nhà càng ở trên đồi cao, càng xa trung tâm thành phố San Jose (khu downtown) thì càng đắt tiền! Phần lớn nhà được xây như biệt thự, ít nhà cao tầng; nhà xây bằng vật liệu nhẹ để phòng động đất. Cách đánh số nhà khác với Việt Nam: cách bốn số đánh một số. Thí dụ: Biệt thự tôi ở mang số 3582 thì căn kế tiếp là số 3586. Tuy nhà làm bằng vật liệu nhẹ nhưng rất chắc chắn, bền vững. Giá nhà đất không ngừng tăng. Tôi đến thăm khu nhà mới xây dựng của tập đoàn kinh doanh địa ốc Renaissance, một biệt thự một trệt một lầu, có tám phòng, giá một triệu đôla! Tập đoàn này mua đất, xây dựng hạ tầng cơ sở trước, sau đó tìm khách hàng, ký hợp đồng, lấy tiền ứng trước rồi mới xây nhà. Nhưng họ không phải tìm khách hàng. Khách hàng tự tìm đến họ. Thung lũng Hoa vàng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất nước Mỹ: 2,2 phần trăm; còn tỷ lệ công nhân thất nghiệp tại tiểu bang California: không có việc từ sáu tháng rưỡi trở lên hiện giảm được một nửa so với năm 1995. Bởi thế, giá nhà đất ở Silicon Valley là đắt nhất Mỹ hiện nay! Hệ thống đường giao thông và hạ tầng cơ sở tại Thung lũng Hoa vàng mới xây dựng trong vòng hai chục năm nay cho nên được coi là hoàn hảo nhất thế giới!


Tiểu bang California lập Xuân từ ngày 20 tháng 3, đúng vào ngày tôi thăm nơi làm việc của Terry Le. Trời đẹp y hệt Đà Lạt vào tháng 10. Hạ tầng cơ sở, đường giao thông, cầu vượt, cầu tránh, đường ngầm, cống thoát nước, đường cấp nước, đường ống hơi đốt, điện, điện thoại, công viên, nhà hàng ăn, tiệm cà phê, hệ thống siêu thị, trường học, bệnh viện, khu dân cư… của Silicon Valley được quy hoạch và xây dựng thật hiện đại. Môi trường được bảo vệ sạch và xanh, không khí trong lành. Terry Lee đưa tôi thăm hơn một chục hãng điện tử nổi tiếng. Silicon bắt nguồn từ chữ silic, chất bán dẫn, khởi đầu cho sự bùng nổ công nghiệp bán dẫn thay thế cho các bóng chân không to kềnh càng từ thập kỷ 50 của thế kỷ 20. Có chừng vài chục hãng điện tử khổng lồ. Microsoft là con khủng long trong lãnh vực này, dẫn đầu bốn trăm công ty lớn nhất thế giới nhưng đại bản doanh thì không ở thung lũng Silicon mà đóng ở Seatle tiểu bang Washington. Tại Silicon Valley, công ty của Bill Gates có chi nhánh sản xuất và kinh doanh. Terry Le giúp tôi thăm những công ty như Oracle, mới ra đời từ năm 1977 nhưng hiện có tài sản lên tới 50 tỷ đôla; năm 1999, giá cổ phiếu của Oracle đã năm lần tăng vọt. Trong ba tháng đầu năm 2000, Hãng Sun Microsystems Inc đạt mức tăng trưởng 49 phần trăm, đánh gục các dự báo của Wall Street khi mà tỷ giá cổ phiếu kỹ thuật giảm ào ào. Sun Microsystems Inc lời 436 triệu đôla tức là mỗi cổ phần lời 26 cent trong ba tháng qua. Hewlett Packard, IBM, Cisco System, Apples, Compaq, v.v… mỗi công ty có vài chục ngàn nhân viên. Các hãng lớn chiếm từ ba đến bảy block phố, mỗi block gồm nhiều building. Trụ sở trung tâm của hãng thì kiến trúc rất hiện đại, còn nhà máy thì chỉ làm nhà một trệt một lầu, vệ sinh công nghiệp đạt mức tối ưu! Tôi rất ngạc nhiên khi gặp giữa chốn này sừng sững cao ốc của các hãng châu Á như Hitachi, Canon, National, Hyundai và Samsung. Hàn Quốc đã chen chân vào thị trường Mỹ từ hai chục năm nay rồi.


Terry Le đưa tôi lên đỉnh đồi để quay phim toàn cảnh Thung lũng Hoa vàng. Hoa là hoa dại, không ai trồng, cây cao nhất khoảng bốn mươi phân, cứ lập Xuân là bừng nở như có phép màu, vàng rực trời đất, làm rạng rỡ cả gương mặt người! Tên loài hoa dại này tôi hỏi một đứa cháu của Terry Le, đang học đại học thì biết là hoa Poppy. Terry Le cười rất tươi, giọng nói rất vang: “Thú thật với ông, từ năm 1994 trở về trước, vợ chồng tôi ít có thời gian ngắm cảnh. Hoa hồng, hoa đào, hoa mận… nở đầy trong vườn nhưng đi làm từ năm giờ rưỡi sáng, đêm mười hai giờ mới về tới nhà thì còn ngắm hoa vào lúc nào! Vì thế mà ngày ngày sống trong Thung lũng Hoa vàng, bị ho, bị viêm họng vì phấn hoa, nhưng tên hoa, cái loài hoa dại màu vàng ấy, là gì cũng không biết! Chúng tôi đã lao động liên tục, đã “cày” liên tục trong vòng mười năm, mới có cơ nghiệp ổn định, trả hết tiền nhà, mua hai chiếc xe đời mới trả tiền một lần, mua căn nhà thứ hai cũng trả tiền một lần. Từ năm 1995, khi đã có đà mạnh mẽ về kinh tế rồi, chúng tôi mới thực hiện được ước ao là mỗi năm dành một tháng để du lịch. Tôi chưa kể cho ông nghe là Hãng Sanmina chia cổ phần cho công nhân. Người nghèo vô đây làm, nay ít nhất cũng có vài chục ngàn đôla tiền cổ phần. Những kỹ sư giỏi, những người quản lý có từ vài trăm ngàn đô đến vài triệu đô tiền cổ phần. Hãng của tôi trả lương không cao như nhiều hãng khác, nhưng bù lại, công nhân lại được chia cổ phần. Nhờ thế người lao động gắn bó chặt chẽ với Hãng, coi sự nghiệp của Hãng như của chính gia đình mình!…”.


Chồng Terry Le làm nghề thiết kế các chi tiết máy. Đó là một thanh niên rất dễ mến bởi sự thẳng thắn, sống hồn nhiên, thích tếu táo và thật tốt bụng. Công ty mà anh làm việc chỉ có ba người. Anh là người làm công, trách nhiệm, quyền lợi chẳng khác gì ông chủ! Anh tâm sự: “Gia đình chúng tôi được như ngày nay là nhờ hai yếu tố: sống lương thiện (chấp hành đúng luật pháp) và chăm chỉ. Trước hết là chăm học tập, có nghề rồi thì chăm làm thêm giờ, làm cật lực để kiếm tiền. Khi có tiền, chi xài có kế hoạch và trả nợ nhà băng thật đúng hạn! Phải chăm chỉ và phải sống đúng như luật pháp quy định”. Anh dẫn tôi thăm vườn cây kiểng quanh nhà: “Ông ngoại các cháu nhà tôi là một nhà làm vườn giỏi! Phải luôn luôn chăm sóc bãi cỏ vườn cây trước nhà, nếu không, sẽ bị cảnh sát phê bình; nếu tiếp tục phạm lỗi, sẽ bị phạt tiền. Không được để trẻ em trong nhà một mình, hoặc để trẻ lang thang trên đường phố trong giờ học! Vi phạm là bị phạt tiền. Đường phố sạch, không khí trong lành, không có bóng cảnh sát. Thế mà chỉ cần phạm luật giao thông thì ngay lập tức police xuất hiện nhanh đến mức như tàng hình. Người phạm lỗi không dám cãi, càng không dám chậm trễ dừng xe. Khi cảnh sát hô “giơ tay lên”, không đưa tay lên đầu mà lại buông tay xuống dưới tay lái hoặc sau lưng là bị bắn chết! Cảnh sát được quyền như thế!”. Tôi sẽ trở lại chuyện cảnh sát ở một phần khác trong loạt bài này.


My 2Tại vị trí trung tâm Thủ đô Washington, Hoa Kỳ. 03-2000.


Phần 2: Đại học Mỹ và giới trẻ


Trên chuyến bay từ Los Angeles (miền Nam) đi New York (Đông bắc Mỹ), tôi ngồi cùng dãy ghế với John Adams, 25 tuổi (tên trùng với vị Tổng thống thứ hai của nước Mỹ: Tổng thống John Adams sinh năm 1735, tại Quincy, tiểu bang Massachusetts, làm Tổng thống một nhiệm kỳ từ năm 1796 đến 1800, mất năm 1826. Ông có hai con gái, ba con trai, một người về sau là vị Tổng thống thứ sáu của Mỹ). John Adams cao tới một mét chín, miệng rộng, mắt xanh biếc, nhiều râu, rất vui tính. Anh sinh ở Boston, thủ phủ của tiểu bang Massachusetts. John Adams có họ hàng gì với ông Tổng thống thứ hai của Mỹ hay không? Tôi hỏi, John chỉ cười và nói lảng sang chuyện khác. Anh kể với tôi rằng, anh tốt nghiệp MIT (Massachusetts Institutte of Technology - Học viện kỹ thuật Maassachusetts), ngành tin học. Nhờ thành tích học tập cao, năm học thứ ba John đã được học bổng của một công ty trong Thung lũng Silicon; và sau khi ra trường, anh đã được mời về làm việc cho công ty này với mức lương căn bản 1.500 đôla một tuần. Làm được một năm rưỡi thì anh được bạn bè rủ rê lập công ty riêng. Anh rời Silicon Valley bay về New York thăm mẹ đang bị bệnh, và nhân tiện thông báo với cha mẹ anh về việc bỏ hãng cũ ra mở công ty riêng! Cha của John Adams nguyên là giáo sư của MIT, còn mẹ anh nguyên là nhân viên phụ trách thư viện của Đại học Harvard, hiện hai ông bà về hưu, sống ở ngoại ô New York cùng với cô con gái út.


John cho biết anh cùng với nhóm bạn năm người vốn là chuyên gia phần mềm của các hãng điện tử khác nhau, có cùng sở thích nghe nhạc và xem phim tâm lý xã hội nên đã kết thân với nhau. “Chúng tôi đã thành lập công ty chuyên sản xuất phần mềm, hãng mới mở được vài tháng nhưng hợp đồng đã có đủ để sản xuất trong năm 2000”. Quen nếp tư duy như ở Việt Nam, các doanh nghiệp luôn thiếu vốn, tôi hỏi: Các anh tìm nguồn vốn ở đâu? John cười: “Vốn lớn nhất là chất xám thì đã có rồi! Còn vốn hoạt động cho hãng thì vay nhà băng, chỉ cần truy cập internet là có ngay! Chúng tôi dự định chậm nhất là hai năm sẽ đưa hãng của mình ra thị trường chứng khoán New York”! Tôi thấy John tự tin quá. Những doanh nhân trẻ ở Silicon Valley mà tôi tiếp xúc đều giống nhau ở cái đức tin. Họ tin ở chính mình, tin ở môi trường đầu tư như tin vào… Thượng đế! Hầu như không có khó khăn nào cản trở bước tiến của họ. Làm thủ tục mở công ty, vay vốn, tuyển nhân viên, thuê văn phòng…, chỉ trong vòng hai ngày là xong hết mọi việc! Vấn đề khó nhất là tìm kiếm khách hàng họ cũng chẳng lo. Ngay từ khi đang làm việc cho các hãng lớn, họ đã tiếp xúc, quen thân với những khách hàng “ruột”. Khách hàng luôn đi tìm người tài giỏi, có uy tín, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ… để đặt hàng! Quy luật cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt nhưng thực sự trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Người tài giỏi được trọng dụng bởi chính khách hàng! Tôi thật sự ngạc nhiên khi một công ty mới ra đời đã tính ngay đến chuyện xuất hiện tại thị trường chứng khoán New York. Xuất hiện tại đây tức là trình làng với toàn thế giới! Nước Mỹ là như thế!


Trần Quốc Việt năm nay hai mươi ba tuổi, người quận Nhất, Sài Gòn, theo gia đình sang Mỹ định cư năm 1990, đang là sinh viên Đại học Harvard (Harvard University) cùng ở thành phố đại học nổi tiếng Boston, tiểu bang Massachussetts. Harvard có hàng ngàn sinh viên gốc châu Á, trong đó có hàng trăm người gốc Việt Nam. Việt đang học năm cuối cùng của hai khoa: Thiết kế và Quản lý Công trình; là một trong những sinh viên xuất sắc của hai khoa này, và được trường cấp học bổng. Việt nói: “Người Việt Nam có truyền thống ham học và học giỏi. Em noi gương anh Nguyễn Dũng nhận bảy bằng cử nhân và tiến sĩ tại Harvard; anh Nguyễn Tuệ, mới hai mươi sáu tuổi đã nhận bảy bằng cử nhân và tiến sĩ tại MIT. Trong năm nay em sẽ nhận cùng lúc hai bằng cử nhân và chắc chắn được theo học tiếp để lấy bằng tiến sĩ! Em vừa về San Jose thăm người anh ruột làm chủ một công ty chuyên viết phần mềm. Anh ấy thuyết phục em về quản lý công ty ngay sau khi lấy bằng cử nhân. Nhưng em chưa chịu. Em muốn học tiếp lấy bằng Tiến sĩ. Sau khi học thành tài, em ao ước được có cơ hội trở về xây dựng Việt Nam…”.


Ở cổng chính của Trường Đại học Harvard, gọi là Dexter Gate, khi vào ta gặp dòng chữ: “Enter to a wisdom”, khi ra gặp dòng chữ: “Depart to server better thy country and thy kind”. Đây là câu khẩu hiệu đã trở thành châm ngôn của trường do ông Hiệu trưởng C.W. Eliot nói và cho viết trên tường. Ông là Hiệu trưởng Harvard từ năm 1869 đến năm 1909 thì nghỉ hưu. Trong câu này ông dùng từ thy, ngày nay đã trở nên cổ ngữ, tương đương với từ your. Tạm dịch nghĩa: “Vào trường để trở nên thông thái. Ra đi để phục vụ tốt hơn đất nước của bạn và đồng loại của bạn”. Phải chăng Trần Quốc Việt đã và đang làm theo câu châm ngôn này?


Đại học Harvard thành lập năm 1636, nay đã 364 tuổi. Từ năm 1973 đến nay, tạp chí Mỹ Survey đã năm lần đề cử Harvard là đại học tốt nhất trong mười trường đại học nổi tiếng thế giới. Khởi đầu, trường mang tên Học viện Cambridge do kiều dân Anh sinh sống ở Mỹ nhớ quê hương mà đặt tên trùng với Đại học Cambridge ở Anh. Năm 1638, người ta đổi tên thành Harvard là tên của ông John Harvard - người có công góp số tiền lớn xây dựng trường. Năm 1780, trường chính thức mang tên Đại học Harvard. Đây là trường đại học danh giá nhất nước Mỹ, có phương tiện học tập nghiên cứu hùng hậu: một trăm thư viện với hơn mười triệu cuốn sách, tám viện bảo tàng, có khu nội trú rất hiện đại cho thầy và trò… Cho đến năm 1990 đã có ba mươi người đoạt giải Nobel vốn là cựu sinh viên của trường. Có sáu vị tổng thống đã từng học Harvard. Harvard là đại học tổng hợp dân lập với các khoa: Triết học, Văn học, Vật lý lý thuyết, Vật lý ứng dụng, Pháp luật, Giáo dục, Quản lý Thương mại, Quản lý Công cộng, Quản lý Công trình, Thiết kế, Y khoa…


Muốn vào học tại Harvard phải qua nhiều thủ tục khắt khe. Riêng học phí để lấy bằng cử nhân (bốn năm học) là hơn 70.000 đôla. Vậy nhưng nhà trường có chính sách khuyến khích nhân tài, cấp học bổng cho những sinh viên xuất sắc. Nhờ thế mà có không ít sinh viên gốc Việt Nam đang học cùng lúc hai, ba ngành khoa học.


Miền Đông bắc Mỹ gồm những tiểu bang đã tham gia thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tôi đã thăm nhiều thành phố lớn của các tiểu bang này. Ở đâu tôi cũng tranh thủ tiếp xúc với giới trẻ Mỹ. Lương thiện, ham học, ham sáng tạo để mau chóng được tách khỏi gia đình, sống tự lập - đó là nét đặc trưng của giới trẻ Mỹ ngày nay.


Những ngày ở Mỹ, tôi đã dành không ít thời gian để mong tiếp xúc với những thanh niên ăn chơi, hút xách, quậy phá, nhưng quả thật, tìm họ không dễ. Đơn giản là vì họ chỉ là thiểu số! Ngay cả ở khu Harlem tại thành phố khổng lồ New York, ban đêm cũng rất thanh bình, đi bộ một mình cũng vô sự! Thế giới ngầm, bọn mafia, các băng nhóm tội phạm… ở nước Mỹ mà tôi được nghe, được đọc khá nhiều. Mỹ rộng 9,5 triệu cây số vuông, đứng thứ tư thế giới, gấp ba mươi lần diện tích Việt Nam, dân số đông gấp hơn ba lần dân số Việt Nam, tự do cá nhân được luật pháp bảo vệ; luật pháp lại cho phép công dân có quyền sử dụng súng, thì tránh sao khỏi nạn xã hội đen! Hệ thống thông tin đại chúng ở Mỹ phần lớn là của tư nhân, đất nước thanh bình, báo chí, truyền hình chỉ mong có sự kiện như giết người, hiếp dâm trẻ em, cướp của, cháy nhà, vị chính khách nào đó đi chơi gái… để tương lên kín trang nhất nhằm câu khách. Chỉ cần một vụ chạm súng, một vụ bắt cóc tống tiền, tai nạn giao thông… thì các báo đua nhau khai thác, các hãng truyền hình dùng trực thăng quay trực tiếp cho thật giật gân! Thế nhưng trong suốt một tháng sống trên đất Mỹ, trên trang nhất các báo, tôi chỉ gặp một, hai tin tức về tội phạm; những thành phố tôi ở, không thấy bóng dáng xã hội đen đâu cả!


Ra đường, từ Nam Mỹ đến Bắc Mỹ, từ Đông Mỹ sang Tây Mỹ, dù là trong siêu thị, trong viện bảo tàng, trong kinh đô điện ảnh Hollywood, phim trường Universal, trong khu vui chơi Disney Land, trên xe buýt, tàu điện ngầm, mười hai giờ đêm cũng như giữa ban ngày… tôi thấy thanh niên Mỹ rất hiền lành mà năng động, lịch sự, biết tôn trọng và nhường nhịn trẻ em, người già, phụ nữ; nhất là ý thức chấp hành pháp luật rất nghiêm. Ý thức này tự nhiên như là hơi thở! Trò chuyện với giới trẻ Mỹ thật hứng thú. Thanh nữ Mỹ phần lớn có thân hình đẹp, mắt sáng, tâm tính hồn nhiên, giàu sức gợi cảm!


Ở thành phố Bridgeport tiểu bang Connecticut cách trung tâm thành phố New York một giờ xe hơi, tôi chứng kiến một chuyện đáng nhớ. Bridgeport là thành phố nằm trên bờ Đại Tây Dương, rất đẹp. Nơi đây đã từng tập trung rất nhiều nhà máy chế tạo vũ khí, thiết bị chiến tranh (tàu ngầm, máy bay phản lực, trực thăng…). Sau chiến tranh lạnh, sau khi Liên Xô sụp đổ, người ta đã di chuyển phần lớn những nhà máy này về các tiểu bang miền Tây và Trung tây như Arizona, Colorado (ở các tiểu bang miền núi, thuế khóa nhẹ hơn). Trong khi dạo chơi ở Công viên Bờ biển của Bridgeport, gọi là Seaside Park of Bridgeport, một nữ sinh viên hướng dẫn tôi đi hôm ấy nhặt được một chiếc bóp. Cô mở bóp ra, có tiền, nhưng không hề quan tâm đến tiền, cô tìm giấy phép lái xe để ghi lại tên, địa chỉ của khổ chủ. Chưa hết, cô còn cẩn thận ghi lại số điện thoại và địa chỉ e-mail (thư điện tử) trên danh thiếp của khổ chủ, rồi mới đi tìm cảnh sát kể lại câu chuyện và giao lại chiếc bóp. Về nhà, cô gọi điện thoại nhưng không gặp khổ chủ; lập tức cô gửi e-mail thông báo cho người đó biết tên và số hiệu trên ngực viên cảnh sát mà cô đã giao chiếc bóp! Khi tôi hỏi: “Cô nghĩ gì khi mất nhiều thời gian và cẩn thận đến mức như thế?”. Cô trả lời: “Cháu nghĩ đơn giản là mình phải có trách nhiệm giúp đỡ người không may mắn. Ai cũng phải làm như thế, sau này lỡ mình có bị mất bóp, sẽ có người khác nhiệt tình giúp mình”! Trong quan hệ nam nữ, sinh viên Mỹ hồn nhiên, sôi nổi nhưng rất chừng mực, không hoàn toàn như phim ảnh và sách báo nói về họ. Tuổi trẻ Mỹ chỉ lêu lổng, trụy lạc ở một bộ phận nào đó, rất ít, còn trong giới học sinh, sinh viên, ai cũng có ý thức tập trung học tập để thành tài, ra trường có việc làm để được sống tự lập, sống lương thiện, đàng hoàng. Ý thức này trở thành quyết tâm hành động, nó mạnh hơn những ham muốn khác. Đó là một thực tế. Tôi nghĩ đó chính là động lực làm nên sinh khí cho nước Mỹ!


Sống với giới trẻ Mỹ, tôi nhận ra một điều là họ ít đọc, ít có thời gian đọc sách, báo. Nếu có thời gian, họ dành cho việc nhìn và nghe. Có lẽ vì thế mà khi hỏi họ về lịch sử nước Mỹ, về tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng của Mỹ và thế giới, họ biết rất ít. Như John Adams chẳng hạn. Kiến thức chuyên ngành của anh ta thì khỏi nói rồi, nhưng hỏi anh ta về các đời Tổng thống Mỹ thì anh ta chỉ cười, lắc đầu: “I don’t care”! Quê hương của John Adams có ba vị Tổng thống: John Adams là vị Tổng thống thứ hai, cũng là cha của vị Tổng thống thứ sáu: John Quincy Adams, vị thứ ba là Tổng thống John F. Kennedy. Thế mà cả ba vị Tổng thống đồng hương với John, thân thế và sự nghiệp ra sao, John cũng chỉ biết lơ mơ. Hỏi về tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng của Mỹ như Ernest Hemingway, John Steinbeck, F. Scott Fitzgerald, Mark Twain, Margaret Mitchell, Fenimore Cooper và nhà thơ W. Whitman… thì anh hầu như chỉ biết lõm bõm. Anh không nhớ một tác phẩm nào của Jack London, nhưng lại biết chi tiết Jack London là một đứa con hoang, làm lụng cực khổ không đủ ăn bèn theo dòng người đi tìm vàng, ông ta tự sát năm bốn mươi tuổi, khi rất giàu có! John Adams cứ khăng khăng bảo rằng cuốn A Farewell to Arms (1929 - Giã từ vũ khí) là của William Faulkner chứ không phải của nhà văn Hemingway! Thế nhưng hỏi về các ngôi sao điện ảnh đoạt giải Oscar, ngôi sao ca nhạc đoạt giải Grammy… thì anh thuộc làu như một pho từ điển! Văn hóa nghe nhìn cực thịnh tại Mỹ.


Kiến thức về khoa học chuyên ngành của thanh niên Mỹ là rất sâu và mang tính thực tiễn cao, nhưng kiến thức về xã hội của họ thì không tương thích, hơi nghèo! Điều này có nhiều nguyên nhân. Nước Mỹ non trẻ về lịch sử nhưng đã đóng góp vào kho tàng văn hóa nghệ thuật thế giới những thành tựu rất lớn trên ba lĩnh vực: Văn học với chín nhà văn đoạt giải Nobel; Điện ảnh và Âm nhạc. Thế nhưng khoa học kỹ thuật của Mỹ lại phát triển như vũ bão. Phải chăng vì thế, người Mỹ coi trọng các môn học thuộc về lĩnh vực khoa học, toán học. Hiện nay trong số 70 triệu người Mỹ trong độ tuổi đi học, có 15 triệu sinh viên đại học. Ở tuổi mẫu giáo, trẻ em được khuyến khích tự do biểu hiện, tự do phát triển, không bị giáo dục theo giáo trình quy định. Học xong trung học, việc học tiếp lên đại học dễ dàng, tự nhiên, không phải thi tuyển vào đại học. Nền kinh tế tri thức của Mỹ cần nhiều lao động có tri thức, trình độ khoa học kỹ thuật cao. Bởi thế cổng trường đại học rộng mở đón mọi người. Gia đình ông Trương Ngọc sang Mỹ định cư từ năm 1995, hiện ở thành phố Bridgeport, có năm người: Chồng năm mươi lăm tuổi, và vợ bốn mươi tám tuổi vừa đi làm vừa đi học tại trường Houstatonic College; con gái lớn năm nay tốt nghiệp đại học; hai con trai đang học UB (University of Bridgeport).


Hệ thống đại học ở Mỹ gồm: Community College (đại học ngắn hạn), College (đại học chuyên ngành 3-4 năm), và University (đại học 4 năm). Mỹ hiện có gần 1.800 trường đại học được công nhận, chưa kể hàng trăm cao đẳng tư thục của các tổ chức, cá nhân, của tôn giáo… được tài trợ bởi các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm. Nước Mỹ không có Bộ Đại học của Liên bang! Bộ Giáo dục Liên bang thì mới thành lập năm 1979! Tốt nghiệp trung học, học sinh Mỹ tự do vào đại học, chỉ cần có khả năng nộp học phí! Sinh viên đại học tự do chuyển trường, tự do nhập trường, muốn vào học trường đại học nào tùy ý. Có khoảng sáu triệu rưỡi trong tổng số mười lăm triệu sinh viên ở Mỹ được học bổng! Quy mô của các trường đại học, phương tiện học tập, nghiên cứu khoa học, hệ thống thư viện và bảo tàng, khu nội trú, vui chơi giải trí… của các trường đại học ở Mỹ thật hiện đại; hoàn hảo đến mức sinh viên vào trường chỉ còn duy nhất một sự chọn lựa là phải lao vào học cho giỏi, cho thành tài. Các trường đại học ở Mỹ đã thực hiện được chuẩn mực mà ông C.W. Eliot, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard từ năm 1869 đến năm 1909 đề ra: “Trường đại học là thầy dạy chân lý, là cái kho chân lý, và là người đi tìm chân lý”!


Nói tới các trường đại học Hoa Kỳ, người ta không thể không nhắc tới Ivy League - nhóm các trường đại học có truyền thống ở East Coast (vùng bờ biển miền Đông nước Mỹ) ra đời từ thế kỷ 18, nổi tiếng về tiêu chuẩn học thuật cao và uy tín xã hội. Sở dĩ nhóm các trường này có tên là Ivy bởi ngay từ khi mới xây dựng, các trường đều trồng loại cây dây leo bám vào tường nhà trường, và chỉ trồng duy nhất cây dây leo mang tên Ivy (thường xuân). Ivy là loại cây dây leo xanh tốt quanh năm, tôi đã ngắt vài lá mang về làm kỷ niệm. Lá cây Ivy có năm đầu nhọn, màu sáng sẫm. Hầu hết các trường đại học mà tôi đến thăm đều trồng loại dây leo này, như là biểu tượng của truyền thống đại học Mỹ!


Sau Trường Đại học Harvard đã nói ở trên, phải kể tiếp hai trường đại học nữa trong số những trường danh tiếng nhất là Đại học Stanford ở Palo Alto, thành phố San Francisco, và Đại học Yale thuộc tiểu bang Connecticut. Tờ tuần báo Mỹ nổi tiếng thế giới Newsweek từ năm 1984 đến nay đã bốn lần liên tục bình chọn Stanford University là đại học tốt nhất toàn nước Mỹ. Từ thành phố San Francisco đi về phía nam sáu mươi dặm là tới trường. Trường này mang tên ông vua đường sắt Stanford vì đã có công quyên góp tiền xây dựng từ cuối thế kỷ 19. Từ năm 1954 đến nay đã có 13 người đoạt giải Nobel nguyên là sinh viên tốt nghiệp tại Stanford.


Trường đại học Yale thuộc tiểu bang Connecticut, ra đời năm 1717, mang tên ông Y. Yale, một thương gia người Anh đã cấp vốn xây trường. Ban đầu, người ta gọi là Học viện, đến năm 1887, trường đổi thành Đại học Yale. Nhiều năm liền Yale được bầu chọn là đại học tốt nhất nước Mỹ. Có ba vị Tổng thống Mỹ và mười học giả đoạt giải Nobel từng tốt nghiệp đại học Yale. Có không ít học giả, nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam từng tốt nghiệp các trường đại học MIT, Harvard, Yale, Stanford, Berkerly…


Trường Đại học California là trường đại học có quy mô lớn nhất, số sinh viên đông nhất: gần 130.000 người! Chỉ riêng tiểu bang California đã có hàng chục trường đại học và cao đẳng, nhưng lớn nhất là University of California (trung tâm ở Berkerley) và Stanford. Trường Đại học Stanford có công rất lớn trong việc nghiên cứu khoa học và mời gọi đầu tư vào Công viên Nghiên cứu Khoa học của trường ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Chính nhờ thế mà khu công nghệ cao nổi tiếng thế giới, tức Silicon Valley được hình thành. Silicon Valley không thể nào thành công vang dội được như ngày nay nếu như không có giới trẻ Mỹ ăn học thành tài từ các trường đại học cả nước về đây lập nghiệp. Noi gương Stanford, các trường đại học Mỹ khuyến khích giáo sư và sinh viên bán các phát minh của mình cho các nhà sản xuất. Chất xám được phát huy tối đa. Chỉ nói riêng người Mỹ gốc Việt Nam đã có không dưới hai mươi người hiện là các nhà khoa học thuộc loại hàng đầu của Mỹ đang làm việc trong NASA, trong ngành nguyên tử lực và trong công nghệ điện tử!


Tôi có dịp sống với một vài nhà doanh nghiệp trẻ tại Thung lũng Hoa vàng. Sau những ngày ở miền Đông bắc Mỹ, tôi lại rời phi trường quốc tế New York mang tên John. F. Kennedy để bay thẳng về thành phố San Francisco. Tôi đi thăm những thành phố lớn ở miền Nam, đến tiểu bang Nevada để thăm trung tâm cờ bạc lớn nhất Mỹ, và tôi dành tuần lễ cuối cùng trước khi về Việt Nam để tiếp xúc với giới doanh nghiệp trẻ trong Silicon Valley. Gọi là “tiếp xúc” chứ thực tình là cùng ăn, cùng ngao du, cùng trò chuyện tếu táo với nhau. Nhờ Trời, tôi may mắn được họ coi như chỗ thân tình, nhiệt tình hướng dẫn! Tôi đã gặp anh trai của Trần Quốc Việt, tên Mỹ là Martin Tran. Anh có hai chục nhân viên trong công ty của mình, trong đó có hai người Ấn Độ, một người Nga, bốn người Mỹ; đặc biệt là có ba người Việt Nam sang Mỹ làm luận án tiến sĩ đến đây làm ngoài giờ kiếm tiền; còn lại là người Mỹ gốc Việt. Nhân viên của Martin có hai tiến sĩ, tám cử nhân, là những chuyên gia về phần mềm. Martin nói: “Tôi phải trả lương rất cao mới giữ được các vị chuyên gia này làm việc cho mình. Tiền nào của đó mà! Ở thung lũng này cạnh tranh để giành hợp đồng rất gay gắt, nhưng không gay gắt bằng cạnh tranh để giành chất xám, tài năng! Bởi một khi có chất xám, có người tài là có tất cả. Nguyện vọng của tôi là về Việt Nam chiêu mộ được các kỹ sư trẻ chuyên về tin học đưa sang đây làm việc. Không biết Nhà nước Việt Nam có cho phép hay không? Nếu được như vậy thì tuyệt biết mấy!”.


Cùng một ngành sản xuất với Martin Tran, tôi gặp Tony Hoang. Tony cùng với hai người bạn thân vốn là những chuyên gia phần mềm của các hãng điện tử sừng sỏ. Họ mới tách ra mở công ty riêng được một năm nay. “Hợp đồng nhiều, không đủ người thực hiện. - Tony nói. - Chúng em hiện có mười bốn người, toàn kỹ sư và Master (thạc sĩ), trong đó có hai người Ấn Độ. Kế hoạch của chúng em là phấn đấu để trong năm 2001 phải đưa công ty ra thị trường chứng khoán New York”. Tôi nói: Ở Việt Nam có các công ty lo việc xuất khẩu lao động, sao không thông qua những công ty này tìm kiếm nguồn nhân lực đang dồi dào trong nước? Tony Hoang trả lời: “Phiêu lưu lắm! Coi báo trên internet thấy có nhiều công ty lừa! Chúng em mong rằng Nhà nước Việt Nam cho phép lao động có kỹ thuật cao trong nước được phép tự do đăng ký đi ra nước ngoài làm ăn. Được như thế thì rất có lợi cho nước, cho dân mình, có lợi cho cả những công ty gốc Việt Nam trên đất Mỹ!”.


Tony Hoang có nước da trắng, cao một mét tám, nặng tám mươi ký, đẹp trai, đôi mắt thông minh, cười rất hiền, trước khi học đại học đã kinh qua hai năm nghĩa vụ quân sự của Hoa Kỳ. Một ngày làm việc của anh: Sáng dậy từ năm giờ, ăn sáng nhanh, mang theo ly cà phê trên xe, vừa đi đến hãng vừa uống. Anh dùng chiếc xe hiệu Toyota giá 40.000 đô (theo lời anh, ông chủ của Hãng Oracle là Larry Ellison xài chiếc xe mui trần Bentley trị giá 350.000 đô, bởi tài sản của Larry lên tới 50 tỷ đô!). Tony Hoang làm việc không bao giờ dưới mười hai tiếng một ngày, trong đó bốn tiếng đồng hồ làm cho một hãng lớn với tiền lương 30 đôla một giờ. Mười hai giờ trưa ra khỏi hãng, ghé tiệm ăn thức ăn nhanh, sau đó về công ty của mình làm việc từ một giờ chiều cho đến chín giờ đêm mới về nhà với vợ con. Hai năm trước, Tony Hoang cưới vợ, mới có một con. “Ngày thứ bảy và chủ nhật nhân viên công ty nghỉ, nhưng em thì không được nghỉ; chỉ dám cho phép mình nghỉ để vui với vợ con vào chiều chủ nhật! Có nhiều khi, đơn đặt hàng yêu cầu hoàn tất gấp, em phải làm việc thâu đêm không ngủ! Hiện tại, em phải dành toàn bộ thời gian cho công việc, nếu có nhu cầu giải trí thì chỉ biết nghe nhạc và coi video. Em không còn thời gian để đọc sách. Nếu có thì chỉ là sách kỹ thuật chứ không còn thời gian đọc sách văn học”.


Sức trẻ, tài năng, chăm chỉ như vậy thì thu nhập cao, mức sống cao, đó là tất yếu, có gì lạ?! Tony Hoang tâm sự: Bill Gates thuở hàn vi cũng rất nghèo, rất vất vả. Ông ta mở công ty riêng từ khi học trung học. Khi đang học Harvard, Bill Gates đã nhảy ra chớp lấy thời cơ và nay Hãng Microsoft của ông ta đang chiếm gần tám mươi phần trăm thị phần điện toán thế giới! Mặc dù ông ta đang bị kiện cáo, giá cổ phiếu của Microsoft đang giảm rất nhanh, nhưng Bill Gates mãi mãi là hình ảnh tiêu biểu mà giới doanh nghiệp trẻ ở Mỹ noi theo! Muốn vươn lên, không còn cách nào khác là phải cướp lấy thời gian. Tài năng và thời gian, đó là hai nguồn vốn quý giá nhất ở đất nước này!


Phần 3: Xã hội, môi trường và ý thức công dân


Tu do

Triệu Xuân trước Tượng Nữ Thần Tự Do, 03-2000.



Ai đến Hoa Kỳ mà chưa tới thăm tượng Nữ thần Tự do (tên đầy đủ là tượng Thần Tự do soi sáng các dân tộc - The Statue of Liberty Enlightening the Nations) thì coi như chưa đến Mỹ! Trong số hơn 70 triệu lượt du khách đến Mỹ hàng năm, tôi dám cá rằng ít nhất có hai phần ba phải đến thăm tượng Nữ thần Tự do! Vì sao vậy? Đơn giản vì Tự do là khát vọng cháy bỏng của toàn nhân loại! Tôi đã dành gần một ngày cho chuyến ra đảo Tự do ở cảng New York nhìn ra Đại Tây Dương, thăm pho tượng này. Chỉ riêng việc xếp hàng để leo lên đầu pho tượng (phía bên trong) và đi xuống, mất ba tiếng đồng hồ. Vương miện của Nữ thần Tự do có bảy tua kim (spike) tượng trưng cho bảy lục địa và bảy đại dương, tức là toàn thế giới. Thời kỳ đó, người ta quan niệm thế giới không phải chỉ có năm châu và bốn biển! Ngọn đuốc được giơ lên bằng cánh tay phải tượng trưng cho sự thật và công lý soi sáng Thế giới. Tượng do nhân dân Pháp quyên góp 250.000 đôla Mỹ đúc tặng, khánh thành năm 1886, nặng 225 tấn, cao 46 mét, kể cả bệ là 71 mét (bệ do nhân dân Mỹ quyên góp 270.000 đôla để đúc), tính cả ngọn đuốc thì cao 71 mét. Tay trái pho tượng cầm tấm bảng khắc chữ và số như sau: July IV MOCCXXVI. July tiếng Anh nghĩa là tháng Bảy, những số La Mã còn lại nghĩa là ngày mồng 4 năm 1776, tức Ngày tuyên bố Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ở bệ tượng Nữ thần Tự do có biển đồng khắc bài thơ mười bốn câu của Emma Lazarus. Những câu cuối bài thơ:


… Hãy mang đến cho ta những đám người mệt mỏi, khốn khó


Khao khát được thở không khí Tự do


Những mảng rác rưởi của những bến bờ nhung nhúc của ngươi


Hãy mang đến cho ta những kẻ không nhà, bị bão đánh tan


Ta giơ ngọn đuốc lên bên cạnh tấm cửa vàng!


Hoa Kỳ là thế giới của những người nhập cư. Từ thập kỷ 70 trở lại đây, nhất là sau đạo luật nhập cư năm 1965, Chính phủ Mỹ liên tục nới lỏng chính sách nhập cư cho nên tốc độ nhập cư vào Mỹ tăng ào ạt. Làn sóng nhập cư mãnh liệt nhất là sau Đại chiến thế giới thứ nhất, Đại chiến thứ hai và sau chiến tranh Việt Nam. Tổng dân số Mỹ theo cuộc điều tra dân số năm 1992 là 253 triệu người, đến nay ước khoảng hơn 260 triệu người. Tìm hiểu xã hội Mỹ, thấy một thực tế là dân mới nhập cư gốc châu Á, gốc Mỹ Latinh (Hispanic), gốc Đông Âu, thành đạt nhiều hơn, nhanh hơn hậu duệ của những người châu Âu nhập cư trước đây. Thực tế này khiến tôi suy nghĩ nhiều: Tại sao Chính phủ Mỹ lại tạo mọi cơ hội tốt nhất cho dân mới nhập cư lập thân, lập nghiệp?


Từ đầu thế kỷ 20 ở Mỹ đã xuất hiện huyền thoại về nồi hầm nhừ (melting pot), ca ngợi xứ sở này như cái lò luyện nhiệm màu, biến những người “rác rưởi” tứ phương tới đây thành những người Mỹ giàu có, lương thiện!


Trong những ngày ở thăm Los Angeles, tôi có dịp trò chuyện với ông Nguyễn Mộng Giác, làm người thiết kế và biên tập danh bạ điện thoại cho một công ty điện thoại lớn nhất Mỹ. Ông Giác là một nhà giáo, nhà văn, quê Bình Định, nhà ông cách căn nhà của ba anh em Nguyễn Huệ một dòng sông Côn. Từ năm 1976 đến năm 1980, khi còn ở trong nước, ban ngày ông Giác đi làm mướn cho lò mì sợi ở Phú Lâm, ban đêm về viết bộ trường thiên tiểu thuyết dài hai ngàn trang về Nguyễn Huệ, mang tên Sông Côn mùa lũ. Cuối năm 1980, ông Giác vượt biên, để lại vợ con và bản thảo bộ tiểu thuyết nói trên. Năm 1981, ông được định cư tại Mỹ. Năm 1995, vợ con ông được sang Mỹ đoàn tụ gia đình, vợ ông trao tận tay ông tập bản thảo hơn hai ngàn trang viết tay còn nguyên vẹn. Sách được xuất bản tại Mỹ. Năm 1999, Nhà xuất bản Văn học của Việt Nam đã in lại Sông Côn mùa lũ và sách bán rất chạy, hết ngay! Tôi hỏi ông Giác về huyền thoại “nồi hầm nhừ”. Nhà văn kể cho tôi nghe câu chuyện thuở ông ở trong trại trên đảo của Indonesia: “Trên đảo có khoảng hơn năm ngàn người sống trong nhiều trại. Một phái đoàn của Mỹ đến lọc ra được vài trăm người có học vấn, nghề nghiệp như bác sĩ, nhà giáo, kỹ sư, công nhân kỹ thuật… để đưa qua Mỹ. Sau đó họ để cho các nước khác đến sàng lọc. Cuối cùng, còn khoảng hơn một ngàn không có học thức, không nghề nghiệp… không nước nào dám nhận, thì chính phái đoàn Mỹ hôm trước lại đến và… nhận cho đi Mỹ không sót một ai! Điều đáng nói là hơn một ngàn người ấy, “rác rưởi”, cặn bã - như lời thơ của Emma Lazarus - từ khi định cư ở Mỹ đến nay hầu hết chí thú làm ăn lương thiện, nhiều người trở nên khá giả…”!


Trên triền núi Đen (Black Hills) ở tiểu bang South Dakota có tạc chân dung Tổng thống Georger Washington (1732-1799), cao 18 mét cùng tượng ba vị Tổng thống khác là Thomas Jefferson (1743-1826), vị Tổng thống thứ ba, người viết Bản Tuyên ngôn Độc lập; Franklin Roosevelt (1882-1945), người đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929; Abraham Liconln (1809-1865), vị Tổng thống trong cuộc nội chiến.


Người Mỹ tri ân bốn vị Tổng thống nói trên, đặc biệt coi G. Washington như vị Tổ khai quốc. Sau khi ông chết, Quốc hội Mỹ đã nhất trí lấy câu của Henry Lee, chiến hữu của Tổng thống để phong tặng G. Washington là: “Người đứng đầu trong chiến tranh, đứng đầu trong hòa bình, và đứng đầu trong trái tim nhân dân”. Những năm trước khi lìa đời, G. Washington bộc lộ nhiều sai lầm, bị những đối thủ chính trị công kích dữ dội. Thế nhưng, tiếng thơm của ông thì còn mãi, tiếng xấu không ai nhớ! Những thế hệ công dân Mỹ sau này luôn luôn coi trọng ông như thần tượng, như cha đẻ của nước Mỹ. Những chính khách Mỹ, mỗi khi có dịp, không một ai không tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn ông! Điều quan trọng nhất trong nền chính trị Mỹ là tính liên tục về chính sách, nhất quán về mục đích của tất cả các đời Tổng thống. Phải chăng nhờ vậy mà tạo ra niềm tin cho nhân dân?


Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một lục địa, có diện tích rộng thứ tư thế giới: 9,5 triệu cây số vuông. Từ bờ biển Đại Tây Dương phía Đông sang bờ Thái Bình Dương phía Tây nước Mỹ cách nhau 4.800 kilômét; từ Bắc xuống Nam 2.000 kilômét. Nước Mỹ có 50 tiểu bang. Khác với Việt Nam, về mặt kinh tế, ta tính chỉ tiêu GDP của từng tỉnh; Mỹ không tính GDP của từng tiểu bang, ngoại trừ tiểu bang hải đảo Hawaii giữa Thái Bình Dương, cách bờ biển phía Tây 4.000 kilômét. Nước Mỹ được giới nghiên cứu chính trị-xã hội đánh giá là có “một nền dân chủ tự do”. Cơ chế chính trị của nước Mỹ gắn chặt với nhiệm vụ điều hành, quản lý xã hội Mỹ nhằm đạt tới sự thịnh vượng cho quốc gia, tự do, hạnh phúc cho người dân. Hiến pháp Mỹ được tiến hành soạn thảo từ sau Hội nghị Philadelphia tháng 5 năm 1787, được ký kết bởi lãnh đạo của 12 tiểu bang tại Hội nghị Lập hiến ngày 17 tháng 8 năm 1787. Đến nay bản Hiến pháp này trải qua hơn 213 năm mà chỉ phải chỉnh sửa có 27 lần, mỗi lần bổ sung nội dung rất ngắn gọn. Quốc hội Mỹ có quyền lực lớn nhất so với Quốc hội các nước trên thế giới. Nước Mỹ tự hào về hệ thống luật pháp của mình: tất cả đều làm ra vì con người, cho con người. Công dân Mỹ không phải chịu đựng cơ chế xin - cho. Tất cả mọi việc như mở công ty, lập hội, lập đảng, biểu tình… đều được phép làm sau khi đăng ký với nhà chức trách, chỉ đăng ký mà thôi. Chính sách đề ra nhằm tạo cơ hội cho dân làm ăn chứ không bắt dân xin xỏ, cấm đoán.


quoc hoiThăm Tòa nhà Quốc Hội Hoa Kỳ.


Đổi lại, ý thức về trách nhiệm của công dân Mỹ rất rõ ràng. Người Mỹ, ai cũng tâm niệm sâu sắc rằng nếu muốn lập thân, lập nghiệp, muốn có cuộc sống hạnh phúc thì trước hết phải sống lương thiện, phải chấp hành nghiêm luật pháp. Người công dân tốt là người không thiếu thuế. Người Mỹ tốt là người được mang nợ! Bởi vì chỉ khi nào anh không thiếu thuế, anh mới được mua trả góp, mới được các chủ nhà băng cho vay tiền làm ăn! Xã hội Mỹ từ suốt bốn mươi hai đời Tổng thống, mấy trăm năm qua đã tạo được niềm tin vững chãi trong dân Mỹ, là: Người lương thiện luôn luôn được tạo cơ hội cho ngẩng đầu sống đàng hoàng! Đây là khác biệt rất lớn với phần còn lại của thế giới, khi mà trong thực tế cuộc sống ở các xã hội đó, người lương thiện bao giờ cũng thua thiệt so với những kẻ mánh mung, thủ đoạn…!


***


Cho đến nay Việt Nam chưa có đường bay thẳng tới Hoa Kỳ. Muốn bay tới Mỹ, phải quá cảnh qua một nước thứ ba. Có hai ngả: thứ nhất, bay tới miền Nam (sân bay San Francisco hoặc Los Angeles) thì bay ven theo bờ Thái Bình Dương. Nếu bay tới miền Đông nước Mỹ (sân bay quốc tế John. F. Kennedy thành phố New York) thì bay qua châu Âu rồi qua Đại Tây Dương.


Mỗi tiểu bang của Mỹ có rất nhiều sân bay dân dụng (sân bay quốc tế riêng, sân bay nội địa riêng). Ở thành phố New York (phân biệt với tiểu bang New York rất rộng lớn) có hai sân bay quốc tế là JFK, tức phi trường John F. Kennedy, thuộc loại sân bay lớn nhất thế giới, cứ ba mươi giây có một máy bay hạ, cất cánh. Sân bay JFK nằm trên Long Island, nhìn ra biển Đại Tây Dương. Sân bay quốc tế thứ hai của thành phố New York là New Wark; ngoài ra còn rất nhiều sân bay quốc nội lớn nhỏ khác. Thành phố New York được gọi là Trái táo lớn (The Big Apple), dân số hơn tám triệu, với hơn một trăm sắc dân. Không ít người cho rằng “Thiên đàng và Địa ngục cùng tồn tại ở đây”, “Thế giới thu nhỏ lại thành New York”. Ở New York, sang trọng nhất là khu Manhattan, đại lộ số 5 là đường sầm uất, khu nhiều người da đen là Harlem. Nói tới New York là người ta nói tới tượng Nữ thần Tự do, Trụ sở Liên hiệp quốc, thị trường chứng khoán New York, Wall Street, Viện Bảo tàng Nghệ thuật (Metropolitan Museum of Art) - kho tàng lớn của văn hóa thế giới, phải mất cả tháng trời mới xem hết lượt!


Hạ tầng cơ sở, kiến trúc đô thị tại New York được xây dựng từ lâu, nhiều công trình xây dựng hàng trăm năm nhưng nay vẫn không lạc hậu. Hơn nữa, thành phố này hàng năm chi ngân sách rất lớn cho công tác tu bổ, làm mới hạ tầng cơ sở. Đi trong các đường phố cổ, ở đâu tôi cũng gặp những công trường đang thi công (chỉ thi công vào ban đêm, không ảnh hưởng nhiều tới lưu thông đường phố). Thế nhưng, do quá đông dân và quá nhiều khách vãng lai cho nên nạn kẹt xe ở New York là chuyện thường ngày. Xe hơi chạy từ sân bay JFK về trung tâm thành phố vào giờ cao điểm, mất đứt chín chục phút, nếu không kẹt xe chỉ cần hai chục phút! Một vài xa lộ thuộc hệ thống giao thông ở New York so với các tiểu bang lân cận như Connecticut, New Jersey thì thua xa. Hệ thống tàu điện ngầm cũng không bằng tàu điện ngầm ở Mátxcơva (Nga). Riêng khu phố Tàu ở New York tôi thấy giống hệt khu phố Tàu ở các thành phố lớn tại Australia về mặt chật hẹp và mất vệ sinh. Hàng quán tràn cả ra lề đường y hệt Chợ Lớn!


Hệ thống giao thông của Mỹ thật hoàn hảo, nhất là các tiểu bang miền Nam. Từ San Francisco nếu không đi máy bay mà đi xe hơi lên Los Angeles chỉ mất bốn tiếng rưỡi, nếu đi Las Vegas thì mất mười một tiếng. Thú vị nhất là sau chuyến hành trình, bước xuống xe không hề mệt mỏi, có thể làm việc được ngay! Từ các thành phố vệ tinh về trung tâm Los Angeles có tới hơn chục xa lộ, với hàng trăm cầu vượt, cầu tránh. Trên các xa lộ, có các phương tiện kỹ thuật hiện đại như rada, vệ tinh, camera, tế bào điện cảm ứng… để chỉ huy, kiểm soát giao thông. Lúc bình thường, không hề thấy cảnh sát giao thông cũng như các loại cảnh sát khác trong thành phố. Không hề thấy bóng dáng của lực lượng vũ trang Mỹ xuất hiện trong các đô thị lớn, nhỏ! Thế nhưng khi có sự cố xảy ra, cảnh sát lập tức xuất hiện, nhanh chóng, hiệu quả. Cảnh sát Mỹ trang bị hiện đại, trang phục đẹp, có kỹ năng phản ứng nhanh, xuất hiện nhanh như tàng hình. Luật pháp cho phép cảnh sát được quyền nổ súng trước nếu như đối tượng không tuân lệnh.


Hôm đi Las Vegas, tôi chứng kiến cảnh một xe cảnh sát giao thông rượt theo một xe ô tô, cuộc rượt đuổi kéo dài đến mười phút thì xe cảnh sát mới bắt được chiếc xe kia dừng lại. Người lái xe để cả hai tay trên vô lăng chăm chú chờ lệnh cảnh sát. Khi hai cảnh sát chĩa súng xông tới mở cửa xe, ra lệnh cho lái xe rời khỏi xe thì người lái liền đưa hai tay lên đầu và bước ra. Ngay lập tức anh ta bị bẻ quặt hai tay khóa còng phía sau lưng và bị đẩy chui tọt vào xe cảnh sát! Cảnh sát rất nặng tay! Người hướng dẫn đi cùng tôi giải thích: Khi cảnh sát bắt dừng xe mà không đặt hai tay trên vô lăng là bị bắn liền! Khi được lệnh bước ra khỏi xe mà không đưa hai tay lên đầu là cảnh sát súng nổ ngay! Những vi phạm luật giao thông thường gặp là: chạy quá tốc độ quy định (có những đoạn xa lộ 14 làn xe chạy nhưng chỉ được chạy tối đa 60 dặm một giờ), có hơi men khi lái xe, vượt đèn đỏ (ở những ngã tư đường nhỏ, không có đèn hiệu thì lái xe phải tự giác như là có đèn hiệu: dừng hẳn xe, thắng nhỏng đít xe vài giây rồi mới được băng qua), không cài dây an toàn, xe phun khói đen quá mức quy định… Tùy theo lỗi vi phạm mà có hình phạt thích ứng. Hình phạt thấp nhất là học lại luật giao thông trong bảy ngày và nộp phạt 500 đôla. Trong bảy ngày đi học lại luật, nếu đến ngày thứ bảy mà lại đi trễ giờ thì phải học lại từ đầu. Học xong, phải thi sát hạch đàng hoàng, không đậu thì học tiếp! Mất 500 đôla thì chịu được chứ phải nghỉ sở làm bảy ngày để đi học lại luật giao thông thì đồng nghĩa với mất việc làm! Mà mất việc làm tức là có nguy cơ mất nhà, mất xe, mất hạnh phúc vì vợ bỏ…! Luật pháp nghiêm minh, nhân viên cảnh sát được trả lương cao, phương tiện làm việc hiện đại cho nên rất ít trường hợp cảnh sát ăn hối lộ. Người phạm luật lại càng không dám đưa hối lộ! Ở các xưởng sửa chữa xe và trạm xăng, cảnh sát đặt máy kiểm tra khói, máy này nối thẳng với Trung tâm kiểm soát phương tiện lưu thông. Xe nào có khói quá mức cho phép thì bị cấm lưu hành. Nhờ thế mà xe hơi như nêm cối nhưng không khí bớt ô nhiễm, đường phố giảm được lượng bụi độc hại. Trên xa lộ, có xe nào bị hư máy hoặc có tai nạn giao thông, cảnh sát giải tỏa mau lẹ. Khi cần, người ta dùng trực thăng can thiệp để giải phóng mặt đường. Quan sát tác phong làm việc, chứng kiến hành động phản ứng mau lẹ và hiệu quả của cảnh sát Mỹ, tôi ước ao cho lực lượng cảnh sát giao thông nước nhà đạt được như thế!


Không chỉ cảnh sát giao thông, lực lượng an ninh cơ động hay phòng cháy chữa cháy phản ứng còn nhanh hơn! Khi có sự cố, chỉ cần nhấn số điện thoại 911 thì lập tức cảnh sát xuất hiện! Phương tiện phòng cháy chữa cháy trong các đô thị Mỹ hiện đại và hiệu quả!


Luật pháp quá chi tiết, cụ thể, việc thực thi rất nghiêm cho nên công dân Mỹ càng tôn trọng luật pháp. Những người nhập cư muốn được nhập quốc tịch Hoa Kỳ phải nhất thiết trải qua một khóa học, có thi cử rất chặt chẽ. Trong khóa học ấy, ngoài việc học thuộc lịch sử Mỹ, phải học thuộc hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ.


Tôi đã dành thời gian đi vào các khu rừng Mỹ ở thượng nguồn sông Potomac, ngoại ô thủ đô Washington (Washington DC), tôi thấy nhiều cây rừng gẫy đổ mục rữa, nấm mọc dầy. Trên khắp liên bang, rừng Mỹ không hề bị khai thác bừa bãi. Tài nguyên, khoáng sản cũng được bảo vệ nghiêm ngặt. Nước Mỹ chưa sử dụng dầu hỏa của mình. Tại vùng ngoại ô các thành phố Bridgeport, Philadelphia… ban đêm hươu nai rời rừng tiến vào vườn các gia đình tự nhiên như ở trong rừng. Người ta thường mở cửa đón hươu nai, cho chúng thức ăn. Tại nhà riêng của nhà văn Nguyễn Mộng Giác ở Santa Ana, CA, ban ngày có rất nhiều chim bồ câu sà xuống vườn và chúng được vợ của nhà văn mang gạo ra vừa cho chim ăn, vừa trò chuyện với chúng! Trong các cống lớn của thành phố Florida, người ta thường gặp cá sấu từ vùng đầm lầy đi tới. Trên bãi biển Đại Tây Dương ở Long Island, New York, ngày cuối tuần, rất nhiều người mang theo từng túi lớn bánh mì xắt nhỏ cho chim biển ăn. Tôi đã chứng kiến cảnh này: Hàng ngàn con hải âu sà xuống kín cả bãi cát, chim hải âu ăn thức ăn ngay trên lòng tay người! Ở Mỹ, không ai nghĩ tới chuyện xâm phạm môi trường như cỏ cây hoa lá chim muông. Nước Mỹ có hàng trăm ngàn công viên, rừng quốc gia, sở thú… Lớn nhất là sở thú San Diego gần Mexico. Cầm thú, nhất là chó, mèo được bảo vệ, chăm sóc như… trẻ em! Thành phố nào cũng có nhiều siêu thị bán đủ loại thức ăn, chuồng nuôi, nệm ngủ, thuốc men, vật trang sức cho cầm thú. Mỹ là một quốc gia sạch, hầu như không có muỗi và rất ít ruồi!


Khen nước Mỹ giàu có, phồn vinh thì khen cả ngày, khác nào khen “phò mã tốt áo”! Thế nhưng phải thừa nhận rằng các biện pháp xóa nghèo, ngăn chặn tội ác và tệ nạn xã hội của Chính phủ Mỹ liên tục từ nhiều đời Tổng thống đến nay rất hiệu quả. Trong vòng chín năm qua, nền kinh tế Mỹ không ngừng tăng trưởng, đồng đôla Mỹ chiếm ưu thế trên trường quốc tế, xã hội Mỹ giảm được rất nhiều tỷ lệ người nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, giảm tội ác và tệ nạn xã hội. Tỷ lệ người nghèo trong năm 1999 chỉ còn khoảng mười phần trăm, giảm tới mức thấp nhất kể từ năm 1964 khi Tổng thống Lyndon Johnson thực hiện chính sách xóa nghèo. Nhờ nguồn phúc lợi xã hội Mỹ rất lớn, số người trong diện nghèo được trợ cấp đảm bảo đời sống. Tuy thế, Chính phủ Mỹ chưa bao giờ bớt lo ngại về tình trạng thiếu việc làm để giải quyết tận gốc vấn đề người nghèo!


Nước Mỹ tự do mọi thứ, nhưng về mặt công khai, nước này cấm phụ nữ bán dâm. Ở các thành phố có các tiệm kinh doanh vũ khỏa thân hoạt động trật tự. Thế nhưng không hề có nạn cà phê ôm, bia ôm, cắt tóc ôm, không có nạn gái bán dâm tràn ra lòng đường... Những ngày tôi ở New York, ban đêm không thấy gái mại dâm đứng đường, đi bộ giữa khu Harlem vào mười một giờ đêm mà rất yên bình. Chiếc túi đựng hộ chiếu và tiền bạc, đeo trước ngực, bên trong áo sơ mi - đề phòng mất cắp - nhưng không bao giờ phải dùng tới! Ở Mỹ một tháng nhưng chỉ khi làm thủ tục lên máy bay tôi mới phải trình hộ chiếu; vào khách sạn tôi chưa phải trình hộ chiếu bao giờ!


***


Xã hội Mỹ còn chứa trong lòng nó không ít điều nhức nhối. Mặt trái của một xã hội tất nhiên là có vì chỉ có như vậy mới đúng là cõi nhân gian! Tôi sẽ phản ảnh mảng thực tế này ở một dịp khác.


Thế nhưng không thể phủ nhận được những thành tựu kinh tế - xã hội đã nâng cao mức sống của người dân Hoa Kỳ, nhất là trong vòng hai thập niên qua. Để có được hiện trạng sáng sủa như ngày nay, nước Mỹ đã trải qua rất nhiều thăng trầm. Nền chính trị Mỹ luôn luôn năng động - nhờ có đối trọng là chủ nghĩa Mác-Lênin - đã không ngừng tự điều chỉnh cho thích ứng với nhu cầu của đất nước, của lòng dân và của thời đại. Nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy và phát huy cao độ nhân tài, vật lực của nước Mỹ, làm cho nước Mỹ ngày càng giàu sinh khí, văn minh, phồn thịnh. Tôi nghĩ, đây không chỉ là thành tựu của riêng một quốc gia mà là thành tựu chung của cả loài người!


Trên đây chỉ là những cảm nhận của tôi về Hoa Kỳ sau chuyến du khảo một mình, hơn một tháng, mong đưa tới bạn đọc một chút ánh phản về xã hội Mỹ đang không ngừng biến đổi!*


Tháng 6 năm 2000.


* Đã đăng nhiều kỳ trên báo Sài Gòn Giải phóng; báo Văn nghệ, số 47, ngày 18-11-2000. Tuổi trẻ Chủ nhật số 46, ngày 19-11-2000.


* Post lần đầu trên www.trieuxuan.info ngày 14-10-2008.


* In trong Lấp lánh tình đời. Truyện và Ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »