tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087593
Lý luận phê bình văn học
15.09.2009
Hoài Anh
Phó Đăng Tiêu (Trung Quốc). Kỹ xảo tiểu thuyết

I. KHÁI NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT


1. Sự cởi mở trong quan niệm về tiểu thuyết


Thế kỷ 20 do chịu ảnh hưởng sự “bùng nổ” của khoa học kỹ thuật, bài học của hai cuộc đại chiến thế giới, sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc và ý thức xã hội chủ nghĩa, sự biến đổi về mặt tâm lý trong xã hội v.v... đã dẫn tới sự cởi mở trong quan niệm về tiểu thuyết. Đương nhiên, sự cởi mở trong quan niệm này, không phủ định yếu tố cơ bản cấu thành tiểu thuyết, mà hoàn toàn có thể dự đoán, quan niệm về tiểu thuyết đã phát triển hôm nay, đến ngày mai vẫn tiếp tục phát triển.


Sự cởi mở trong quan niệm về tiểu thuyết được thể hiện trên các mặt sau đây:


Điểm thứ nhất, về vấn đề “biểu hiện” trong nghệ thuật.


Về vấn đề văn nghệ biểu hiện hay là tái hiện từng dẫn tới cuộc tranh luận kéo dài của người ta. Mọi người đều biết, bắt đầu từ Cicéron và Horace của Cổ La Mã, đến Léonard de Vinci, Shakespeare, Stendhal sau đó, mãi đến “phái tự nhiên” ở nước Nga, đều trước sau đi theo “thuyết mô phỏng” nghệ thuật của Aristotle, cũng tức là coi văn nghệ là tấm gương phản ánh đời sống. Đó có thể coi là “phái tái hiện” trong văn nghệ. Ngoài ra còn một phái là “phái biểu hiện”, ngoài nhân vật đại biểu nổi tiếng nhất là Platon, còn có Hegel. Họ đều cho rằng, cái mà văn nghệ miêu tả chỉ là ảo ảnh của đời sống, thuộc tính thẩm mỹ của nó bắt nguồn từ “lý niệm” tách rời khỏi thế giới hiện thực mà đơn độc tồn tại. Tư tưởng đó sinh sôi nảy nở, đến các nhà lý luận phái hiện đại phương Tây, văn nghệ biến thành “biểu hiện tự ngã” của tình cảm nhà văn. Còn nội dung biểu hiện cụ thể lại rất không thống nhất, có người nói là biểu hiện cái thần bí của vũ trụ, cũng có người nói là biểu hiện lôgích tình cảm của loài người; có người nói là biểu hiện tình tự chủ quan của cá nhân nghệ sĩ, cũng có người nói là biểu hiện “sự thăng hoa của tính dục”.


Phản ánh luận về văn nghệ của chủ nghĩa Mác – Lênin, đối với lý luận “tái hiện” và “biểu hiện” nói trên, không sử dụng thái độ khẳng định hoặc phủ định một cách giản đơn. Bởi vì sáng tác văn nghệ là một thứ sản phẩm tinh thần rất phức tạp. Một mặt, nó thừa nhận văn nghệ là phản ánh bằng hình tượng đời sống hiện thực, một mặt khác, lại thừa nhận sự phản ánh hiện thực của nó không chỉ là sự mô phỏng tiêu cực, bị động hiện thực khách quan (từ “tái hiện”). Nó còn phải bao gồm sự “biểu hiện” tình cảm chủ quan mạnh mẽ của nghệ sĩ. Đương nhiên, thứ “biểu hiện” đó đã không phải là “lý niệm tuyệt đối”, cũng không phải là “biểu hiện tự ngã” thoát ly hiện thực. Có thể thấy lý luận “tái hiện” và “biểu hiện” nói trên, đều có chỗ thiên lệch và không thỏa đáng của nó. Mà phản ánh luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, chính là lý luận thống nhất giữa “tái hiện” và “biểu hiện”. Trong một số thời gian tương đối dài, trong sáng tác tiểu thuyết của chúng ta, dường như chỉ có thể nhắc đến tái hiện mà không thể nhắc đến biểu hiện, nhưng những năm gần đây, lại có người ra sức cổ súy cho cái gọi là lý luận “biểu hiện tự ngã”, một mực nhấn mạnh nhà văn phải khai phát cái “thế giới bên trong” của mình, dẫn tới một số nhà văn có tài năng, nhân coi nhẹ việc đi sâu vào đời sống, mà khiến sáng tác ở vào cảnh khốn quẫn. Cho nên, cái đó không phù hợp với quan niệm về văn nghệ của chủ nghĩa Mác – Lênin.


Điểm thứ hai, về vấn đề “miêu tả tâm lý”.


Gần đây, loại tiểu thuyết này khi noi gương và vận dụng thủ pháp “dòng ý thức” ở phương Tây, việc “miêu tả tâm lý” nhân vật đã can thiệp vào chặng đường sáng tác mới. Cái đó đối với việc thăm dò bí mật của lòng người, sáng tạo ra ý cảnh tiểu thuyết mới, từ đó mà khiến nghệ thuật tiểu thuyết dẫn tới sức quyến rũ thẩm mỹ càng lớn, không nghi ngờ gì nữa, là hết sức quan trọng. Nhà văn Mỹ Rhyne Adler trong bài Văn nghệ và tâm lý học có một đoạn nói như thế này: song song với việc thăm dò tầng sâu ý thức của Freud hồi đầu thế kỷ này, là sự thăm dò giống như thế hoàn toàn do các nhà văn cái gọi là “dòng ý thức” hoặc “độc bạch nội tâm” tiến hành trong lĩnh vực văn học. Những nhà tiểu thuyết này ở các nước, họ thử để độc giả đi vào trong ý thức của nhân vật, “từ bên trong” kể lại câu chuyện. Do đó độc giả liền trực tiếp tham dự vào tâm linh và kinh nghiệm cảm quan của nhân vật hư cấu. Rhyne Adler nhấn mạnh: “Nó đại biểu cho cuộc cách mạng không tầm thường trong kỹ xảo tự sự tiểu thuyết”.


Có người sẽ nói: “miêu tả tâm lý” trong sáng tác tiểu thuyết, có thể nói là “từ xưa đã có”; tại sao loại tiểu thuyết này từ khi sử dụng thủ pháp như “dòng ý thức” trở đi, lại nảy sinh sự biến hóa mang tính đột phá trong việc vạch rõ thế giới nội tâm của nhân vật?


Sự khu biệt này đầu tiên là ở chỗ góc nhìn của tiểu thuyết không giống nhau, cũng tức là sự khác nhau giữa cái thông thường vẫn nói là phương pháp tự sự. Cái mà tiểu thuyết truyền thống sử dụng thường là phương pháp kể chuyện của người ở ngôi thứ ba “toàn tri”, “toàn năng”. Dù cho là bóng tối “chìa tay ra không thấy năm ngón”, tác giả vẫn có thể nhìn thấy mọi cái; những lời “thỏ thẻ trong phòng khuê” không ai nghe thấy được, tác giả cũng có thể nghe thấy không sai. Như vậy, dù cho là miêu tả tình lý của nhân vật chính, độc giả cũng rất dễ dàng phân biệt giới hạn giữa tác giả và nhân vật chính. Nhưng từ khi sử dụng thủ pháp dòng ý thức trở đi, tình huống liền có chỗ khác. Trong tiểu thuyết như vậy, cơ hồ tất cả lời kể chuyện và miêu tả, đều mang cảm thụ chủ quan của bản thân nhân vật chính. Thứ ý thức chủ quan này với sự miêu tả khách quan của tác giả, đã dung hợp thành một thể.


Một chỗ không giống nhau khác, là tiểu thuyết truyền thống nói chung trước hết đem điều lý hóa tư tưởng của con người, sau khi gạt bỏ những hoạt động phi lý tính và hạ ý thức mới tả vào tiểu thuyết; mà từ khi vận dụng thủ pháp dòng ý thức trở đi, độc giả khi đọc không những có thể nhìn thấy dòng chảy hoạt động ý thức của nhân vật chính trong trạng thái tỉnh táo hợp với lôgích, chịu sự khống chế của ý chí tự giác, mà còn có thể nhìn thấy dòng chảy hoạt động vô ý thức của nhân vật chính (cũng bao gồm các nhân vật được miêu tả khác) trong trạng thái không tỉnh táo nào đó (bao gồm cả ảo giác trong giấc mơ hoặc khi tư tưởng phân tán v.v...) mang tính tùy tiện và tính nhảy vọt rất lớn.


Điểm thứ ba, về vấn đề “siêu việt thời không”.


Sáng tác tiểu thuyết đã không chịu sự hạn chế về thời gian như khi chiếu phim (thường thường vào khoảng 100 phút), cũng không chịu sự hạn chế về không gian như khi biểu diễn kịch (một sân khấu rất hữu hạn) có thể trên dưới vài ngàn năm, dọc ngang vài vạn dặm, ngắn thì vài trăm, vài nghìn chữ, dài thì vài mươi vạn vài trăm vạn chữ tùy ý đưa bút, vung vẩy bôi xóa, rất được các thể tài nghệ thuật khác thèm muốn. Nhưng thời gian không gian “tự do” như thế, từ tiểu thuyết truyền thống đến một số tiểu thuyết những năm gần đây, lại có sự siêu việt về quan niệm khiến người kinh ngạc.


Một thời kỳ rất dài, người ta cho rằng thời gian và không gian trong tiểu thuyết, tựa hồ chỉ là đường dây dẫn dắt câu chuyện và hoàn cảnh hoạt động của nhân vật, và chưa mong cầu quá sâu. Bởi thế, thiếu sự hiểu biết cần thiết về sức mạnh nghệ thuật và sức mạnh tư tưởng không thể xem thường của nó. Cái đó không những biểu hiện ở phương diện sáng tác tiểu thuyết truyền thống, cũng biểu hiện ở phương diện lý luận nghiên cứu về tiểu thuyết truyền thống. Đến nỗi trong cuốn sách Những khía cạnh của tiểu thuyết của nhà nghiên cứu Anh E. M. Forster được coi là “tác phẩm kinh điển về nghệ thuật phân tích tiểu thuyết thế kỷ 20”, chỉ đề xuất phải lấy giờ giấc đồng hồ để tính toán mỗi thiên tiểu thuyết mà chưa coi thời, không như “một phương diện” để nghiên cứu. Ba mươi năm sau đó, một tác giả Anh khác Jonathan Reyban chú ý đến chỗ bất túc này, trong phần “Tự sự” của cuốn sách Kỹ xảo sáng tác tiểu thuyết hiện đại ông viết, đã đem “thời gian” liệt vào tiết riêng để bàn, nhưng chủ yếu cũng nhìn từ kết cấu của tiểu thuyết, mà chưa kể từ góc độ mới hơn để xem xét. Mà nghiên cứu về không gian thì lại càng khiếm khuyết.


Kỳ thực, thời, không trong tiểu thuyết không chỉ có tác dụng kết cấu câu chuyện thông thường, cung cấp cho nhân vật trong tác phẩm hoàn cảnh động, còn có công năng của “tầng thứ hai thẩm mỹ” hết sức sâu sắc. Sự ẩn hiện và ổn hóa của thời, không, đã có thể sáng tạo ra ý cảnh thẩm mỹ không lường được, cũng có thể biểu hiện ra sự hàm súc về triết lý khêu gợi lòng người. Không những một số tiểu thuyết những năm gần đây có thể cung cấp thí dụ sinh động, mà cả những tác phẩm hiện thực xuất sắc đứng vững chân trên truyền thống tốt đẹp, cũng để lại cho người ta những thiên, chương khó quên.


Nhưng, một số tiểu thuyết những năm gần đây trong miêu tả thời, không, so với những tác phẩm hiện thực thông thường rõ là càng tung hoành cao xa vời vợi, bởi thế mà càng làm nổi rõ chất thơ và triết lý.


Điểm thứ tư, về vấn đề “tượng trưng” và “biến hình”.


Người mới đọc tiểu thuyết Dịch hạch của Camus, có thể cảm thấy câu chuyện quá quái đản. Bởi vì nhân vật chính của tác phẩm Cotar vẫn cứ gửi thân trong cái thị trấn đang gặp bất hạnh - thị trấn đó đang lan tràn dịch hạch - có thái độ vui sướng trước tai họa của người khác. Té ra, do việc lan truyền dịch hạch, khiến cục cảnh sát không thể suy tính đến vấn đề bắt Cotar nữa. Điều đó chứng tỏ bộ máy nhà nước tàn bạo lúc này đã mất đi chức năng thường quen của nó. Đọc xong, hơi suy xét một chút là có thể cảm thấy thiên tiểu thuyết bề ngoài tựa như quái đản ấy, cũng giống một số tiểu thuyết của Kafka viết, kỳ thực không phải là quái đản. Ý nghĩa tượng trưng của toàn thiên tiểu thuyết là ở chỗ: Hà chính mãnh ư hổ (Chính trị hà khắc dữ hơn cọp, “cọp” ở đây trong tiểu thuyết tức là dịch hạch).


Vốn dĩ, tiểu thuyết truyền thuyết mượn câu chuyện và nhân vật, cùng có thể thể hiện đầy đủ ý vị tượng trưng nồng đậm. Như một số hình tượng điển hình trong A. Q, Don Quixote là thí dụ rõ ràng nhất. Nhưng một số tiểu thuyết những năm gần đây, do mượn dùng một số thủ pháp “biến hình” siêu hiện thực, siêu lôgích trong tiểu thuyết của “phái hiện đại” phương Tây, khiến phương pháp “tượng trưng”, bất luận là về cấu tứ tổng thể hay là vận dụng cụ thể, so với tiểu thuyết truyền thống (đặc biệt là một số tiểu thuyết cổ điển) đều có chỗ biến hóa, phát triển. Để tiện cho việc trình bày, xin lựa lấy từ hai phương diện, để khảo sát qua.


Một loại là lấy hình thức “ngụ ngôn” hoặc “đồng thoại” xây dựng hình tượng, gửi gắm ý tứ, để thể hiện một thứ triết lý tượng trưng nào đó. Thí dụ như Bi hài kịch của Gà Trống của Thẩm Dung, Đầu lâu trong đầm lầy của Tông Phác thuộc loại này. Trong loại tác phẩm này, Gà Trống, Đầu lâu trong đầm lầy do chỗ tác giả sử dụng thủ pháp nhân cách hóa, đều lập tức giống như “người” “sống” dậy, đã có thể nói chuyện, lại có thể suy nghĩ, còn có những tình cảm hỉ, nộ, ai, lạc. Tác phẩm như vậy, cái mang đến cho độc giả hoàn toàn vượt khỏi những cái do kinh nghiệm hàng ngày, bởi thế mà khiến người nảy sinh cảm giác xa lạ, mới mẻ và quái dị. Mà dưới sự kích phát của lòng, kinh nghiệm thẩm mỹ của độc giả sẽ rất tự nhiên dẫn tới sự điều chỉnh mới, từ đó mà nảy ra một chuỗi thành quả suy nghĩ mới. Nhân vật chính trong loại tác phẩm này (tức Gà Trống, Đầu lâu v.v...) thường thường là một thứ giả thác. Tác phẩm thông qua chúng kỳ thực là miêu tả cảm thụ của con người và một thứ xu hướng phát triển nào đó của xã hội và một số tệ đoan tồn tại trong xã hội. Do chỗ sử dụng kỹ pháp khoa trương cực độ hình tượng, thậm chí biến hình, lại dùng thủ pháp “phô sửa sạn đạo, ngầm vượt Trần Thương”([1]) miêu tả một cách khéo léo độc đáo, thường thường sẽ nảy sinh hiệu quả nghệ thuật khi đọc thấy mới lạ, đọc xong liên tưởng bâng khuâng.


Xử lý biến hình của loại tiểu thuyết này, trong tiểu thuyết cổ điển của Trung Quốc cũng từng thấy. Không những một số tiểu thuyết thần ma nồng đậm sắc thái lãng mạn có, mà xử lý một số chương tiết nào đó trong tác phẩm hiện thực lấy giáo huấn triết lý làm tôn chỉ, cũng có. Cái trước, tác phẩm đại biểu là loại như Tây du ký, Liêu trai mà người ta quen thuộc, cái sau thì như Kim bình mai, thậm chí trong Hồng lâu mộng cũng không thiếu xử lý nghệ thuật như vậy. Nó với nghệ thuật biến hình trong một số tiểu thuyết những năm gần đây, đúng là có chỗ tương thông nào đó. Nhưng không thể không chỉ ra, trong rừng tác phẩm cổ điển của Trung Quốc, sử dụng thủ pháp nghệ thuật này quả tình mới là một thứ thí nghiệm nghệ thuật mang tính ngẫu nhiên, không giống như nhà văn đương đại có nhận thức tự giác như vậy, càng không cần nói đến sự “hiện đại hóa” về xử lý biến hình của nghệ thuật hiện đại.


Hiện tại có một số tiểu thuyết, để giành được hiệu quả nghệ thuật càng lớn, có khi lại đưa một số hình tượng nghệ thuật biến hình từ thế giới nghệ thuật hư ảo đi vào thế giới hiện thực đích thực, và “lấy giả loạn chân”, giành được hiệu quả nghệ thuật có thể gọi là mang “tính hý kịch”. Một loại khác thì hoặc thông qua miêu tả việc thật (đương nhiên cũng không tách rời khỏi nhân vật), thí dụ như đem vấn đề yêu đương (thậm chí bao gồm cả mối rối rắm “tình yêu tam giác”) để tượng trưng cho chủ đề khác xa với cái mà hai chữ “yêu đương” có thể bao hàm trong đó. Trong một số tác phẩm này, tuy chưa mượn dùng “biến hình”, nhưng cũng dùng cách viết mở ra một mặt khác của đời sống và ý cảnh sâu sắc uẩn khúc, chứa đựng hàm nghĩa tượng trưng bắt người phải nghiền ngẫm.


Điều thứ năm, về vấn đề đổi mới trong thủ đoạn môi giới của sáng tác.


Trong lịch trình phát triển của tiểu thuyết, ngôn ngữ (bao gồm cả văn vần, văn xuôi...) là thủ đoạn môi giới của nó, vẫn gây được tác dụng “vỏ ngoài vật chất” vô cùng quan trọng. Nhà tiểu thuyết ưu tú của từng thời đại, nói chung mong cầu sâu về tư tưởng, mới về ngôn ngữ, đồng thời coi đó là mục tiêu phấn đấu luôn đeo đuổi nhằm tranh thủ độc giả. Đương nhiên, con đường tìm kiếm đó là đầy gai góc, khó khăn lận đận.


Nhấn mạnh tính phù hiệu của ngôn ngữ và tính lưu động của trần thuật, có thể coi là một động thái rất đáng chú ý về sáng tác của tiểu thuyết phương Tây đương đại. Trong đó đã có chỗ đáng suy nghĩ, nghiên cứu, cũng có mặt rõ ràng là tiêu cực. Ernst Cassrer trong Bàn về con người khẳng định chắc chắn: “Con người sẽ không sống trong một vũ trụ vật lý đơn thuần nữa, mà sống trong một vũ trụ của các phù hiệu. Ngôn ngữ, thần thoại nghệ thuật và tôn giáo là các bộ phận của vũ trụ phù hiệu ấy. Chúng là những sợi khác nhau dệt thành mạng lưới phù hiệu, là mạng lưới trao đổi kinh nghiệm của nhân loại”. Một đám đông nhà văn phái tiểu thuyết mới Mỹ (bắt đầu từ Burroughs) không ngừng sử dụng phương thức dùng từ ngữ mới hoặc thủ đoạn biểu đạt từ ngữ mới, để “dứt bỏ thứ ngôn ngữ hình thái ý thức đã thoái hóa”, và sáng tác ra “phương thức tự sự mới”. Dường như có thể coi là thí dụ khá cực đoan về mặt này. Nhà lý luận Pháp André Levo trong Con đường mới của tiểu thuyết Mỹ, giới thiệu một câu danh ngôn mà Basemay để cho nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết của ông phát biểu năm 1966: “Tôi chỉ tin vào những cái vụn vặt mà thôi”. Lê-vô cho rằng: “Từ lời nói ngắn ngủi ấy, có thể nhìn thấy mầm mống của một thứ kỹ xảo sáng tác mới, có sức tưởng tượng phong phú”. Đó là một mặt của vấn đề. Một mặt khác của vấn đề là kỹ thuật “cắt dán” (collage) bừa bãi của những nhà tiểu thuyết như Burroughs: “Đem một số bài văn (đã bị ô nhiễm, khẳng định là có tính truyền nhiễm) gấp nếp lại, dựa theo vết gấp cắt ra, rồi đem những cái đó cắt thành mảnh vụn, xếp lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info







([1]) Mưu kế ca Hàn Tín, b ngoài sa đường sn đạo đã b hy b trước đây, để đánh lc hướng địch nhưng bên trong ngm đem quân đánh úp Trn Thương ca Hng Võ.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »