tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078116
Lý luận phê bình văn học
21.09.2009
Hoài Anh
Phó Đăng Tiêu - Kỹ xảo tiểu thuyết (7)

Về đường dây tình tiết của tiểu thuyết, vấn đề thứ hai cần chú ý là phân rõ đường dây rõ và đường dây ngầm trong tình tiết phức tuyến. Dựa theo cách nghĩ thông thường của mọi người, đường dây chính của tình tiết tác phẩm thường thường là đường dây rõ, mà đường dây phụ của tác phẩm thường thường là đường dây ngầm; nhưng trong tác phẩm văn học thực tế, tình huống thường thường vị tất như thế, Thuốc của Lỗ Tấn là một thí dụ. Truyện này cái coi là đường dây rõ là tình tiết vợ chồng lão Thuyên chữa bệnh cho con, nhưng đường dây rõ lại là đường dây phụ của truyện, mà coi là đường dây ngầm lại là tình tiết người chiến sĩ cách mạng Hạ Du hy sinh đổ máu vì quần chúng nhân dân. Trong truyện này đường dây ngầm lại là đường dây chính của truyện, mà đường dây rõ lại là đường dây phụ của truyện. Lỗ Tấn xử lý như vậy, một mặt biểu thị tâm tình hết sức bi phẫn của tác giả, một mặt khác cũng biểu thị nghệ thuật chiến đấu vô cùng cao siêu của Lỗ Tấn. Trong một số tiểu thuyết của trường phái hiện đại, thường sẽ phát hiện hai thứ tình huống. Trong truyện ngắn Hành vi thành thực của nhà văn Pháp Bazin, đường dây rõ của truyện là tên trộm Gonzage mượn cơ hội “nhặt được vàng không tham tâm” đem ví tiền nhặt được trả cho người mất, để tiện tiến hành vụ trộm lớn hơn; mà đường dây ngầm của tiểu thuyết lại là công tử ăn chơi Carfouer mượn dịp kết hôn để biển thủ tiền tài. Về truyện đó mà nói, cũng là đường dây ngầm thành đường dây chính của truyện, mà đường dây rõ lại là đường dây phụ của truyện. Bởi vì đối tượng quất roi chủ yếu trong tác phẩm của nhà văn lại là con ký sinh trùng đạo mạo như Carfouer. Tên trộm cố nhiên là khiến người chán ghét; nhưng ai nấy đều biết rõ, mà con ký sinh trùng đã hóa trang so với tên trộm còn hạ lưu hơn, lại dùng thói lừa gạt của hắn, tỏ ra càng nguy hiểm và khiến người vô cùng căm ghét. Chúng cùng là kẻ thù không đội trời chung của “hành vi hành thực”.


Về đường dây tình tiết của tiểu thuyết, vấn đề thứ ba cần chú ý là sự chuyển đổi của đường dây chính, hoặc giả nói là vấn đề nhân vật chủ yếu trong đường dây chính.


Trong tiểu thuyết dài, đường dây chính nhân vật của tình tiết của nó, thường thường không chỉ một đường. Khi một đường dây chính chuyển làm một đường dây chính khác (nguyên nhân của nó ngoài nhân vật chủ yếu mất đi, có khi cũng nhân sự biến hóa của tình thế đấu tranh miêu tả trong tác phẩm dẫn đến), không thể coi thành sự chấm dứt của đường dây chính hoặc sự đứt đoạn của đường dây chính. Thứ tình hình này trong tiểu thuyết dài của Trung Quốc như Thủy hử, Tam quốc diễn nghĩa thỉnh thoảng cũng xuất hiện. Nó với “tình tiết gián đoạn” mà Taylor nói trong Lý giải yếu tố văn học là hai chuyện khác nhau.


“Tình tiết gián đoạn” mà Taylor nói là chỉ nhà văn để khiến hiệu quả nghệ thuật tăng cường, có ý vận dụng cách kể chuyện gián đoạn hoặc tình tiết không liền chuỗi để thực hiện. Taylor liền nêu ra tác phẩm nổi tiếng của Swift Gulliver du ký để thuyết minh. Trong tác phẩm này, nhà văn miêu tả bốn bộ phận công khai và độc lập, đều là chuyến du lịch hàng hải đến những xứ sở xa lạ. Bộ phận thứ nhất là một hải đảo ở đây thể tích thân thể Gulliver lớn hơn gấp bội cư dân người tí hon, cho nên anh ta miệt thị hành động không mùi mẫn gì của người ở đây, giễu cợt phong thổ nhân tình không đáng đếm xỉa đến của họ. Nơi đi biển đến thứ hai là đảo của người khổng lồ, ở đây Gulliver thành người tí hon, anh ta rất ghét thói quen tự nhiên dị hợm của những người khổng lồ ở đây, da dẻ sần sùi nhờn mỡ, hô hấp hơi thối ngạt trời và lối khêu gợi sắc tính rất tình cảm của họ v.v... Trên thực tế, người khổng lồ và người bình thường không có khu biệt lớn gì, những cái gọi là kỳ hình quái trạng, hoàn toàn là do Gulliver khoa trương, tô vẽ. Trong chuyến đi biển lần thứ ba, Gulliver xuất hiện ở một đảo quốc bay. Trên đảo đó, những kẻ cố làm ra vẻ bác học đa tài hoàn toàn bị tri thức không sát thực tế đáng cười mê hoặc. Họ hoàn toàn không ăn nhập gì với tình huống thực tế của đời sống hàng ngày. Chuyến đi biển lần thứ tư vẫn là đến một hải đảo. Ở đây những người giống như ngựa tràn đầy lý tính, thiên tính đơn thuần, sống cuộc sống khiến người mến mộ, mục đích miêu tả như vậy của Swift, là hy vọng mỗi loại văn hóa đều phải đem đối chiếu với tình huống nhất định của nước Anh, để tiện biểu hiện chủ đề đa trùng của tác phẩm trên một thứ lớp mới.


Còn như chuyển đổi đường dây chính mà chúng ta nói, cũng có người gọi vắn tắt là hoán tuyến, là chỉ đường dây chính vươn dài ra, tức sự thay đổi nhân vật chính. Thí dụ như miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa, sau khi Khổng Minh chết, tuy nhân vật đường dây nối tiếp Khương Duy tạm ở địa vị chủ yếu, không có nghĩa là sự đứt đoạn toàn thể đường dây chính. Đọc suốt toàn bộ sách có thể thấy, chỉ sau khi Khương Duy chết, Hậu chủ hàng, mới có nghĩa là đường dây chính chấm dứt. Còn như nhân vật chủ yếu trong đường dây chính nhiều đầu trong tình tiết phức tạp, càng cần suy nghĩ kỹ càng, mới có thể xác định. Tác phẩm như Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, đều đồng thời tồn tại ba đường dây chính. Cuốn trước là Ngụy, Thục, Ngô; cuốn sau là Giả (Bảo Ngọc), Lâm (Đại Ngọc), Tiết (Bảo Thoa). Khi xác định nhân vật chủ yếu của nó, chúng ta vừa không thể chỉ nhìn vào thân phận địa vị của nhân vật, vừa không thể không nhìn vào thân phận địa vị của nhân vật, mà phải tổng hợp tiến hành cân nhắc. Tức xem xem quả thực là ai quyết định sự khai triển tình tiết của tác phẩm, ai quan trọng hơn cả với ý nghĩa kết cấu trong tác phẩm, sau đó hãy định, mới có thể tương đối thỏa đáng. Thông thường đối với nhân vật chủ yếu trong ba đường dây chính của Tam quốc diễn nghĩa, không coi là Lưu Bị mà coi là Khổng Minh; mà ở trong Hồng lâu mộng thì suy cử Giả Bảo Ngọc làm nhân vật chủ yếu. Chính là lý lẽ đó.


Tiểu thuyết còn có một số thành phần khác. Thí dụ như “lời tựa” mở đầu tiểu thuyết, “tiếng nói với người đọc”, “nghị luận”, “lời chen vào”, “sáp khúc” ở khoảng giữa (cho đến “vĩ thanh” ở cuối cùng tiểu thuyết), được gọi là “nhân tố phi tình tiết”, tức bất tất phải máy móc đưa vào bộ phận tổ thành của tình tiết.


3. KỸ XẢO SẮP ĐẶT TÌNH TIẾT


Ngày 7-10-1835, nhà viết kịch nổi tiếng Nga Gogol từng viết thư cho Puskin “đòi” tình tiết. Tình tiết Gogol cần, dường như yêu cầu không cao: “Tùy tiện cái đáng cười hoặc không đáng cười” đều được, nhưng có một điều đó là cần phải là “chuyện cười thuần túy Nga”. Có cái “chuyện cười thuần túy Nga” này, ông lập tức có thể “viết ra kịch vui năm màn”. Chúng ta từ chỗ này có thể nhìn thấy sự quan trọng của tình tiết, đồng thời cũng nhìn thấy yêu cầu khe khắt đối với tình tiết của một nhà văn nổi tiếng: phải có hơi thở quê hương đích thực, tình tiết kịch vui đích thực được nhân dân quen thuộc. Một người thường xuyên đọc tiểu thuyết, có thể sẽ có kinh nghiệm như thế này: tên người trong một cuốn tiểu thuyết có thể đã quên, nhưng tình tiết câu chuyện, lại vẫn lưu lại lại lâu trong óc. Cho nên, không ít tác phẩm kiệt xuất khi miêu tả câu chuyện, đúng là không viết tên người. Như Một chuyện nhỏ của Lỗ Tấn, chỉ có những nhân vật “vô danh” “tôi”, “phu xe”, “bà già”, nhưng chuyện nhỏ ấy lại đến nay còn lưu trong óc cơ hồ tất cả những độc giả đã đọc truyện này. Một đại văn hào như Gogol, còn phải “moi tình tiết” khắp nơi, đủ thấy sự hình thành tình tiết hay, vốn không phải là chuyện dễ, cần có kỹ xảo nghệ thuật cao độ. Ở đây chúng tôi đem mấy vấn đề khá quan trọng của biên soạn tình tiết, chia thuật sau đây.


a) Tình tiết phải xuất kỳ chế thắng, trong giả thấy thật.


Sáng tác tiểu thuyết, giống như sáng tác tất cả mọi thể tài nghệ thuật khác, rất coi trọng “có cái mới”. Mà sự mới mẻ của cấu tạo tình tiết, rất là quan trọng. Cái đó yêu cầu sáng tác tiểu thuyết tuyệt đối không thể bày ra bộ mặt già nua, rang cơm nguội, mà phải lấy cái “mới” xuất kỳ chế thắng. Sáng tác tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc rất coi trọng chữ “kỳ” này. Người đời Đường viết tiểu thuyết “ý sáng tác chuộng kỳ, mượn tiểu thuyết để gửi gắm ngọn bút”, cho nên người đời sau dứt khoát gọi tiểu thuyết của người đời Đường là “truyền kỳ”, dính líu đến những cái đến sau, ngay cả tiểu thuyết văn ngỏn đời Tống cũng chưa tách rời chữ “kỳ”, cho nên có cách nói “Đường Tống truyền kỳ”. Mà tiểu thuyết bạch thoại sau đời Tống, cũng có đặc điểm “kỳ”, cho nên loại tiểu thuyết như Phách án kinh kỳ, Kim cổ kỳ quan, Kim cổ kỳ văn mới cứ không dứt trên đời. Đời Minh càng là trực tiếp đem những tiểu thuyết trường thiên ưu tú xuất hiện đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc như Thủy hử, Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Kim bình mai gọi là “tứ đại kỳ thư”. Bao nhiêu năm nay người ta dùng ngôn ngữ vắn tắt sinh động như “hữu kỳ phương khả truyện, vô xảo bất thành thư” (có cái lạ mới có thể viết truyện, không có cái khéo không thành sách) khái quát một cách hình tượng chữ “kỳ” này trong sáng tác tiểu thuyết. Về phương diện này, Kim Thánh Thán bình điểm một số tình tiết trong Thủy hử, có thể gọi là kiến giải độc đáo, đánh trúng vào thắc mắc, rất được người chú ý.


Xuất kỳ chế thắng của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, một loại tương đối nhiều là sự khoa trương thần kỳ lãng mạn chủ nghĩa. Dù rằng trong chặng đường phát triển của tiểu thuyết Trung Quốc, loại tác phẩm này dứt khoát không nhiều bằng tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, nhưng rất nhiều tác phẩm thần thoại hay đẹp lại tuyệt đối không thể gạt bỏ đi. Những tác phẩm đó tràn đầy tưởng tượng lạ đẹp, từng mang lại cho người ta cảm giác tân kỳ mạnh mẽ. Trong số đó, Tây du ký từng được gọi là “tiểu thuyết thần ma sáng suốt” tựa hồ là đại biểu kiệt xuất nhất trong số đó. Đối với biến hóa thần quỷ khôn lường của Tây du ký, Lỗ Tấn từng trong Trung Quốc tiểu thuyết sử lược đặc biệt nêu ra một đoạn “Quán khẩu Nhị lang tam chiến Tôn Ngộ Không”, chỉ ra đầu tiên ghi: “Hai bên mỗi bên đều hiện “pháp tượng”, thứ đến Đại Thánh hóa chim sẻ hóa chim cốc lớn, hóa cá, hóa rắn nước. Chân quân hóa chim ưng, hóa hạc biển, hóa chim ó cá, hóa hạc xám. Đại Thánh hóa làm nhạn cổ xanh, Chân quân cho là loại chim hèn hạ, không thèm so sánh với, liền hiện nguyên hình, dùng đạn đánh hạ”.


Lỗ Tấn còn chỉ ra, trong miêu tả tám mươi mốt cái nạn, càng biểu hiện ra cấu tứ kỳ ảo của tác giả. Như miêu tả trận chiến ở Kim Đâu Sơn, sự tranh giành của Nhị Tâm, và trận chiến ở Hỏa Diệm Sơn v.v... tả trong sách.


Xuất kỳ chế thắng trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, càng nhiều hơn không phải là miêu tả dựa vào thần thoại kỳ lạ, mà là hoặc lợi dụng tính ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày, hoặc lựa chọn sự kiện lạ lùng độc đáo trong đời sống mà lại có ý nghĩa nhất định, hoặc trực tiếp miêu tả đời sống hiện thực cực kỳ bình thường, thông qua ngọn bút của tác giả, biến bình thường thành “kỳ ảo”. Tóm lại đều là trong quá trình đem đời sống hàng ngày điển hình hóa, sáng tạo ra tình tiết “kỳ”! Như “Mười lăm quan lời đùa đùa mà gây họa” trong Tỉnh thế hằng ngôn, chẳng qua là nhân một câu nói đùa, liền do ngẫu nhiên trùng hợp của mười lăm quan tiền, tạo thành một cơn họa lớn chết người, có thể gọi là “kỳ”. Giống như Tống Giang gặp nguy hiểm ở sông Tầm Dương nêu ở đoạn trên, cũng có thể gọi là “kỳ”. Còn như Khổng Minh miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa, trước khi xuống núi được người “tam cố thảo lư”, lần này ly kỳ bí ẩn hơn lần khác, lần này ý vị treo lửng lớn hơn lần khác, tả được từ đầu đến cuối không khí thần bí, đầy nghi ngờ phấp phỏng, kịp đến sau khi “ra khỏi núi” một loạt thần cơ diệu toán như định “không thành kế” v.v... càng có thể gọi là “kỳ tuyệt”. Nhưng tác phẩm như Hồng lâu mộng thì chẳng qua chỉ là miêu tả một số sinh hoạt hàng ngày bình thường nhất, vừa không có cảnh chiến tranh gào mây thét gió, vừa không có kỳ tích trinh thám thật giả khó phân, tại sao sách này trừ Hồ Thích nói nó “bình đạm vô kỳ” (bình thường không có gì lạ) ra, lại được rất nhiều người gọi là sách “tuy bình thường nhi chí kỳ” (tuy bình thường mà rất kỳ), “kỳ tiêu” (rất kỳ), “kỳ tuyệt” (Chỉ Nghiễn Trai Hồng lâu mộng tập bình do Du Bình Bá biên tập). Nguyên nhân là ở sáng tạo điển hình kiệt xuất của Tào Tuyết Cần. Ông dùng một cây gỗ, một hòn đá, một hòn gạch, một viên ngói một, sáng tạo ra một cung điện nghệ thuật các mặt nhân vật, tình tiết... tỏa ra màu sắc lạ lùng. Chúng ta tạm không nói đến cái “kỳ” của Thái hư ảo cảnh, trong Hồng lâu mộng, Giả Bảo Ngọc được chúng ta gọi là “chủ chốt trong những nhân vật đường dây” chẳng phải cũng là nhân vật lạ lùng độc đáo phản nghịch đối với đạo Nho, “hành vi gàn dở tính ương bướng” chuyên “trộn lộn vào trong đám phấn son” đó sao? Còn như Lâm Đại Ngọc “nhàn tĩnh tựa hoa yêu kiều soi nước, đi đứng như liễu yếu gió xiêu”, lại có thể trong Giả phủ đồ sộ, một cô gái yếu ớt không nơi nương tựa, không những tài khí hơn người, mà “lòng sánh trời cao” coi tất cả mọi quyền thế lừng lẫy bề ngoài như cỏ rác, dũng cảm đi cùng đường với “Giả ca ca” của nàng, trong cuộc đời ngắn ngủi không giờ khắc nào quên theo đuổi sự giải phóng cá tính và đời sống tự do hạnh phúc, cũng không thể không gọi là “kỳ nhân”!


Không những tiểu thuyết Trung Quốc từ trước đến nay quan tâm đến sự kỳ ảo của tình tiết, sáng tác tiểu thuyết phương Tây cũng là như vậy.


Mấy ngàn năm trước, nhà mỹ học vĩ đại Hy Lạp Aristotle đã nói: “Kỳ là cái mà bi kịch cần”, “kỳ mang lại khoái cảm cho người”. Sau đó đến thế kỷ 18, nhà tiểu thuyết Anh nổi tiếng Fielding trong Tom Jones cũng nói một đoạn đến nay vẫn là danh ngôn được người ta coi trọng: “Chỉ cần ông ta (chỉ nhà văn) tuân thủ quy tắc tác phẩm phải khiến người tin được, thế thì ông ta viết được càng khiến độc giả kinh lạ, sẽ càng được độc giả chú ý, càng khiến độc giả ngưỡng mộ”. Ý của Fielding là, dưới cái tiền đề “chân”, tác phẩm càng “kỳ”, càng được người ta hoan nghênh. Sự thành công của tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo của Dumas cha, tựa hồ cũng chứng minh điểm này.


Dumas cha viết Bá tước Monte Cristo, vốn là nhân một bản tài liệu tên là Kim cương và phục thù trong Cục Cảnh sát, mà khơi dậy linh cảm sáng tác ở ông. Chính như tiêu đề viết, đó vốn là một câu chuyện “phục thù” chân thực. Câu chuyện anh thợ giày Fick phục thù đối với Loupian hãm hại anh ta phải vào tù và “tình nhân phụ bạc” Marguerite. Căn cứ vào thiết tưởng ban đầu của Dumas cha, do trọng điểm ở phục thù, nhân đó mà trong tình tiết như chuyện yêu đương của nhân vật chính (bây giờ đổi tên là Edmond) về tình nhân (cũng đổi là Misitiz), sự phản bội của bè bạn, giam cầm ở tháp canh, và sự gặp gỡ vị trưởng lão thần bí v.v... đã tính đưa hết cả vào. Dumas cha muốn cho bộ tiểu thuyết này vượt hơn Những bí mật thành Paris của Eugène Sue viết. Nhưng tiểu thuyết trong quá trình nung nấu sáng tác xảy ra biến hóa. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới biến hóa là tiểu thuyết phải trước tiên đăng Feuilleton trên báo. Mà báo chí đăng Feuilleton tiểu thuyết, để nắm chặt lấy người đặt mua năm, cần từ trang đầu trở đi tăng thêm thành phần kinh hiểm của tiểu thuyết. Tức là nói, tình tiết cần phải “kỳ”. Người hợp tác với Dumas là Marquis cũng tỏ ý nghi ngờ cấu tứ ban đầu của Dumas cha lấy “phục thù” làm chủ chốt: vứt bỏ tình tiết éo le có thể hấp dẫn người trong câu chuyện, tức tất cả mọi nhân vật và cảnh xuất hiện trước khi nhân vật chính từ tháp canh trốn ra, đáng tiếc biết bao. Dumas cha cuối cùng động tâm: “Đúng, Marquis, xem ra anh đúng đấy. Nên đem quá trình thú vị có sức hấp dẫn kể lại tỉ mỉ hơn, nhưng về thời gian phải trải qua mười năm dài dặc”. (Xem bài Quá trình sáng tác Bá tước Monte Cristo và dật sự). Dumas cha từng nhiều lần đi thăm thành Marseille, thăm lại thôn Catalane và tháp canh If, thu thập các thứ kỳ văn dật sự, và dùng rất nhiều tình tiết lạ thường và phổ thông để bồi đắp cải tạo câu chuyện vốn có, cuối cùng khiến tiểu thuyết sau khi đăng Feuilleton trên báo, lập tức chấn động văn đàn.


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »