tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21099080
Tiểu thuyết
09.10.2009
GERALD Gordon
Hãy để ngày ấy lụi tàn

XI- Nom thấy Anthony buộc cái giỏ vào phía trước chiếc xe đạp, Rover (Rôvơ), con chó nuôi kế tiếp con chó già Spuds sủa điên cuồng, vẫy đuôi và thở hổn hển, thè cái lưỡi cong thành nếp. Đó là dấu hiệu một chuyến đi chơi sông. Bé Steve cũng đứng xem công việc sửa soạn, nhưng yên lặng, lảng xa, vì nó biết mình chẳng thể được đi. Anh nó chẳng bao giờ đưa nó đi đâu cả.


Mang theo con chó lai có chiếc mũi đen nhô ra phía trên cái giỏ, Anthony đạp xe tới nhà Bob, rồi hai đứa cùng lên đường.


Trong mấy tháng liền, dòng sông đã cạn đi và vẩn bùn dưới anh nắng chói chang. Trên mặt sông, cơ man là muỗi lớn muỗi bé vo vo khúc hát về cảnh tù hãm. Nhưng mưa đã trút xuống những ngọn núi xa xa, và tuần trước, một dòng lũ đã chảy xiết, bật rễ các bụi lùm và cây cối, cuốn trôi bò, ngựa và cừu.


Khi Bob và Anthony tới ngọn đồi có mấy chiếc lán lợp tôn mới và lều bạt tạo thành một trại nhỏ của những người đào kim cương bồi tích, thì dòng sông nằm phía dưới cùng, chạy ngay ở khoảng cách ấy, chúng cũng có thể nhìn thấy nước sông dâng lên đáng kể. Thế là hai đứa vội vã đạp xe qua các bụi cây, rồi dựng xe tìm cái hang nhỏ có giấu hai chiếc thuyền tự làm bằng sắt tây. Bob và Anthony an tâm thấy nước lũ không tới đó. Rõ ràng nước đang rút từ từ.


Hai đứa kéo thuyền về phía bờ sông.


- Nào, lôi con vật này lên - Anthony nói, chỉ hai con cừu bị thụt trong đám sình lầy- Chắc chúng đã ở đây suốt đêm.


Hai con cừu bị thụt sâu đến mức chẳng trông thấy bụng chúng đâu cả. Hoảng sợ vì hai chú bé lại gần, chúng vùng vẫy bất lực cố thoát ra, nhưng lại càng lún sâu xuống bùn nữa.


Bob và Anthony vật lộn một hồi lâu cố cứu hai con cừu. Công việc đó càng khó khăn hơn vì hai con vật không biết hai đứa trẻ đang cố giúp chúng. Cuối cùng hai đứa kéo được con cừu nhỏ ra khỏi vũng bùn bết chặt. Tuy bị tê cứng, nhưng con vật này vẫn cố lao vội vào các bụi cây.


Anthony và Bob chuyển sang cứu con cừu lớn. Hai chân dang ra sau và trụ vào hai cành cây to vừa đặt xuống bùn, Anthony kéo cổ con vật, trong khi đó ở đằng trước, Bob lội bùn đến đầu gối đẩy con vật giật lùi và hét to đầy kích động. Từ chỗ đất cứng gần bên, con Rover sủa vang hỗ trợ.


Bob và Anthony vật lộn một hồi lâu, cố sức cứu con cừu.


- Bọn ngốc, chúng mày làm trò gì đấy? - Một đứa nào đó hét to.


Anthony nhìn lên. Hai thằng bé đang đứng cạnh đám bùn. Một đứa là Van der Merwe (Van Đe Meavơ) cùng học ở trường.


- Đang cố lôi một con cừu ra khỏi chỗ này, chúng mày không thấy à? - Bob vặn lại - Đến đây giúp chúng tao với.


- Hai đứa mày cho là chúng tao cũng cám hấp như chúng mày à? Ai lại đi lo cho một con cừu?


Anthony và Bob tiếp tục lôi kéo. Nhưng khi giẫm lép bép xuống bùn mút chặt, chúng càng gặp khó khăn hơn.


Đột nhiên, có những cục bùn rơi chung quanh Anthony và Bob, Van der Merwe và đứa bạn nó đang thích thú giải trí theo kiểu riêng của chúng.


Bỏ con vật, Bob và Anthony lội qua đám bùn tới chỗ đất cứng hơn, nơi hai đứa kia đang đứng.


Thằng bé đi cùng Van der Merwe bỏ chạy ngay từ lúc bắt đầu đánh lộn. Còn Van der Merwe thì chỉ đến khi mất một chiếc răng cửa và chảy máu mồm, mới bỏ chạy. Đến một khoảng cách an toàn, nó quay lại hét to:


- Đồ chó lai da màu! Đồ chó lai da màu. Bố tao bảo mày là một con chó lai chết tiệt.


Nó biến mất vào chỗ những cây cối cao hơn trên bờ sông.


Thở hổn hển sau trận đánh gay cấn vừa rồi, Bob quay lại hỏi Anthony:


- Nó bảo “chó lai da màu” là gì nhỉ?


Anthony chỉ trả lời:


- Tớ không biết.


Bob hoàn toàn thờ ơ trước lời lăng mạ đó và vô tư như mọi khi, rủ bạn quay lại cứu con cừu. Hai đứa lại tiếp tục co kéo, nhưng tâm trí Anthony không còn để vào công việc làm đó nữa. Chúng co kéo thêm một lúc lâu, rồi mệt mỏi vì quá gắng sức, đồng thời hy vọng chủ con cừu thế nào cũng sẽ đến đây lôi nó lên, chúng bỏ dở công việc. Ánh mặt trời đang lặn tạo nên các hình kỳ quái của cây cối và ngọn đồi, khi hai đứa trèo vào thuyền rồi những mái chèo nhỏ bé khua lên mặt nước.


Thỉnh thoảng Bob lại đưa ra một lời nhận xét, nhưng Anthony cứ im lặng khác thường.


Đây là lần đầu tiên có kẻ bảo nó, Anthony Graham là da màu, mà ông Van der Merwe là một người vẫn đến khách sạn Đại Bàng thường xuyên…


Khi về gần tới nhà, Bob chỉ vào quần áo của hai đứa lấm bùn và ẩm ướt. Nó nói buồn bã:


- Tớ mải chơi quá đấy.


Nhưng lúc ngồi vào bàn ăn tối, Anthony đã thay quần áo sạch sẽ và gọn gàng.


Suốt bữa ăn, đầu óc nó cứ nghĩ đến những việc xảy ra trong ngày. Chậm rãi và thận trọng, nó nhìn em rồi nhìn mẹ.


Sau bữa ăn, Mary vào buồng của hai con. Thấy bộ quần áo vấy bẩn, chị hỏi Anthony lý do. Nó kể cho chị tất cả, chỉ trừ lời lăng mạ đã quất vào nó. Nó cũng muốn cho mẹ biết điều đó, nhưng có một cái gì trong lòng ngăn nó lại khi có mặt Steve.


Hai anh em ngồi một lúc ở hiên với bố mẹ. Rồi Steve đi ngủ, còn Anthony vào nhà học bài. Học xong, Anthony nhón chân đi ra hiên một lần nữa. Trong bóng tối, mẹ nó đang ngồi một mình ở chiếc ghế xếp. Bố đã đi dạo. Anthony lặng lẽ đến bên mẹ, mang theo một chiếc ghế, và nó khẽ kể cho mẹ nghe lời chế nhạo của thằng Van der Merwe.


Nghe đến mấy chữ “Đồ chó lai da màu” Mary ngồi thẳng dậy. Rồi chậm rãi, chị ngả lưng vào mảnh bạt, hai tay đặt sau gáy, mắt đăm đăm nhìn mãi những cánh đồng và những mái nhà xa xa. Anthony cảm thấy thương mẹ và tủi thân vô cùng. Nó buồn rầu và căm giận thằng Van der Merwe, căm giận những loại người như thế. Mặc dù nó khao khát mong mẹ nó thốt ra vài lời bác bỏ việc mẹ con nó là da màu, nhưng nó biết chuyện đó ít nhất cũng có một phần sự thật. Kinh nghiệm trải qua đã ghi sâu bài học ghê tởm vào tâm trí nó.


Trong khi đó, Mary đang bị dày vò đau khổ, vừa muốn giúp con mình trong cơn đau đớn, vừa biết mình bất lực không thể an ủi hay chỉ bảo con được điều gì.


Chị ngồi im hồi lâu, mắt đăm đăm nhìn vào hư vô, trong lúc vầng trăng đã lên cao vượt quá những cây hồ tiêu cao lớn, mượt mà ở bên kia đường.


Anthony tưởng hàng giờ đã trôi qua. Thỉnh thoảng môi Mary mấp máy như muốn nói, nhưng lại không nói gì, giống như một bị cáo biết tình trạng vô vọng của mình. Đối với Anthony, buộc tội kẻ hành hạ, ngược đãi nó, chính là buộc tội mẹ nó.


Cuối cùng, Mary phá im lặng. Chị nói lên nỗi đau xót, nhục nhã của chị. Chị không thể tự an ủi mình, nhưng giờ đây phải tìm cách an ủi:


- Con thân yêu, con đừng buồn vì những kẻ như thằng bé hôm nay - Chị hầu như van xin, biện bạch khi đưa tay ra nắm chặt tay con - Thượng Đế đã tạo nên tất cả chúng ta. Người tạo ra người da trắng, da vàng, da đen và da màu. Người không ngừng lại để nói: “Ta đã tạo nên những người da trắng, và giờ đây, ta nghĩ rằng ta đã tạo ra cả chó lai da màu”. Có phải không nào? Đó là những lời thằng bé Van Đe Mevơ đã nói… không phải lời của Chúa, con ạ. Vậy Anthony thân yêu, nếu kẻ nào nói những lời như thế với con, con nên nhớ đó là lời của kẻ xấu xa, chứ không phải là lời của Chúa.


Chị mỉm cười âu yếm với con, nụ cười ấy chứa đựng tất cả tình thương của một người mẹ và sự che chở đứa con chống chọi với thế gian này. Anthony lên giường đi ngủ, trong lòng được an ủi đôi chút.


George chưa về. Vầng trăng đỏ giờ đây nhợt hơn và nhỏ hơn đã lên cao hơn trên bầu trời. Đột nhiên, như một cơn co giật, Mary òa khóc nức nở buông thả lòng mình trong nỗi niềm tuyệt vọng xót xa.


Một lát sau, nghe tiếng George trên đường, chị vội vã vào nhà, lau sạch ngấn nước mắt và tươi cười đón chồng.


XII- Anthony bắt đầu đi học khi lên năm. Bây giờ sắp đến sinh nhật lần thứ năm của Steve, nhưng cha mẹ nó vẫn chưa tìm được cách nào giải quyết chuyện học hành của nó.


Giống như tình thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan của một cô gái chưa chồng nhưng đã có mang, ngày tháng càng trôi qua càng tăng nỗi khiếp hãi.


Hơn nữa, việc đứa con đầu lòng của họ được mọi người ưa thích chỉ làm cho vấn đề thêm trầm trọng; họ càng lo lắng, không muốn có bất cứ chuyện gì ngăn bước tiến của thằng bé.


Chưa đầy mười một tuổi, Anthony đã thắng trong cuộc thi bơi của “Thiếu niên dưới mười hai tuổi” tổ chức nhân ngày hội trường. Trong những môn thể thao khác, Anthony cũng đạt nhiều thành tích. Mary biết rất rõ là con mình được mọi người  mến, nó được công nhận là đứa trẻ thông minh, hoạt bát và nhanh nhẹn. Nước da trắng và tính tình của Anthony làm cho những ai quen biết nó đều quên chuyện mẹ nó là người da màu…


Mary tự hỏi không hiểu nếu George đưa được Steve vào trường học da trắng thì điều đó có đúng hay không? Có công bằng không khi làm nguy hại tới vị trí may mắn mà Anthony được bạn bè nhìn nhận? Bởi vì, ngay cả khi những người có thẩm quyền ở trường nhận Steve vào học, thì bố mẹ của những đứa trẻ khác có thể phản đối; và như vậy, thậm chí Anthony cũng có thể bị đuổi nốt. Chỉ nghĩ đến việc đó cũng đã đủ điếng người.


Trái lại, Steve vào trường của Hội Truyền giáo do nhà thờ mở dành cho trẻ em da màu là một điều hoàn toàn không thể nào nghĩ tới được.


- Không thể được - Chị nói khi ngồi ở hàng hiên trong một buổi tối - Em biết những trường đó như thế nào rồi. Các lớp học quá đông, trẻ em ngồi xuống nền nhà, thiếu giáo viên, họ phải làm việc quá sức nên chất lượng kém. Em bỏ nghề dạy học không phải là không có lý do. Những đứa trẻ ở đấy rất bẩn thỉu đáng thương; sẽ không có những đứa trẻ tử tế đánh bạn với Steve. Không, không, hoàn toàn không thể được!


- Phải - George lẩm bẩm, thở dài khốn khổ - Và em không muốn Steve bị ghi dấu ấn suốt đời là một thằng bé da màu.


George lẩm bẩm tán thành, nhưng tự nhủ: “Cứ y như là chưa phải thế không bằng!”.


- Hơn nữa - Mary nói tiếp - như thế sẽ chia cắt hai đứa con của em mãi mãi. Cứ thế này thì về sau mọi việc sẽ rất khó khăn. Và hãy xem việc có một đứa em học trường da màu… sẽ tác động đến Anthony như thế nào. Một khi Steve bị phân loại là da màu, điều đó sẽ làm Anthony khốn đốn suốt cả đời. Còn bản thân chúng ta thì sao? Có lẽ nào chúng ta lại để một đứa con học cùng với những đứa trẻ sống ở khu Kloppies?


- Phải.


- Thế thì chúng ta sẽ làm gì? - Mary tức điên lên được vì câu trả lời nhát gừng của chồng và vì rõ ràng chồng chị muốn lảng tránh vấn đề đang bàn đến.


- Anh chỉ còn có cách nói với Handt - George nói - Ông ta khá là tử tế về mọi chuyện. Và ông ta vẫn còn là ông trùm của ban quản trị nhà trường.


Nghe nhắc đến tên Handt, Mary bất giác rùng mình.


- Em không tin là ông Handt có thể làm một việc gì đó giúp chúng ta nữa đâu - Mary nói, im lặng một lát rồi đột nhiên nói thêm - Chẳng lẽ chúng ta không thể gửi Steve đến một trường Âu nào ở một thị trấn khác, tới một trường nội trú nào đó được ư?


- Không, nó hãy còn ít tuổi quá. Hơn nữa - George nói thêm một cách tàn nhẫn - em biết rất rõ là nó đen quá không thể giả làm một đứa bé da trắng được. Chao ôi, tất cả cái chuyện vô lý chết tiệt này!


- Anh cứ hét to thế thì bọn trẻ thức dậy mất.


Mary hất đầu về phía cửa buồng của hai đứa con. Ở hiên rất yên tĩnh. Tiếng động duy nhất là tiếng khụt khịt của con Rover sục tìm bọ chét. George vỗ vỗ vào con chó, rồi lại quay về phía Mary.


- Em thấy đấy, Mary ạ, ở trường học mọi người thích Anthony và việc đó có thể làm cái cảm giác kia mất tác dụng. Đối với Steve, cũng có thể như vậy.


Mary lắc đầu:


- Không, hoàn toàn khác hẳn. Nó không có cái tính hay vui đùa như Anthony. Em cho là nó thông minh đấy nhưng nó sẽ không được nhiều người yêu thích. Nước da nó lại quá đen.


- Ồ, thế đấy, anh cho rằng trong những ngày tới đây thế nào chúng ta cũng tìm được một cách giải quyết nào đó.


- Anh thì lúc nào cũng nói như thế, anh George ạ. Cứ để cho nước chảy bèo trôi liệu có ích gì?


Mary vào trong nhà pha trà.


George vẫn ngồi lại ở hiên, hút tẩu thuốc.


Con Rover nhẩy cẫng lên, cào cào vào George; mũi nó sục tìm hai bàn tay George. Anh nóng nảy đẩy con chó sang một bên.


Anh phải làm gì đây? Không được để cho con đường tiến lên của Anthony bị sụp đổ hệt như người ta đá vào ngôi nhà xếp bằng các khối gỗ của trẻ con. Nhưng Steve, thằng bé bé bỏng đáng thương, nó cũng là con anh. Tại sao các lý lẽ bao giờ cũng xoay quanh Anthony và hạnh phúc của nó? Bản thân anh, chính George Graham này, cũng không từng là con út trong nhà hay sao? Nhưng, con cái phải được đối xử công bằng.


Nhưng không phải chỉ riêng mình George bị hành hạ dày vò về tương lai. Bởi vì, mệt lử do chơi đùa quá sức suốt buổi chiều và nằm thao thức trên giường, Anthony đã nghe hết mọi lời bàn bạc của bố mẹ. Mắt mở to, nó day dứt đau khổ trong bóng tối.


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy để ngày ấy lụi tàn. Tiểu thuyết của Gerald Gordon. Đắc Lê dịch từ nguyên bản tiếng Anh Let the day perish. NXB Ngoại văn, Moscow, 1961. Tên sách lấy một câu từ Cựu ước: Let the day perish where in I was born (Hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai...). NXB Văn học in lần thứ sáu, 12-2010.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »