tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524747
Lý luận phê bình văn học
20.09.2009
Hoài Anh
Phó Đăng Tiêu - Kỹ xảo tiểu thuyết (6)

Tình tiết của Cái hộp Trung Quốc tương đối đơn giản: một giám đốc xí nghiệp giàu sụ bị một nỗi sầu muộn, cô độc không tên quấy nhiễu, vô duyên vô cớ thần chí hoảng hốt, tiu nghỉu chán chường. Ông ta ảo tưởng cùng cô vợ đẹp của một người làm công dưới quyền ông, tính chuyện gió trăng, mượn cái đó để trút nỗi sầu vấn vít trong lòng. Moravia sử dụng cách viết mới, đó là thiết kế cho nhân vật chính một cơn mộng ảo, để tình tiết triển khai trong cảnh giới mộng ảo và hiện thực đan bện nhau.


Truyện vừa vào đầu liền miêu tả một người làm công ở trong ngôi nhà tồi tàn, do đời sống túng quẫn, suốt ngày lo lắng nơm nớp, sợ bị chủ cho thôi việc:


Ăn xong bữa trưa: bánh mì trộn một ít nước thịt và chút xíu bơ, mấy miếng lạp xường và khoai tây, một quả táo, tôi và vợ tôi rời khỏi gian phòng nhỏ hẹp, vừa coi là phòng khách, phòng sách và tạm dùng làm phòng ăn, trở về nhà xép chúng tôi dùng làm chỗ ngủ; ở khoảng giữa hai gian nhà này, là một lối đi, dài nhất không quá ba mét, bên cạnh là nhà vệ sinh và nhà bếp, mỗi gian vừa vặn rộng một mét rưỡi. Gia đình tầng lớp tiểu tư sản như chúng tôi, thông thường thuê một căn nhà như vậy.


Vừa về đến phòng ngủ, tôi liền cởi áo ngoài, giày da, vợ tôi cũng cởi áo; một cảm giác hổ thẹn chua xót bỗng dưng ùa đến, bởi vì tôi nhìn thấy, gót sau đôi vớ của tôi vá miếng vá, chỗ gần nách áo lót của vợ tôi đã bị vết mồ hôi nhuộm vàng. Sau khi nằm xuống giường, giống như bình thường, tôi bắt đầu dãi tỏ với vợ tôi nỗi khổ lòng, do tôi thường phạm kỷ luật, không để tâm vào công việc, lại thêm cấp trên của tôi là một người lòng dạ hẹp hòi, hết sức ngang bướng, mừng giận thất thường - tạm không nói đến y là một con quỷ hiếu sắc - cho nên tôi lúc nào cũng lo nơm nớp, sợ có một ngày bị cho thôi việc. Đương nhiên, vợ tôi vẫn cố hết sức an ủi tôi, chứng minh với tôi, nỗi sợ của tôi không có chút căn cứ nào. Thì thào nói chuyện như vậy, chúng tôi bất giác thiu thịu ngủ.


Kỳ thực, đó chẳng qua chỉ là giả tưởng trong mộng của lão chủ.


Tiếp đó, truyện miêu tả người làm công nghèo đó trong ảo tưởng cùng vợ của xếp xảy ra một cuộc kỳ ngộ giàu tính kích thích, để trút bớt nỗi ủ rũ kém vui và buồn rầu thất vọng của mình. Mà trên thực tế lại là lão chủ nghĩ vớ vẩn lung tung, là “mộng trong mộng” để giải thoát buồn bực của mình.


Tóm lại, truyện vừa vào cuộc đã dùng mộng trong mộng, mộng liên hoàn thật giả khó phân, nắm chặt lấy độc giả, thúc đẩy tình tiết triển khai trong mâu thuẫn đầy tính kịch. Lúc đó, tình tiết của truyện trên thực tế đã từ mào đầu đến phát triển.


Tình tiết tiếp tục tiến lên, là một cuộc trò chuyện của nhân vật chính sau khi tỉnh dậy với người làm công do mình biến thành trong mộng ảo. Lão chủ lúc đó, rất kinh ngạc về giấc mộng kỳ quái của mình: mình sao lại biến thành người làm công? Người phụ nữ mình muốn có cuộc kỳ ngộ, sao lại là cô vợ đẹp của người làm công? Mang thứ “kinh ngạc không sao hiểu nổi” đó, lão chủ và người làm công bắt đầu một cuộc chuyện trò “thực sự”. Lão chủ dọa dẫm mua chuộc, muốn đem cái thân phận chuyên lấn bức người của mình, giở oai phong của kẻ làm chủ số phận của người làm công, nhưng không ngờ người làm công không coi cái trò ấy của lão vào đâu, trái lại còn bị người làm công chế nhạo, chứng tỏ lão chủ chẳng qua là một kẻ ngốc nghếch đần độn. Cho nên, lúc đó lão chủ tuy nói là tỉnh, nhưng vẫn trong cảnh mộng ảo và hiện thực đan xen. Ông ta hay quên, nhưng được người làm công nhắc nhở, dường như lại nhớ ra một số điều gì. Cuộc trò chuyện không tầm thường này, cấu thành cao trào của tình tiết trong tiểu thuyết.


Kết cục là sự xuất hiện của người vợ lão chủ. Người vợ tặng lão chủ một cái hộp Trung Quốc đẹp đẽ, lưu lại cho độc giả suy nghĩ triết lý vô tận:


Tôi (chỉ lão chủ) chìa tay đỡ lấy cái hộp sơn vàng kim rực rỡ lấp lánh, đờ người mở nó ra. Bên trong hộp lồng một cái hộp khác. Tôi mở cái hộp thứ hai, bên trong lại lồng cái hộp thứ ba. Sau đó, cái thứ tư, cái thứ năm; sau đó, cái thứ sáu. Cuối cùng, tôi mở cái hộp thứ bảy, thì không phát hiện ra cái hộp nào khác nữa.


Moravia từng trong một bài luận văn tiến hành chú thích về kết cục của truyện này: “Thế giới hiện đại rất giống một cái hộp Trung Quốc, bên trong hộp đựng một cái hộp nhỏ, bên trong cái hộp nhỏ lại đựng một cái hộp nhỏ hơn, cứ như vậy v.v... Tức là nói, trong bóng đè khổng lồ của xã hội hiện đại chứa đựng một bóng đè khác nhỏ hơn, cái này nhỏ hơn cái khác, cuối cùng đến mức mỗi một cá nhân đơn độc đều mơ mơ màng màng thấy mình là một bóng đè” (tập luận văn Con người là mục đích và cái khác của Moravia).


Một tiểu thuyết của nhà văn Áo Kafka Nhà nghệ sĩ đói, tuy dùng ý vị tượng trưng mạnh mẽ để làm chấn động tâm linh độc giả, nhưng tình tiết câu chuyện của tiểu thuyết cũng không khó nhìn ra. “Người nghệ sĩ đói” có thể coi là lời tố cáo huyết lệ đối với chế độ tư bản thối nát. Giai cấp tư sản để kiếm tiền, nghề nghiệp gì cũng cần, “ngay cả người biểu diễn đói cũng cần”. Tiểu thuyết miêu tả cảnh ngộ bất hạnh của một người biểu diễn đói. Tiểu thuyết vào đầu viết: “Mấy chục năm gần đây, hứng thú đối với biểu diễn đói rất là nhạt nhẽo. Trước đây tự động tổ chức biểu diễn lớn về tiết mục loại đó thu nhập khá là khả quan, ngày nay lại hoàn toàn không có khả năng. Đấy là một thời đại khác”. Cái đó có thể coi là “giao đại” của tình tiết tiểu thuyết. Tiếp đó tiểu thuyết tả tỉ mỉ các thứ hiện tượng nghệ thuật tàn nhẫn của “người nghệ sĩ đói”, tâm tình “hưng phấn” và “sợ hãi” của khán giả, và sau khi người biểu diễn đói bị khán giả ruồng bỏ, “từ biệt ông chủ”, lại “được một đoàn xiếc lớn chiêu nạp”, chính là mào đầu và phát triển của tình tiết. Trong diễn xuất của đoàn xiếc lớn, đông đảo khán giả không thèm nhìn đến “nhà nghệ sĩ đói” bị nhốt trong lồng sắt để tiến hành biểu diễn đói (thường thường bốn mươi ngày không ăn), “chuyên đi xem thú vật”, thứ đối tỉ vô cùng mạnh mẽ ấy, cấu thành cao trào của tình tiết tiểu thuyết. Kết cục của tình tiết tiểu thuyết, là người quản lý đoàn xiếc, nhân suy tính đến chuyện “nhà nghệ sĩ đói” đã không kiếm ra tiền nữa, liền “chôn nhà nghệ sĩ đói cùng với cỏ lan”.


Trong yếu tố tình tiết của tiểu thuyết, có khi sau “kết cục” còn có “vĩ thanh”. Thứ “vĩ thanh” này là sau khi tác giả viết xong câu chuyện hoặc sự kiện, tiến hành giao đại về số phận nhân vật trong tiểu thuyết, thường thường hô ứng với “phá đề”. Có người gọi nó là bổ sung của tình tiết. Có một số tác phẩm, sự kiện miêu tả nảy sinh ảnh hưởng to lớn đối với nhân vật, độc giả còn rất quan tâm đến nhân vật trong tác phẩm “về sau ra làm sao?”. Để lại tiến hành chút giao đại cần thiết, tác giả lúc đó mới xếp đặt một “vĩ thanh”. Trong tiểu thuyết của Turgenev “rất giỏi kể chuyện”, chúng ta thường thường nhìn thấy thứ “vĩ thanh” này. Chương 36, chương cuối cùng của tiểu thuyết dài Trung Quốc Rừng thẳm tuyết dày, trên thực tế cũng có thể coi thành vĩ thanh của tiểu thuyết. Sau khi giao đãi tình huống của không ít nhân vật mà độc giả quan tâm, tác giả liền nói với mọi người: “Cuộc đấu tranh mới đã bắt đầu”.


Cái có quan hệ mật thiết với tình tiết là “cảnh” và “đường dây”. Bây giờ chia thuật như sau:


Cái gọi là “cảnh”, chỉ bức tranh cấu thành do nhân vật nhất định, ở thời gian, địa điểm nhất định triển khai hoạt động tình tiết nhất định. Sự dời đổi của bức tranh ấy, có tác dụng rất lớn đối với sự triển khai của tình tiết. Thông thường mà nói, “cảnh” miêu tả trong tiểu thuyết truyền thống tương đối sáng rõ, độ trong suốt của chuyển đổi cảnh cũng tương đối cao, mà trong một số tiểu thuyết dòng ý thức, thì cảnh hư ảo, biến đổi khó lường, khẩu độ của thời, không cũng thường thường phá vỡ quy luật thông thường. Về tiểu thuyết truyền thống mà nói, tả cảnh lớn không những phải có sự tóm lược toàn cục, cũng phải có đặc tả cục bộ, khiến cho vừa hoành tráng, vừa chân thực quyến rũ người, để khiến thu được hiệu quả tốt hơn. Mà đối với tiểu thuyết dòng ý thức bởi vì nặng về biểu hiện tâm thái ý thức tầng sâu của con người (thường thường là hoạt động ý thức trong trạng thái nhân vật không tỉnh táo, bao gồm hoạt động trong lúc ngủ), cho nên so với nói nhà văn biểu hiện một cảnh, chi bằng nói là biểu hiện một chặng dòng chảy ý thức mang tính tùy ý mà tính nhảy vọt rất lớn. Trong chặng dòng chảy này, hoạt động của các loại nhân vật tác giả miêu tả, thông thường thông qua hoạt động tư duy như “tự do liên tưởng” v.v... của nhân vật chính, dựa vào các hình thức như hồi ức, ảo giác, phản tỉnh v.v... trình hiện một cách vô trật tự. Luôn luôn cần độc giả cũng vận dụng tưởng tượng của mình để thẩm vị và bổ sung. Do tiểu thuyết dòng ý thức thông thường không nhất định phải phân ra chương, tiết, bởi vậy thứ miêu tả cảnh đó, đối với sự dời đổi tình tiết, có khi tỏ ra càng quan trọng hơn việc miêu tả cảnh của tiểu thuyết truyền thống.


Đầu tiên xem sự miêu tả một cảnh trong tiểu thuyết truyền thống:


Trên bãi đất ăn ra sông, mặt trời dần dần thu ánh sáng vàng óng của nó lại. Lá cây bách đen dựa sông bên bãi, khô queo mới thở được hơi ra, mấy con muỗi chân hoa đang bay múa rù rì bên dưới. Trong ống khói nhà nông dân quay mặt ra sông, dần dần giảm bớt khói bếp, những phụ nữ trẻ em đều đang rẩy nước bên bãi đất ở cửa nhà mình, đặt bàn nhỏ và ghế thấp xuống; người ta biết, đã là giờ cơm tối.


Các cụ ông ngồi trên ghế thấp, phẩy quạt lá chuối chuyện vãn, trẻ em chạy như bay, hoặc ngồi xổm dưới gốc cây bách đen chơi trò đánh cuội. Phụ nữ bưng ra rau khô nấu màu đen và cơm gạo vàng, nóng bốc khói nghi ngút. Thuyền rượu của văn nhân trôi trên sông, văn hào nhìn thấy, nổi hứng, nói: “Vô tư lự, đó quả là cái vui của nhà nông” - Lỗ Tấn “Sóng gió”.


Đó là một đoạn miêu tả cảnh sinh hoạt nông thôn Giang Nam Trung Quốc thời xưa điển hình. Ngôn ngữ cô đọng mà bức tranh lại như phù điêu xuất hiện trước mắt mọi người. Khi mặt trời lặn xuống phía tây, vào lúc gần tối, những người vất vả mệt nhọc suốt một ngày, bắt đầu ăn cơm tối. Lỗ Tấn miêu tả hành động của những phụ nữ, cụ già, đàn ông và trẻ em trước bữa cơm tối mỗi người một khác, và cơm, thức ăn nghèo nàn mà họ dùng. Đoạn lời nói uy-mua ở cuối, cũng thể hiện ra phong cách của Lỗ Tấn. Mào đầu câu chuyện của tiểu thuyết này, tuy viết lên được “tình thơ ý họa”, nhưng một cơn “bão táp bím tóc” lại sắp sửa đến.


Lại xem một đoạn miêu tả cảnh trong tiểu thuyết dòng ý thức. Cái mà Hemingway viết trong Tuyết trên núi Kilimanjaro vốn là một câu chuyện rất đơn giản: Nhà văn Harry cùng tình nhân của ông ta đi săn ở Phi châu. Harry không cẩn thận bị thương và mắc chứng hoại thư, cuối cùng do không được kịp thời chữa trị nên chết trong niềm chán ghét cuộc sống. Thời gian miêu tả trong tiểu thuyết ngắn ngủi (không quá khoảng một ngày đêm), nhân vật cũng hết sức đơn thuần (chủ yếu là Harry và tình nhân). Cái biểu hiện suốt thiên tiểu thuyết, là nỗi buồn khổ trong tiềm thức của Harry, và sự hết sức lạnh lùng đối với sống và chết. Để thể hiện nguyên nhân thành hình thứ tâm tình này của Harry, Tuyết trên núi Kilimanjaro dùng năm đoạn miêu tả dòng ý thức. Những miêu tả đó trên thực tế thể hiện thời đại mà Harry sống và từng trải quan trọng trong một đời ông, những cái đó có tác dụng quan trọng đối với việc hiểu tâm cảnh của Harry trước khi chết. Cho nên, thứ miêu tả đó tuy phá vỡ quy tắc thông thường của sự phát triển tình tiết tiểu thuyết truyền thống, trên thực tế lại là sáng tạo mới đối với tình tiết tiểu thuyết. Cái đáng chú ý là, năm đoạn miêu tả dòng ý thức này, hầu như đều có thể cấu thành cảnh. Hãy xem đoạn miêu tả cuối cùng trong tiểu thuyết:


Anh nhớ được rất lâu trước đây tối hôm sĩ quan ném lựu đạn Williamson bò qua màng lưới dây thép gai trở về trận địa, bị trúng một quả thủ lựu đạn của một tên quân tuần tiễu, anh kêu thét lên, yêu cầu mọi người bắn anh cho chết hẳn. Anh là một người mập, dù cho rất thích khoe khoang về mình, có khi khiến người khó mà tin nổi, lại rất dũng cảm, cũng là một sĩ quan tốt. Nhưng tối hôm ấy anh ở trong màng lưới dây thép gai bị ném trúng, một lằn chớp lóe đột nhiên chiếu sáng anh, ruột anh lòi ra, móc trên màng lưới dây thép gai, cho nên khi họ khiêng anh vào, lúc bấy giờ anh còn sống, họ chẳng đặng đừng phải cắt đứt ruột anh. Bắn chết tôi, Harry, xin hãy vì Chúa, bắn chết tôi đi. Có một lần họ từng tranh luận về một câu nói phàm cái gì Thượng đế mang lại cho anh anh đều có thể nén chịu được, có người lý luận là, trải qua một quãng thời gian, đau khổ sẽ tự động biến mất. Nhưng anh trước sau không quên được Williamson và buổi tối hôm ấy. Sau khi đau đớn trên người Williamson không biến mất, mãi đến khi anh đem một viên morphine vẫn lưu lại cho mình dùng cho anh ta uống, cũng không lập tức giảm đau.


Cảnh đau đớn trước khi chết của Williamson, chính là hình ảnh sống của tâm cảnh Harry phút này. Nó giống như Williamson bị thương mà không có cách nào chữa trị, cũng là mắc bệnh nan y. Trong giờ phút như vậy, anh đúng là giống như Williamson năm trước yêu cầu bắn cho mình chết hẳn, Harry nhân chán chường đối với sự sống, cũng rất hy vọng tình nhân của anh nổ súng bắn chết mình. Cái rõ ràng không giống với tiểu thuyết truyền thống là, cảnh dòng ý thức này chủ yếu là gây tác dụng tượng trưng.


Cái gọi là đường dây kỳ thực tức là mạch lạc phát triển của tình tiết. Dựa vào nó, mới có thể đem chuỗi tình tiết phong phú sắc thái móc liền với nhau như từng khâu một móc vào nhau. Có tiểu thuyết tình tiết đơn thuần chỉ có một đường dây, thông thường gọi là “đơn tuyến”. Mà cũng có một số tác phẩm do khuôn khổ dài hơn, nhân vật nhiều, câu chuyện phức tạp, tình tiết phong phú, thường thường có hai đường dây hoặc hai đường dây trở lên, thông thường gọi là “phức tuyến”, hoặc “đa tuyến”. Nhưng dù cho là trong “phức tuyến” cũng chỉ có thể có một đường dây chính, những cái khác là đường dây phụ. Có thể thấy, đường dây đơn nhất hoặc nhiều, đều vì nhu cầu thích ứng với sự khai triển tình tiết.


Đóng vai trò đường dây của tiểu thuyết, ngoài đường dây nhân vật là chủ chốt, cũng có thể dùng đường dây một vật. Thí dụ như truyện Thuốc tức là lấy “thuốc” (bánh bao thấm máu người) làm đường dây. Truyện Một gói đồ, tức là lấy “một gói đồ” làm đường dây. Mà tiểu thuyết lấy nhân vật làm đường dây, do chỗ ngoài đơn tuyến, còn có phức tuyến và đa tuyến, tình huống phức tạp hơn, cần tiến hành một số thuyết minh vắn tắt.


Về vấn đề đường dây tình tiết của tiểu thuyết, đầu tiên phải phân rõ đường dây tiểu thuyết là đơn tuyến hay phức tuyến (hoặc đa tuyến). Từ đó bắt tay vào, tương đối dễ làm rõ mạch lạc tình tiết của tiểu thuyết, đặc biệt là một số tác phẩm cấu tứ mới mẻ, tình tiết có đặc sắc. Tác phẩm tình tiết tiểu thuyết chỉ có một đường dây tương đối dễ nhìn ra, thí dụ như Khổng Ất Kỷ, Một chuyện nhỏ của Lỗ Tấn, Hoa bách hợp của Như Chí Quyên v.v... mà đối với tác phẩm đường dây trong tình tiết tiểu thuyết có hai đường hoặc hai đường trở lên, khi nghiên cứu cấu thành tình tiết của nó, cần tiến hành suy nghĩ kỹ càng và cân nhắc toàn cục. Lev Tolstọ từng tự hào tuyên bố tác phẩm của ông dường như nhìn không ra chỗ nối ghép vòm nóc của nó ở đâu, ông cho rằng cái coi trọng nhất trong tác phẩm của ông là sự liên hệ bên trong; Gorki cũng cho rằng tác phẩm của Lev Tolstoð giống như sóng lớn cuồn cuộn ào tới trước mặt độc giả, người khổng lồ Tolstoð dường như đứng ở khoảng giữa độc giả và đời sống. Những cái đó đều chứng minh thành tựu lớn lao về mặt kết cấu tình tiết của tác phẩm Tolstoð. Nhưng nếu chúng ta từ đường dây tình tiết bắt tay vào phân tích tác phẩm của ông, thì vẫn cứ là một đột phá khẩu. Thí dụ như tác phẩm đại biểu của Tolstoð Anna Karénina, dù cho miêu tả một thời đại xáo động của nước Nga, dù cho tác phẩm miêu tả số phận và bất hạnh của rất nhiều nhân vật; nhưng nhà văn lại là lấy hai đường dây nhân vật song song để xâu liền chuỗi tình tiết. Một đường dây nhân vật trong đó là đường dây giữa Anna và Vronsky, bị kịch của họ phản ánh sự giả dối và tàn ác của xã hội thượng lưu Nga đương thời; một đường dây khác trong đó là đường dây giữa Levin và Kitty, cảnh ngộ vui buồn xen lẫn của họ, lại gửi gắm niềm tin và lý tưởng xã hội của Tolstoð, và phương thuốc cứu thế đáng cười của ông. Tolstoð để hai đường dây nhân vật tuy song song nhưng lại liên hệ với nhau cấu thành tình tiết, vừa khéo phản ánh các thứ tình cảnh nguy ngập của xã hội nước Nga đương thời trước khi cơn sóng lớn cách mạng đến, nỗi lo lắng vô hạn và sự tìm kiếm thâm trầm đối với xã hội Nga của nhà văn trong những năm xáo động đó. Năm lấy hai đường dây này trong Anna Karénina thì có thể làm rõ tình tiết của tác phẩm, và lý giải nhân vật và chủ đề của toàn thể tác phẩm đều có ý nghĩa quan trọng.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »