tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21099038
Tiểu thuyết
30.09.2009
GERALD Gordon
Hãy để ngày ấy lụi tàn

Vài nét về tác giả và tác phẩm


Nhà văn Triệu Xuân


Gerald Gordon sinh ngày 19-01-1909, tại Kimberley, Cộng hòa Nam Phi. Ông học giỏi từ nhỏ, vào Đại học Cape Town, ban đầu học chuyên ngành Hy Lạp – La Mã cổ, sau đó chuyển sang Luật khoa. Ông tốt nghiệp đại học hạng nhất. Năm 1936, Gerald Gordon xuất bản cuốn sách đầu tiên: Luật Bảo hiểm Nam Phi. Sự nghiệp luật sư của ông bị gián đoạn vì đại chiến thế giới thứ hai. Năm 1940, Gerald Gordon gia nhập quân đội, quân chủng Bộ binh Nam Phi, là binh nhì, phục vụ tại Bắc Phi, trong ban Tình báo. Đến khi giải ngũ, ông có quân hàm Đại úy. Chiến tranh kết thúc, ông quay trở lại ngành luật sư. Đây là giai đoạn chính trị Nam Phi có nhiều biến động. Ông trở thành nhà hoạt động cho quyền con người. Gordon tham gia bào chữa thành công nhiều vụ án giành quyền bình đẳng cho người da đen. Năm 1974, Gerald Gordon giã từ hoạt động luật sư. Ông qua đời năm 1998, thọ 89 tuổi.


G. Gordon đã xuất bản ba tiểu thuyết: Let the day perish - Hãy để ngày ấy lụi tàn; The crooked rain (Cơn mưa giả), và Four People (Bốn người). Ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn bút (PEN) Nam Phi. Ở Việt Nam, tiểu thuyết Hãy để ngày ấy lụi tàn đã được in năm lần, được đông đảo bạn đọc hâm mộ. Nhưng trước lần tái bản thứ sáu này, hầu như không ai biết gì về tác giả G. Gordon. Thế giới phương Tây tỏ ra không mấy mặn mà với nhà văn Nam Phi chống phân biệt chủng tộc. Để có được tiểu sử văn học của tác giả, cũng như bài điếu văn trước giờ phút vĩnh biệt ông, chúng tôi đã phải vất vả tìm kiếm một thời gian dài. Trên các website tiếng Anh, Pháp cũng không hề có! Cuối cùng, nhờ một người bạn đang làm việc tại London, chúng tôi mới có thông tin về tác giả.


Hãy để ngày ấy lụi tàn là một trong những tiểu thuyết lên án tệ phân biệt chủng tộc hay nhất mọi thời đại. Tên tác phẩm lấy một câu từ kinh Cựu ước: Let the day perish where in I was born (hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai). Trong tác phẩm, không thấy sự hành hạ đánh đập, đày ải người da màu. Nhưng sự kỳ thị, khinh miệt người da màu ăn sâu vào máu thịt của người da trắng từ lâu lắm rồi. Kinh khủng hơn, sự kỳ thị này khiến cho bản thân những người da màu vì muốn tồn tại như một con người, đã phải chối bỏ nguồn gốc, tự khinh miệt chủng tộc mình, tìm mọi cách ngoi lên địa vị của người da trắng!


Mary (Meri) là người phụ nữ da màu giàu lòng nhân ái, có học và xinh đẹp. Mary yêu và lấy chồng người da trắng. Gia đình cô không được xã hội da trắng thừa nhận. Mary cũng như không ít người da màu, chối bỏ nguồn gốc, xa lánh những người da màu đồng chủng. Gia đình Mary tồn tại bằng đồng lương của chồng làm quản lí quán rượu Đại Bàng. Họ có một đứa con có nước da trắng, tên là Anthony (Entơni), thông minh, tuấn tú, được học ở trường của người da trắng. Thế nhưng, em của Anthony là Steve (Xtivơ), lại cùng màu da với mẹ. Vợ chồng Mary dồn hết tiền bạc và tình cảm gửi Anthony đi học trong một trường Âu ở Winnerton (Uynơtơn). Từ đây, hai anh em Anthony và Steve sống ở hai thế giới đối cực. Đến lượt Anthony chối bỏ cội nguồn, xa lánh tất cả cha mẹ, em ruột và họ hàng. Anthony yêu Ren (Ren), cô gái đẹp, bản lãnh. Anthony càng phải giấu nguồn gốc mình. Anh sống trong sự đối phó và giả dối thường trực!


Hai anh em gặp lại nhau khi chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của mẹ, rồi của cha. Mary tự tử khi có thai lần thứ ba vì sợ đẻ con ra lại chịu số phận như các con của chị. Gia đình Mary tan nát: vợ chết, chồng tìm quên trong rượu rồi chết trong cơn say, để lại hai đứa con bất hạnh.


 Anthony trở thành một luật sư nổi tiếng trong xã hội da trắng. Cái chết của Mary khiến anh tỉnh ngộ. Anh đổi sang họ mẹ để tưởng nhớ về mẹ, nhưng vẫn xa lánh em trai. Trong khi đó, Steve luôn ngưỡng mộ anh mình, luôn khao khát tình anh em. Biến cố xảy ra khi một người da trắng đến nhà Anthony để đánh ghen. Lúc ấy, em trai đang ở trong nhà, vì không muốn lộ nguồn gốc, Anthony đã ngộ sát người luật sư da trắng. Phải hầu tòa, Anthony đã phản tỉnh về số phận cuộc đời mình, gia đình mình, em trai mình, những người đồng chủng với mình. Anh đau đớn nhận ra lâu nay mình trở thành kẻ giả dối, sống nơm nớp như cá nằm trên thớt. Cuộc sống như vậy có còn ý nghĩa gì? Anh hiểu ra mình quá hèn đớn, trong khi em trai anh sống bất khuất, là thành viên tích cực làm tờ báo chống phân biệt chủng tộc.


Đến lúc Anthony quyết định chứng minh sự trong sáng của mình và công khai nguồn gốc. Trước tòa, chính em trai anh đã cứu anh! Người bạn gái từ tuổi học trò đã an ủi, động viên anh. Thế nhưng, trong giây phút ngọt ngào nhất của tình yêu, họ đang nghĩ tới việc đi thật xa để được sống bên nhau, thì, ý thức phân biệt chủng tộc ngấm vào máu của Ren, bỗng bật ra như một viên đạn xuyên trúng tim, vĩnh viễn kết liễu cuộc đời Anthony: Không, anh thân yêu, chẳng có điều gì như thế (về nguồn gốc da màu) về chúng tôi đâu! Nạn phân biệt chủng tộc đã ngấm vào tâm can, vào máu của biết bao thế hệ, không chỉ người da trắng khinh miệt người da đen, mà chính người da đen cũng tự ghê tởm, chối bỏ nguồn cội mình. Tài năng của tác giả, giá trị tố cáo, lên án nạn kỳ thị chủng tộc của tiểu thuyết Hãy để ngày ấy lụi tàn chính là ở đây.


Kết thúc tác phẩm, G. Gordon viết: “Anh đã từng ngắm nhiều cảnh bình minh như thế trên dãy núi kia. Giờ đây anh cũng ngắm nhìn, nhưng đôi mắt mệt mỏi của anh không nom thấy màu hồng, màu vàng hay màu đen của các đỉnh núi quanh anh. Đối với anh, đất trời chỉ có một màu duy nhất, đó là màu chì tẻ ngắt chống lại cuộc tấn công của một ngày mới nữa vào tâm hồn anh.


Bất chấp cái đau ê ẩm của đôi chân, anh thong thả đứng lên và đưa mắt xuống vách đá, đăm đăm nhìn những bóng tối đang co lại. Trên vầng trán anh giờ đây đã mất hẳn nét ưu tư vì so với những cạnh sắc lởm chởm của cuộc đời, những tảng đá trong vực thẳm dưới kia tựa như chiếc giường trải đệm lông chim còn êm dịu hơn nhiều”.


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10-2009


Nhà văn Triệu Xuân


Phần Một. Mary


I-


- Cho tôi rượu seri1, thưa ông.


Từ sau quầy bàn, Otto Handt (Ôttơ Hânđ) quan sát người đàn ông có nước da nâu sẫm vừa bước vào, y ra lệnh, giọng cộc cằn:


- Bỏ mũ ra!


- Ja2, thưa ông chủ - Người khách hàng lúng túng bỏ mũ.


- Tóc mày xoăn tít mà - Handt vừa nói, vừa chỉ những vòng tóc xoăn dựng đứng, đặc trưng, nằm trên đầu người đàn ông đó - Mày là một tên Kaffir (Caphia)3. Tao không bán cho mày. Cút đi!- Người đàn ông đưa mấy ngón tay vuốt đầu.


- Không phải, thưa ông chủ, tôi là người da màu4, không phải Kaffir đâu. Thưa ông chủ, cho tôi mua một cốc seri.


Ánh mắt mang vẻ van nài, người đàn ông đó đặt một đồng nửa silinh[1] lên mặt quầy. Handt đảo mắt quanh quầy rượu. Y gọi to:


- John (Giôn), lại đây!


Một thổ dân cao lớn đặt chiếc cốc đang rửa xuống, bước tới chỗ chủ tiệm. Handt trỏ khuôn mặt lo âu bên kia quầy rượu:


- Nó là một tên Kaffir hay một gã da màu?


John chột mắt chằm chằm nhìn người kia một lát.


- Thưa ông chủ, một tên Kaffir đấy.


Chủ của hắn, vóc người to lớn, nét mặt cáu kỉnh, trông hãm tài, có bộ ria oai vệ nhìn trừng trừng một cách tàn nhẫn.


- Tao không bán cho mày, xéo mau đi! - Handt chỉ ra cửa. Người đàn ông đứng yên, vẻ cau có giận dữ thoáng qua trên mặt anh ta. Handt cúi xuống nắm lấy chiếc roi da nặng chịch để giữa các chai rượu. Y giơ chiếc roi cao quá vai và đập đen đét trên quầy. Người đàn ông đó bước lùi lại, hai tay che mặt, miệng há hốc sợ hãi.


- Xéo đi! - Handt thét lên - Này, cầm lấy tiền của mày, cút đi mau!


Mắt vẫn theo dõi chiếc roi da đã lại vung lên, người đàn ông rón rén tiến về phía trước, chộp lấy đồng tiền của mình và lui ra cửa, đến đây anh ta trừng mắt nhìn John trước khi lén bước ra.


Handt ném lại chiếc roi da xuống dưới quầy.


- Chắc hẳn chúng lại muốn giở trò! - Y càu nhàu với John khi quay nhìn những khách hàng khác đang ở trong gian hàng dành cho khách không phải người Âu.


Rót ra thứ rượu vang Cape (Kếp) rẻ tiền, y nhăn mũi và quay đầu tránh cái hơi người ấm và ẩm của khách.


Những người da màu không quan tâm đến thái độ khinh miệt của ông chủ Handt đối với họ. Khi họ đứng đợi, háo hức, mắt thao láo và thèm khát nhìn rượu chảy ồng ộc vào các cốc thì điều quan trọng đối với họ là rượu khách sạn Đại Bàng này không có vị nhạt như pha nước lã.


Khi họ đã trả tiền và ra về hết, Handt mệt mỏi lui vào căn phòng của y ở phía sau quầy rượu.


Y nói với mụ vợ cao kều, xương xẩu:


- Bọn quỷ ấy bốc mùi hôi thối quá!


- Thôi đừng ca cẩm chuyện đó nữa! - Người đàn bà nói bằng giọng mũi - Tiền của họ chẳng tốt hay sao!


- À - Handt trả lời, buông người xuống chiếc ghế bành - Tôi ghét nhìn thấy bọn chúng.


Cho đến tận bây giờ, vào năm 1921, giọng nói và cách nói của Handt vẫn còn mang nặng dấu ấn gốc gác Đức của y, tuy đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày y di cư tới Nam Phi.


Vợ y nhô đầu ra phía trước hỏi:


- Vậy sao anh lại cho thằng George (Giogiơ) nó nghỉ?


Handt trừng trừng nhìn mặt vợ. Cặp mắt to và lõm sâu khiến khuôn mặt ấy nom giống một chiếc đầu lâu.


- Gì thì gì - vợ y tiếp tục - sao lại cho hắn nghỉ cả ngày thế? - Khi nói, cổ chị ta dường như vươn ra.


- Đừng có mè nheo tôi nữa, nghe không? Vợ chồng họ vừa sinh đứa con đầu lòng. Cô thì biết cái quái gì về những chuyện như thế! - Giọng Handt rít lên, người vợ chùn lại - Cô đúng là con bò cái già tuyệt đường sinh đẻ - Y nói thêm.


- Phải rồi - Vợ y nói, môi trề ra - Tôi thà không sinh nở còn hơn đẻ ra một đứa lai!


Cằm Handt chìa ra khỏi cái cổ bò mộng, y ngồi nhô về phía trước chiếc ghế bành.


- Cô là con chó cái già cằn cỗi, không đẻ đái gì cả - Y lại hướng mũi tên phóng trúng đích, vẻ khoái trá - Mary là một người đàn bà da màu, sao nữa? Cô muốn gì nào? Một chút cà phê pha vào sữa, đôi khi lại làm tăng hương vị. Cô ta chẳng có gì đáng chê trách. Cô ta có giáo dục, là người tử tế, đứng đắn. Còn hơn khối con mẹ da trắng tôi biết. Ja!


- Thằng cha ấy luôn muốn khoe khoang về họ hàng dòng dõi trâm anh thế phiệt ở Anh. Ngài Mơcơ ở Mayfair[2] là anh họ hắn, hắn bảo thế đấy. Vậy sao lại đâm đầu lấy một con đàn bà Hotmot (Hotmot)2? Tôi không dung thứ cho những thằng đàn ông làm ô nhục Tổ quốc như vậy - Lời lẽ của người đàn bà này được nhấn mạnh, ẩn đầy ác ý.


Handt mỉm cười không vui, môi cong lên, lộ ra những chiếc răng chắc chắn, vàng ệch. Y nói:


- Cô ta là một người phụ nữ tao nhã, đáng kính, dù có pha một chút màu da. Cô ta săn sóc, nuôi dưỡng chồng khi hắn đã rượu chè be bét suýt thành kẻ bỏ đi. Từ đó, nhờ cô ta, hắn trở lại sống lương thiện. Khi nào đến thăm, cô sẽ thấy cô ta trông nom nhà cửa, bếp núc như thế nào. Cô ta có thể chỉ bảo cho cô đôi điều đấy.


- Tôi xin anh đừng có đem tôi ra so với một con da màu.


- Cô không thể sánh với cô ta đâu.


- Chao ôi, tôi không thể sánh với con mụ ấy ư? Còn anh thì sao? Trong công việc làm ăn, cái tính thô tục của anh phỏng ích gì? Anh làm mọi người hoảng sợ, lánh xa. Nếu không có thằng George, anh phải đóng cửa tiệm từ lâu rồi kia, chứ không kiếm được tiền như thế này đâu. Anh chẳng có thớ làm một ông chủ tiệm.


- Có lẽ thật thế đấy. Tôi là một người thượng lưu, ja. Tôi chỉ huy, George tuân lệnh. Hắn giao thiệp với bọn hạ lưu và bọn cặn bã. Còn Mary, vợ hắn - Handt vừa nói vừa cầm tờ Tuần báo lên đọc - phải, Mary vợ hắn, người đàn bà da màu ấy còn giá trị bằng một tá người như cô.


Khi vợ y ra khỏi phòng, Handt đặt báo xuống. Y hình dung thấy Mary. Y nhìn thấy nước da màu ô liu sáng láng, đôi mắt nhung màu nâu mượt mà, đầy diễn cảm, tóc đen mượt, không quăn. Trời, y sẵn sàng đổi mụ phù thủy già của mình để lấy Mary vào một ngày nào đó, vào một đêm nào đó thì đúng hơn. Nàng là một người đàn bà xinh xắn. Y mường tượng nàng nằm với George xanh xao, còn dòng máu đỏ của George như tập trung cả vào các mao mạch giãn nở ở mũi hắn. Thật phí của!


Tiếng reng lanh lảnh báo hiệu có người ấn chuông ở quầy rượu dành cho người Âu. Handt đứng dậy, nặng nề bước vào quầy. Có hai người khách, y nhìn họ không hề tươi cười.


- Ô, ra là anh - một trong hai người khách lên tiếng - Tay George đâu rồi?


- Vợ hắn ta ở cữ hôm nay - Handt trả lời - Các anh uống gì?


- Một lít bia!


- Còn anh?


- Cũng thế!


Hai người khách uống từng hơi dài và mải mê trò chuyện, phớt lờ chủ tiệm.


Đột nhiên, một người nâng cốc lên, nói với Handt:


- Tôi cho là nên nâng cốc chúc mừng anh. Chúng ta uống để chúc mừng thằng nhãi con George không giống thằng bố nó, anh biết tôi định nói gì…


- Tôi cũng thế - Người kia nhận xét - Thằng cha ấy không đáng bị khốn khổ.


Họ uống ừng ực. Handt quan sát họ. Bên trong bộ mặt lầm lì, bộ óc lì xì của y đang hoạt động. Phải - Y suy nghĩ - Trong đất nước này, một thằng đàn ông lấy một con đàn bà da màu là chuốc luôn mọi phiền toái vào mình. Chỉ trộn thêm một tý màu da đen là đã đủ rầy rà. Nghĩ cho cùng, mụ vợ già của ta còn hơn.


Vợ Handt lẻn vào gian phòng nhỏ mà chị ta đã ở đó một mình hàng bao năm nay. Chị ta mở tủ, lấy ra một chai rượu và một chiếc ly. Rót ra một ly nhỏ, cầm ly giơ lên ánh sáng chiếu qua cửa sổ, mỉm cười mơ hồ. “Mi không tàn nhẫn với ta, phải không người tình của ta?”. Vợ Handt lẩm bẩm đưa mắt liếc nhìn thứ chất lỏng đó, khi ấy một ánh hồng lướt qua dưới lớp da khô ở hai bên má, chị ta nốc rượu brandy (brenđi) nguyên chất.


 


II. Những đám mây bụi đang lướt nhanh trên khắp miền lòng chảo mênh mông với những đụn cát đã nhạt mày dưới ánh nắng châu Phi. Băng qua các thung lũng và các bồn muối, rồi nhằm vào cái thị trấn nhỏ bé nằm rải rác, có cái tên “Stormhock” (Xtomhốc-Góc bão). Đứng ở hàng hiên ngôi nhà nhỏ bốn buồng của mình, và lấy tay che mắt tránh ánh nắng ban mai, George Graham bỗng nhìn thấy ở nền trời xa xa, phía sau những cây hồ tiêu, một vệt nhỏ hình quả lê.


- Mary - anh vừa chạy vào nhà vừa gọi to - gió Nam đang ập đến. Bao tải để đâu?


- Trong bếp ấy! - Mary từ buồng ngủ nói vọng ra.


George vơ vội lấy một ôm bao tải, ném vào bồn tắm chứa nước. Rồi anh chạy ra ngoài, nâng các cánh cửa chớp lên che cửa sổ. Lúc này, đám mây bụi đã lớn hơn rất nhiều, và đã nghe rõ tiếng gió thổi. Anh trở vào nhà, lấy bao tải ướt đắp lên các kẽ hở ở cửa ra vào và cửa sổ.


Mái tôn bắt đầu rung rung, các cửa sổ lắc lạch cạch. Trong khi đó, lớp bụi màu vàng ở các đường phố không lát xoáy cuộn lên hòa vào đám bụi nâu đo đỏ từ thảo nguyên ập về. Lúc tiếng gió rền rĩ chuyển thành tiếng rít đinh tai. George ngồi xuống giường và lau những giọt mồ hôi đọng trên mặt. Gian buồng lúc này tối đến mức phải bật đèn. Từ buồng ngủ, Mary gọi to, nhưng tiếng ầm ầm của trận bão làm George không hiểu vợ nói gì. Anh đứng dậy, vào chỗ vợ. Bụi phụt vào trong buồng vì Mary đã nâng cánh cửa sổ lên dăm phân và đang vất vả cố đóng chặt một cánh cửa chớp bị bung ra.


- Đóng cửa sổ lại! - George hét to - Anh sẽ ra ngoài chặn nó lại.


Anh vội vã tới cửa sau, xoay quả đấm, nhưng sức gió quá mạnh, đến nỗi dùng vai đẩy hết sức vào khung cửa anh cũng không mở được. Cuối cùng mở được thì hành lang tức khắc ngập đầy bụi. Bị ho sặc sụa, anh đóng sầm cửa lại


- Chẳng ăn thua gì - Anh hét to với Mary - Anh không thể ra ngoài được.


- Thôi khỏi lo - Mary nói - Ta cứ để mặc nó vậy và cầu nguyện cho lần này kính không bị vỡ.


- Anh mong em để cho thằng bé yên.


- Em phải che cho nó cẩn thận, trong buồng nhiều bụi lắm rồi.


- Chà, được thôi! Thấy cần thì làm đi!


George nằm duỗi dài trên giường, lắng nghe bão đập liên hồi vào các cánh cửa chớp và mái nhà. Bụi lọt vào buồng thành những đám mưa bụi từ trần rơi xuống, bao phủ mọi vật. Bên ngoài, gió rít lên tới cao độ, hạ thấp xuống thành tiếng ồn ào rồi lại rít lên. Thỉnh thoảng gió rú lên man rợ, George nghĩ rằng nếp nhà nhỏ bé này sắp bị giật tung khỏi nền móng. Nhưng anh thật sự không lo lắng tới chuyện xảy ra. Bất cứ lúc nào khi trận gió đáng ghét này ập đến, anh đều cảm thấy mình quá bất lực. May thay, ít khi gió kéo dài quá một hai giờ; tuy vậy, anh lại nhớ tới lần nó hoành hành liên tục mấy ngày ròng, các đồ vật bằng gỗ bị khô hong, chỗ nào cũng nứt toác cả ra, một tia lửa cũng đủ bắt cháy; lần đó, ngôi nhà bên kia đường đã bị thiêu rụi…


Cái nóng trong gian buồng đóng kín lúc này trở nên dữ dội, quần áo anh ướt đẫm mồ hôi. Qua tiếng ầm của cơn bão, anh nghe thấy từ buồng ngủ tiếng cánh cửa chớp bị bung ra đập vào tường. Âm thanh đó vọng đến đều đặn và cứ hai giây một lần anh lại phải nghe. Dường như nó dành riêng cho anh, cố tình nhạo báng anh đã yếu đuối bất lực, không đương đầu nổi với cát bụi để ra ngoài đóng cánh cửa chớp lại. Dù cơn bão hoành hành ầm ĩ đến nhường nào, tai anh vẫn phải nghe tiếng đập mạnh liên hồi đó.


Đối với anh, thứ gió bão này là hơi thở của châu Phi, ám bụi, nóng bỏng ngột ngạt; đó là một lục địa mênh mông man rợ luôn luôn thách thức con người. Một số người cố ý đương đầu với nó. Một số khác cảm thấy bản thân mình, nạn nhân của hoàn cảnh, bị cuốn vào trong xoáy lốc của nó. George biết rõ mình thuộc vào loại người nào, nhưng đã từ lâu anh không thiết đến gì nữa.


Cơn bão tiếp tục ầm ì, quất mạnh, sục sôi, rít lên; và bây giờ hòa lẫn với bão không những chỉ có âm thanh điên cuồng của cánh cửa chớp mà còn có cả tiếng khóc của con anh; anh tự trách mình đã không ra ngoài, vì biết đó là lý do đã làm đứa bé tỉnh giấc.


Ý nghĩ đưa anh quay về với những ngày niên thiếu. Anh thấy chính mình cưỡi con ngựa nhỏ băng qua đồng và xuyên qua các trảng có nhiều cây cối. Bây giờ, những hình ảnh như thế rất ít khi trở lại trong óc anh, nhưng anh còn mơ màng nghe thấy tiếng cười trẻ trung của một thiếu nữ…


Mary vào buồng ăn, hai tay bồng đứa bé cuốn trong tấm chăn. Chị đi đi lại lại đung đưa ru cho nó ngủ nên chẳng mấy chốc nó đã nín khóc. Nét mặt chị lúc nào cũng đượm một nụ cười mơ hồ, nụ cười biểu thị sự bình tĩnh không cho phép gió bão trấn áp chị. Với nụ cười ấy, chị sẵn sàng dung thứ sự thất bại của chồng.


Lúc này, George nghe rất rõ tiếng cánh cửa chớp gãy mạnh, tiếng ầm đó còn chói trong óc anh rất lâu sau khi gió đã giật cánh cửa chớp bật khỏi bản lề và ném nó nằm bất động trên mặt cát…


Họ ngồi vào bữa ăn điểm tâm muộn màng.


- Biết bao nhiêu lần anh đã bảo em đừng lưu tâm đến chuyện đó nữa? - George nhìn vợ, đôi mắt nhòa lệ của anh đã mất màu xanh da trời - Em làm cả hai chúng ta khốn khổ vì những ý nghĩ điên rồ của em. Một con người chỉ có một chút, một chút xíu da đen thì có can hệ gì? Em đã mang những ý nghĩ không lành mạnh. Cuộc sống thật không đáng sống! Vì Chúa, em hãy bình tĩnh lại!


Mary đăm đăm nhìn khung cửa chớp đã đóng lại. Mắt chị long lanh những giọt nước mắt lưng tròng, chị cố kìm giữ lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy để ngày ấy lụi tàn. Tiểu thuyết của Gerald Gordon. Đắc Lê dịch từ nguyên bản tiếng Anh Let the day perish. NXB Ngoại văn, Moscow, 1961. Tên sách lấy một câu từ Cựu ước: Let the day perish where in I was born (Hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai...). NXB Văn học in lần thứ sáu, 12-2010.


www.trieuxuan.info








1 Một loại rượu trắng sản xuất ở miền Nam Tây Ban Nha (Chú thích trong sách là của người dịch).




2 Tiếng Đức: Vâng.




3 Kaffir: Thổ dân nam Phi, nói tiếng Bantu. Người da trắng thường gọi người da đen châu Phi là Kaffir với ý khinh miệt.




4 Người lai giữa người da trắng và thổ dân Nam Phi.




[1] Đơn vị tiền tệ Anh.




[2] Khu vực phía Đông công viên Haiđơ, thủ đô London, là khu vực của những người giàu sang, quyền.




2 Chỉ người Hottentot (Hôtentôt), ý khinh bỉ. Hottentot là một nhánh thổ dân Nam Phi, da nâu phớt vàng, vóc dáng thấp, có nguồn gốc lai giữa người Busmen và người Bantu.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »