tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20554184
Tiểu thuyết
26.06.2016
GERALD Gordon
Hãy để ngày ấy lụi tàn

VIII- Vào cuối đại chiến, ông Short (Sotơ) bán dược phẩm cùng với vợ từ nước Anh di cư sang sinh cơ lập nghiệp ở Stormhock. Ở thị trấn này, bà Short nhanh chóng nổi tiếng là một người đảm đương việc xã hội, tổ chức các cuộc bán hàng phúc thiện, các buổi hòa nhạc cứu tế, các cuộc thi đánh bài bridge và các nhà bếp nấu cháo cho người nghèo.


Ông bà Short là một trong những cặp vợ chồng được mọi người ưa thích nhất ở thị trấn, các bà mẹ rất muốn con trai mình đánh bạn với đứa con trai duy nhất nhà Short.


Nhưng thằng bé Bob (Bốp), con nhà Short, lại thích chơi với Anthony hơn những đứa khác. Chúng cùng nhau chơi bi, thả diều, lấy tre làm ống xì thổi hạt đậu, nuôi tằm, sưu tập các bảng quảng cáo thuốc lá, gây dựng một bộ sưu tập côn trùng tìm được ở thảo nguyên và sưu tầm tem.


Bản thân ông Short cũng thấy mến George, không những coi anh là một người bạn cùng gốc người Anh, có chung quan điểm mà còn là một người tuy hiện giờ kiến thức đã mai một, nhưng rõ ràng vốn được thừa hưởng một nền giáo dục tốt đẹp. Sau khi đóng cửa hiệu dược phẩm của mình, ông Short thích tạt vào khách sạn Đại Bàng.


Ông biết George có người vợ da màu, mà mới đây ông cũng nghe nói đến màu da đứa con thứ hai của họ, tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, hai ông bà đều muốn để Bob và Anthony chơi thân với nhau. Bà Short nhận thấy chú bé nhà Graham thông minh, sắc sảo, còn thằng Bob con bà có vẻ chậm hiểu hơn. Nguyên là một giáo viên, bà hiểu rõ ảnh hưởng của Anthony đối với con mình. Và cả hai người đều hài lòng thấy chúng chơi với nhau trong khu vườn rộng lớn nhà họ.


Nhưng những người khác trong thị trấn có phản ứng khác hẳn. Đứa bé có nước da nâu vàng ra đời trong gia đình Graham là đề tài bàn tán hấp dẫn đối với họ.


Một số ít người da màu, như gia đình Karelse (Kerenxơ), đã cắt đứt quan hệ bạn bè với Mary, sau khi Mary lấy chồng thì lãnh đạm một cách tự nhiên.


- Đáng đời chị ta - bà Karelse nói - Chị ta cứ cố muốn làm người da trắng học đòi làm sang kìa!


Nói câu ấy, bà ta đã phát ngôn mọi cảm nghĩ của bọn họ.


Tại khách sạn Đại Bàng, vợ Handt đang thưởng thức chiến thắng của mình. Chị ta cho rằng đã đến lúc phản công lại những lời chế nhạo của chồng được rồi.


- Anh trách tôi một triệu lần, bởi tôi không sinh cho anh một đứa con. Sao anh không rước lấy một con mẹ da màu? Hẳn bây giờ anh có đến một đống nhãi đen nhẻm nghịch đất nghịch cát khắp nơi rồi!


Handt không nói gì. Việc y dan díu với Mary, “tiểu thư Tây Ban Nha” của y, là một màn kịch lãng mạn nhất trong đời y. Giờ đây, cái bóng ma ghê sợ này đang vô tình làm y thấy mình là gã nhân tình phạm tội của người phụ nữ da màu, vợ một người coi quầy rượu của y, con người sinh nở ra những đứa trẻ màu nâu nếu quả thật Ruby biết rõ mọi việc!


Handt vào trong quầy mang ra một chai rượu và một chiếc cốc.


Y hỏi:


- Cô uống rượu lần gần đây là vào lúc nào?


Vợ Handt nhìn chồng ngạc nhiên và nghi ngờ khi thấy y rót đầy cốc brandy.


- Có một ít rượu mạnh, cô nếm đi - Handt nói, cười toe toét làm cho Ruby bối rối.


Y ra khỏi phòng, để lại chai brandy trên bàn.


Ngoài phiên chợ, mới sớm tinh mơ, đã nghe thấy những lời xì xào bàn tán, nhất là trong đám đàn bà nội trợ.


- Tôi bâng khuâng tự hỏi, không biết con mụ đàn bà nhà Graham có còn mạo nhận là người Âu nữa hay không - Vợ Fereira bảo vợ McGregor.


- Có đứa con da màu ở trong nhà thì khá gay đấy - Vợ McGregor trả lời - Tôi cho là nó có màu cà phê… hai phần cà phê, một phần sữa - Chị ta nói với vẻ khinh bỉ quá mức. Nhưng trong thâm tâm, chị ta thầm lo là nếu mình tỏ ra vô cùng ác cảm và hiểm độc với Mary Graham, thì người ta có thể nghi ngờ đến điều bí mật về nguồn gốc da màu của chính chị ta.


- Chị cho là màu cà phê à… Thế chị đã thấy đứa bé chưa?


- Tất nhiên tôi không nhìn thấy nó. Tôi không giao thiệp với ngữ ấy - Vợ McGregor trả lời một cách căm phẫn.


- Còn chị có nhìn thấy nó không?


Trước khi gặp vợ McGregor, vợ Fereira tìm được một hộp đu đủ rẻ, và đề nghị hai người cùng mua chung. Vợ McGregor từ chối, bảo là định mua một mình hai hộp cơ vì không muốn hạn chế con cái ăn hoa quả.


Vợ Fereira lúc này có cơ hội trả miếng.


- Tôi đã thấy nó chưa à? - Chị ta hỏi lại - Không, tôi chưa thấy mà tôi cũng không thể thấy được. Chị coi, tôi đâu có sống thân mật kề vai áp má như gia đình chị.


Mấy ngày sau, một tấm biển đề chữ “Cho thuê” xuất hiện trên một cửa sổ đằng trước ngôi nhà gia đình McGregor, và cuối tháng kế đó, chiếc xe dọn đồ đã đỗ ở ngoài cửa. Khi đồ đạc được mang ra ngoài phố, Anthony đang đứng bên Giêni, Tommy và Willy.


Thằng bé Joey bước thong thả đến chỗ chúng.


- Nhà tớ dọn đi đấy.


- Sao cơ?


Joey gọi Tommy, Willy và Giêni sang một bên và khi nó thì thầm với ba đứa đó thì cả bọn luôn liếc nhìn Anthony.


Anthony bối rối. Bạn bè nó có chuyện bí mật, không muốn cho nó biết.


Đúng khi ấy, Joey quay lại, nhìn nó, cười khẩy.


Chúng bàn tán gì về mình nhỉ?


Nó bước đến gần bọn chúng, Joey tức khắc im lặng, nhưng lại nhe răng ra cười trơ tráo và giễu cợt.


Anthony nhìn mặt ba đứa kia để tìm chút đồng tình, nhưng chẳng thấy gì.


Nếu Joey nói ra hoặc có cử chỉ khiêu khích, Anthony tất đã đánh nó. Nhưng mấy đứa đều đứng yên, chẳng nói gì.


Anthony vờ quay đi để che giấu những giọt lệ đẫm hai mắt.


Ngôi nhà của McGregor bỏ trống trong ba tháng. Mặc dù một số gia đình ở khách sạn vẫn đang tìm nhà riêng. Một buổi sáng thứ Bảy, Mary ngồi ở hiên nhà mình đan tất cho Steve, thì thấy Zuidman (Duitman) một người da màu làm nghề xây dựng, cùng với vợ đang xem ngôi nhà của McGregor. Vợ chồng Zuidman là những người tử tế, kín đáo, đáng trọng. Họ sẽ là xóm giềng tốt hơn nhiều người Âu.


Mary cảm thấy cô đơn vô cùng. Không hề có ai đến chơi bao giờ. Một niềm thôi thúc muốn được đến và nói chuyện với mọi người, muốn lại có được sự tiếp xúc nào đó giữa con người với con người. Ngoài mấy chủ hiệu và các chú bé đưa sữa ra, chị hầu như không bao giờ được nói chuyện với bất kỳ ai.


Rồi ánh mắt chị hướng về chú bé nhà Zuidman đang vừa nhe răng ra cười vừa đu đưa ở cổng. Nó đi chân đất nhưng sạch sẽ, hàm răng trắng tương phản đậm nét với nước da sẫm màu. Một đứa bạn cho Anthony của chị ư? Không đời nào! Vợ chồng Zuidman nhìn về phía chị, chị co người lại.


Rồi sau đó, đầy hy vọng, chị nhìn vợ chồng nhà Tomxơn xem xét ngôi nhà đó. Chị biết rõ ông Tomxơn, một người gác ghi xe lửa, nghiện rượu nặng, khi say thì phun ra những lời hèn hạ, ông ta cũng đã bị tòa án phạt tiền về tội hành hung vợ.


Nhưng tuy có tất cả những điều đó, gia đình Tomxơn vẫn là da trắng và Mary cảm thấy rất nhẹ nhõm nhìn vợ chồng họ dọn đến cùng với bảy đứa con bẩn thỉu, ngỗ ngược.


 


 IX- Thời gian trôi đi, tình bạn giữa Bob Short và Anthony càng thêm sâu sắc. Ở trường, hai đứa được cả thầy cô lẫn bạn ưa thích; chúng được coi là một cặp khắng khít không tách ra được. Chúng còn tỏ ra xuất sắc trong các trò chơi. Ở lớp, Anthony thường là một trong những học sinh giỏi nhất; Bob đứng dưới Anthony không xa lắm.


Mối quan hệ giữa hai đứa trẻ ấy làm các bà mẹ khác ở Stormhock bực tức vô cùng.


Trong một bữa tiệc trà buổi chiều, vợ McGregor lên tiếng hỏi:


- Bà Short điên hay sao mà lại để cho con mình kết bạn với một thằng bé da màu như thế hả?


- Tôi đã nói chuyện đó với bà ta - Vợ Van Wyck bỗng xen vào đầy vẻ tự hào.


Tất cả những người có mặt đều hoài nghi chị ta. Họ biết bà Short là một người ương bướng, phải có can đảm mới dám can ngăn bà ta về bất kỳ vấn đề chung nào, chứ đừng nói đến việc riêng của bà.


- Chà, đúng thế mà, tôi đã nói với bà ta như vậy.


- Thế bà ta bảo sao? - Tất cả đều hăm hở nghển cổ về phía trước - Bà ta trả lời láo xược à?


- Bà ta chỉ quay đi và bảo: Ồ, bà Van Wyck này, chú bé Anthony Graham còn trắng hơn nhiều thằng bé ở Stormhock này.


Họ rì rầm bàn tán đầy căm phẫn. Tuy vậy, có một người dự tiệc trà im lặng. Vì khi ngầm so sánh con trai mình với Anthony Graham thì máu dồn lên mặt Relin McGregor. Thằng Joey nhà chị ta đen hơn nhiều.


Về phần mình, Mary rất hài lòng về diễn biến của các sự việc. Chị sung sướng thấy thằng bé lớn nhà chị kết giao với thằng bé nhà Short; chị quyết định không để cho nước da đen của mình cản trở bước đường của con. Chị cũng biết là mình không được quyền chọn lựa gì nhiều. Dù sao đi nữa, môi trường hoạt động xã hội của bà Short cũng không thừa nhận chị.


Không những chị định lánh xa cuộc đời chị định dành cho Anthony, mà cả bé Steve cũng phải giữ lại ở phía sau. Chị tự thuyết phục là không phải chị thiếu thương yêu Steve. Thật ra, năm tháng trôi qua, chị hầu như đã yêu Steve như yêu Anthony. Chẳng phải hai đứa đều cùng là máu thịt của chị hay sao? Hơn nữa, Steve càng lớn, nước da nó dường như sáng lên đôi chút. Biết đâu trong đoạn đời sau này, có thể giống một người Âu có nước da rám nắng?


Nhưng bao giờ Anthony cũng là niềm hy vọng duy nhất của chị. Không có gì được phép cản trở nó. Nếu thiên hạ nói Steve là da màu thật sự thì khi đó chị sẽ gửi Steve cách xa Anthony.


Chị quyết định sẽ không có con nữa. Bởi vì, nếu sinh nở lần nữa, đứa bé có thể còn đen hơn Steve.


Mình là loại người mẹ thế nào, Mary thầm cay đắng, mà lại cách ly một đứa con trong một ghetô màu da, không cho nó đánh bạn với anh ruột nó? Nhưng chị bị bắt buộc, Mary tự an ủi - do một chế độ tội lỗi, hết sức bất công, trái đạo lý, đã phủ nhận các quyền của con người chỉ vì sắc tố trong da của họ. Chị đọc sách báo thấy có những người mẹ bị bắt buộc ném con đẻ của mình vào lò lửa. Chị chỉ khác những người mẹ đó ở mức độ mà thôi.


Dường như gần đây, nước da của chính chị đã đen hơn. Nó cũng mất vẻ mềm mại, trở nên như da thuộc. Trong tâm trạng thất vọng, chị đánh phấn rất nhiều, nhưng rải rác phía dưới đôi mắt và quanh miệng vẫn lộ ra màu vàng.


George không tỏ ra chú ý đến chuyện đó.


Một trong những đức tính của George mà Mary mến chuộng là anh rất chiều vợ. Một buổi tối, Mary thốt lên là rất muốn được tiếp tục chơi nhạc, thế là George mua ngay cho chị một chiếc piano ở cuộc đấu giá. Đó là một chiếc đàn cũ ọp ẹp, nhưng điều đó chẳng hề làm giảm bớt ý nghĩa món quà tặng.


Mary ngồi xuống, mở nắp đàn lên, bỏ miếng vải bị nhán cắn ra. Sau khi dạo đàn nhè nhẹ, chị cảm thấy có gì đang động đậy ở đầu gối. Chị nhìn xuống, thấy Steve đứng cạnh chiếc ghế chị đang ngồi và bám chặt áo dài của chị, hai mắt đăm đăm dán vào các phím đàn. Lần trước, chị đánh đàn, nó cũng lặng lẽ tới gần, đứng nhìn hai bàn tay chị, trên gương mặt nhỏ bé cũng hiện lên vẻ say mê sung sướng vô ngần giống như lần này.


- Nữa, mẹ ơi, nữa. Nhạc nữa cho Steve.


Nó đút ngón tay cái vào miệng, hướng đôi mắt màu nâu sẫm tha thiết nhìn mẹ, vẻ cầu khẩn, Mary tiếp tục đánh đàn. Lúc này, trên mặt Steve có một ánh hồng mà trước kia, thỉnh thoảng chị đã nhìn thấy. Hai đứa con của chị rất khác nhau, không chỉ ở màu da mà cả tính cách của chúng.


Anthony say mê với bạn bè và đồng cỏ ngoài trời. Trái lại, Steve lại ít chú ý đến những đứa trẻ khác, nó chỉ muốn ở nhà làm bạn với đồ chơi, hoặc lắng nghe kèn hát, lắng nghe mẹ đánh đàn piano.


Tất nhiên giờ vẫn còn quá sớm để nói nhiều đến trí thông minh của Steve. Nó mới lên bốn. Lòng chị thắt lại khi phải nghĩ tới chuyện lớn lao là việc đi học của nó. Lần này, mọi việc sẽ chẳng dễ dàng đâu. Không chỉ do màu da của nó, mà suốt mấy năm nay, chị luôn bực bội vì cái cảm giác sâu sắc và dai dẳng về sự phạm tội trong giai đoạn dan díu với Handt. Chị không bao giờ có thể trở lại chuyện đó nữa.


Chị ngừng chơi đàn, lúc này Steve tiến đến chiếc đàn piano, dùng ngón trỏ ấn xuống một phím đàn. Một âm thanh ngân khẽ. Steve quay về phía mẹ, hé đôi môi mỏng ra cười. Nó lặp lại động tác ấy, chọn một phím khác. Trong ánh nắng chiều, Mary nhìn mặt Steve thấy bao giờ cũng gầy hơn Anthony rất nhiều; Steve có dáng một đứa trẻ yếu ớt hơn.


Mary đứng dậy, nhấc Steve đặt lên ghế. Rồi cầm tay nó trong tay mình, chị ấn những ngón tay của nó trên hàng phím. Nó ngân nga khe khẽ thích thú và chị thấy trong đôi mắt thiết tha của nó một vẻ gì đó khiến chị tự hỏi, không hiểu rồi đây nó có thể trở thành một nhạc sĩ lớn hay không.


 Thế nhưng chị lại trầm ngâm nghĩ ngợi: Phỏng có ích gì? Điểm đầu tiên đập vào mắt khi ta nhìn hai đứa bé là màu da chúng khác nhau. Và khi Steve bị xếp vào loại da màu, thì ai còn quan tâm đến các phẩm chất khác của nó nữa?


Than trách nhân loại độc ác, tàn nhẫn, vô ích thôi. Thiên kiến đã bắt rễ quá sâu, người ta chỉ còn có cách chịu đựng. Không, niềm hy vọng duy nhất của chị là Anthony.


Chị dắt Steve ra sân. Lúc đó, Anthony lao xộc từ cổng sau vào, vụt qua chỗ chị và Steve, Bob hổn hển chạy theo.


- Ồ cháu Bob, ồ Anthony - Mary lên tiếng.


- Cháu chào bác Graham - Bob chào lễ phép.


Nhưng Anthony hầu như không nhìn chị khi chạy qua.


- Gượm một tý nào, sao con lại vội như vậy? - Mary hỏi - Con không thấy là phải chào mẹ à?


Anthony ngưng chạy, quay lại, đầu cúi xuống.


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy để ngày ấy lụi tàn. Tiểu thuyết của Gerald Gordon. Đắc Lê dịch từ nguyên bản tiếng Anh Let the day perish. NXB Ngoại văn, Moscow, 1961. Tên sách lấy một câu từ Cựu ước: Let the day perish where in I was born (Hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai...). NXB Văn học in lần thứ sáu, 12-2010.


www.trieuxuan.info








Chiến tranh Thế giới lần thứ I (1914 – 1918).


 




Ghetto: Một nhóm sắc tộc thiểu số.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »