tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20030284
Lý luận phê bình văn học
14.09.2009
Hoài Anh
Evnst Loch. Tác phẩm văn học phản ánh hiện thực: Lắng nghe mạch đập của hiện thực

Khóa đề: “Hình tượng nghệ thuật cần khoảng cách, thế thì nó như thế nào mới có thể đụng vào vấn đề đương đại”? “Ở những phương diện nào khoảng cách quá gần sẽ tăng thêm khó khăn cho xây dựng hình tượng? Như thế nào mới có thể khắc phục khó khăn này? Ở những phương diện nào, khoảng cách quá gần lại sẽ tăng thêm cánh cho tác phẩm văn học?” “Không thoát ly thời đại mà sáng tác, quyết không coi như dựa vào bản thân đời sống sáng tác. Bởi vì rất nhiều người xem ra thì lắng nghe mạch đập của hiện thực, chỉ tiếp xúc với một số sự tình ở bề mặt, mà không cảm xúc tới sự tình xảy ra thực tế. Cái miêu tả của nhà văn như vậy không phải là bản thân sự tình, mà là kiến giải lưu hành, cho nên trong độc giả tạo thành giả tượng họ viết tiểu thuyết về thời đại. Chúng cũng có thể cung cấp cho người tiêu khiển, nhưng nhất định là đoản mệnh”.


(...) Tự nhiên, thời kỳ đang lên của xã hội cung cấp tài liệu thô phong phú hơn so với thời kỳ suy vi, dù cho đời sống của thời kỳ đang lên trôi qua nhanh chóng, nhân đó mà ánh mắt xem xét cũng càng nắm bắt không nổi nó. Giống như vậy, cũng rất tự nhiên, thời đại tự thân phát triển hoàn thiện thành thục chứa đựng thứ cảnh tượng trước mắt nào đó dễ dàng thành tranh phong tục, những cảnh tượng đó cũng có thể thành cái biểu hiện giống như thực, do tác phẩm trình hiện ra. Freitag([1]) ở vào thời đại trống rỗng tràn đầy không khí con buôn tư bản chủ nghĩa Đức, ông coi là một người tầm thường với thời đại đó là nhất trí. Nhân đó mà ông từ trong đời sống hàng ngày trống rỗng đào không ra cái gì. Immermann([2]) lại tuyệt đối không phải là người tầm thường, mà còn ông chí ở học tập văn học cổ điển, ông trong tầng lớp thị dân Đức đương thời nhìn thấy sự kiện khiến người kinh ngạc nhất; ống khói tỏa khói, công nghiệp hóa mới hưng khởi, sự hẹp hòi và phản động của nước Phổ phong kiến, ngoài ra còn có giai cấp tư sản đáng ghét, ông ghi lại sự suy đồi trên văn học thời đại đó, lúc đó, phong trào “Nước Đức trẻ” và một số chí sĩ ưu tú đã nổi dậy, danh ngôn của Herweghs([3]), đã truyền xa khắp chốn: thời đại văn học thuần túy đã qua, thời đại mong đợi đã đến. Dù cho như vậy, Immermann đầy bụng ấm ức (giống như Raabe([4]) mutatis mutandis (biến đổi cái có thể biến đổi) về sau) quyết không thể vượt lên tình điệu bi ca bốn chung quanh ông, chỉ tiến hành một cuộc khắc họa bên ngoài kiểu lãng mạn đối với tư tưởng lừa dối của giai cấp tư sản và sự thối nát của phong kiến, ông ở trong cuốn ghi chép hồi ức viết cho mình Munchhausen([5]) kêu lên: “Ai có thể cấp một tên gọi cho dòng nước triều đưa con thuyền thời đại của chúng ta”. Nhưng, lúc bấy giờ còn rất thiếu kiến giải thấu suốt của khoa học xã hội, thứ thiếu thốn đó khiến nhà văn không có cách nào thông qua hình tượng để tạo dựng và biểu hiện dòng nước triều. Bởi vì, mọi người đều biết, ngay cả Balzac vĩ đại ở nước Pháp chủ nghĩa tư bản rõ ràng phát đạt cao độ, cũng không hiểu “dòng nước triều”. Ông không phải là dùng phương thức lãng mạn chủ nghĩa, đúng là dùng phương thức chống lại phản đối chủ nghĩa tư bản, tuy ông phản đối người cho vay nặng lãi và tham lam không chán sau cách mạng Pháp, nhưng ông vẫn đứng ở phía đảng Bảo Hoàng. Đương nhiên, ông không nhìn thấy giai cấp tư sản (họ cũng giống như giai cấp tư sản cùng thời đại ở Đức) từ con buôn phường hội trụy lạc dần từng bước phát triển đến tầng lớp thị dân tư bản chủ nghĩa như thế nào, ông cũng không có lý do đích thực nêu ra kháng nghị đối với nhà nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa. Bởi vậy khắc họa không gì so sánh nổi đối với hộ giàu sổi chịu ơn huệ ở hai thứ phương pháp: tức là, phê phán phúng thích, thêm vào không tưởng nhân đạo, mà còn hai cái này không phải là chỉ coi làm vật phụ thêm chủ quan, mà còn coi là thành phần cố hết sức nắm lấy trong xã hội hiện thực. Dù cho ông vẫn không sử dụng phương pháp phân tích hoàn cảnh của chủ nghĩa Mác, càng không thể nói đến sử dụng phương pháp phân tích ‘trào lưu”. Nhưng hai thứ phương pháp của ông vẫn gây tác dụng không nhỏ. Chúng giúp cho trước khi xuất hiện chủ nghĩa Mác khiến người đi sâu vào thời đại, một cách đặt mình vào trong cảnh để tạo dựng. Lấy lớp cảnh kiểu Balzac làm thí dụ, tiền cảnh (mà còn chính là thứ tiền cảnh này) trực tiếp trong đó không phải là biểu hiện cái coi làm cái ngoại tại, mà là coi làm mấu chốt của chỉ thị phương hướng. Không cần kiêng dè không nói, lựa chọn mấu chốt thích đáng trong vẽ lại và tô điểm cảnh vật trước mắt đó là chỗ Freitag hoàn toàn nhìn không thấy. (ngày nay, trong tiểu thuyết phía Đông có một số trường hợp càng tồi tệ, vừa thô sơ vừa vụng về). Trong hiện thực nắm được phúng thích khiến người ở trong hiện thực cũng nhìn thấy được sắc bén, một không tưởng nắm được trong hiện thực (nó là tiêu chuẩn của phúng thích, để người ta khỏi đem phúng thích coi là tiêu chuẩn duy nhất), khiến người ở trong hiện thực thấy được rất xa đầy đủ, nhân không ngừng hoàn thiện mà hoàn chỉnh. Còn ở trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, trong văn học liền xuất hiện ưu thế của tồn tại hiện thực, thành quả của nó cũng có thể quy vào cái người ta gọi bằng cái tên chủ nghãi hiện thực phê phán. Ở đây, vừa vặn tiền cảnh quyết không phải là cái chân thực, chỉnh thể của tất cả mọi tiền cảnh cũng quyết không đều là cái chân thực; từ bản chất mà nói, dòng nước triều, lớp cảnh lưu chuyển mới là cái chân thực. Nó ở trong tự thân thời đại biểu thị rõ bức tranh của thời đại. Dù cho ở lúc vẫn chưa thể có giải phẫu học và sinh lý học dùng cho tài liệu thô của thời đại của chủ nghĩa Mác (nó khiến chúng ta từ phương diện di truyền học hiểu tài liệu thô của thời đại) liền đã là như vậy.


Bởi vậy, dựa theo giải thích của hai phương diện đó, khoảng cách gần nhất vẫn không phải là mang lại khó khăn cho xây dựng hình tượng. Đặc biệt trong văn học thị dân là như vậy. Nó không thể trốn tránh “hiện tại”. Trong đó có rất nhiều tác phẩm vĩ đại miêu tả thời đại, chúng có chỗ không giống nhau trên trình độ sáng rõ thấu suốt. Nhưng chúng vứt bỏ tất cả mọi từng trải thực tế bình thường nhạt nhẽo, từ bản chất để khắc họa nhân vật, khai phá ra cái phiêu hốt bất định, nhưng từ góc độ văn học mà nói tình tiết gây tác dụng quyết định, vượt khỏi cái không đủ của thực tế, và nhằm vào cái không đủ đó đề xuất, thường thường chỉ tồn tại trong lý tưởng, mà ở đương thời quyết không tồn tại ánh sáng. Cái đó trong tiểu thuyết và kịch đều là như thế. Chẳng qua chỉ là do những tác phẩm đó dần dần biến thành có chút hương vị cổ kính, từ đó mà trở ngại đến việc chúng chúng ta thấy chúng hoàn toàn thuộc về thời đại của chúng ta: tính hiện thực trong tài liệu thô. Loạt cận đại (gọi như vậy, là bởi vì điểm ra một cách đúng mực nghiên cứu thời đại mà những tác phẩm đó tiến hành là từ tác phẩm thời đại phong trào “Bão táp và xung kích” trở đi, trải qua từ tác phẩm mẫu mực Wilhelm Meister ([6]), đến Balzac, Stendhal, Flaubert, Dickens, Dostoðevski, Tolstoð, Gottfried Keller([7]), đến Musil([8]) của phái thực nghiệm, cho đến những nhà tiểu thuyết tự giác nhất của giai cấp tư sản hiện đại: Thomas Mann. Loại đó không chỉ khoảng cách rất dài, ở khoảng giữa còn có khu biệt rất lớn. Nhưng chủ đề của họ là nhất trí: dùng văn học nắm bắt hiện thực, dù cho lựa chọn đại biểu trung gian như  Dickens, hay đại biểu cực đoan như Dostoðevski, cái đó đều không quan trọng. Đương nhiên, khóa đề đó trong tiểu thuyết thời đại thị dân thế kỷ 20 chịu cục hạn càng lúc càng nhiều, dù cho sự hứa hẹn của nhà phê bình và lý tưởng trong phê bình tăng mạnh. Cái trong tiểu thuyết thời kỳ cuối tư bản chủ nghĩa biểu hiện ra do bi quan thất vọng xã hội tạo thành ngày càng xảy ra tác dụng cản trở. Nhưng tác phẩm của Musil và Thomes Mann (ở đây cơ hồ nhìn không thấy bóng dáng giai cấp vô sản cách mạng) lại càng một cách nỗ lực tăng cường sức mạnh của phúng thích phê phán và không tưởng nhân đạo, điểm đó rõ ràng mà dễ thấy. Chỉ có trong tác phẩm đại biểu của tiểu thuyết thời đại giai cấp tư sản (tức Wilhelm Meister), nội dung còn có thể vừa là hiện thực chủ nghĩa, vừa mang cho người hy vọng. Đương nhiên, ở đây còn thiếu quan sát phân tích thấu suốt đối với “số phận thời đại”. Nhưng ở đây phúng thích của phê phán và không tưởng đều không thiếu cột chống đỡ hiện thực. Không đi sâu một cách rộng rãi vào các ngành nghề, thì không thể nắm được thời đại hiện nay. Lúc ấy, giai cấp tư sản còn ở vào thời kỳ đang lên, trong tiểu thuyết không chỉ nói đến mỹ dục con người, mà còn nói đến giáo dục kinh tế. Cái đó vừa vặn chứng nhận phủ định nổi tiếng của Novalis([9]) đối với bộ tiểu thuyết này. Ông đem bộ tiểu thuyết này gọi làm “kiểu văn xuôi, cái hiện đại”, nhân đó mà “màu sắc lãng mạn, ý thơ tự nhiên và cảnh tượng kỳ lạ”. Đó là một cuộc tranh luận dữ dội xuất phát từ góc độ lãng mạn kiểu không tưởng mà triển khai, nó là dùng ánh mắt dõi ngược lại để nhìn, là từ bầu trời xa xăm của Heinrig von Ofterdingen([10]) cúi xuống nhìn. Ở đây, Tasso lại lần nữa phát ngôn phản đối Antonio([11]), dường như Hide Rhodos hic salta (Đây là Rhodos, ở đây hãy nhảy đi!) vĩnh viễn là bội phản đối với cảnh mộng. Chân tình thà rằng là màu sắc không tưởng trong Wilhelm Meister (nó cùng màu sắc lý tưởng là tay phải tay trái) không chỉ cần có cánh, mà còn phải dẫm chân xuống thực địa, dựa theo kiến nghị của Bacon, thậm chí phải trong giày rót chút chì, mượn cái đó đứng ở bờ bên này, ở bờ bên này phát huy tác dụng, truyền bá ra. Trong Wilhelm Meister, bờ bên này của hiện thực là bị cục hạn nhất định, thậm chí là trải qua sàng lọc. Không có một chút tích lũy về tài liệu, thậm chí không có một chỗ biểu hiện tầng lớp bình dân, cái tả trong tình tiết hoàn toàn là thị dân bậc nhất, quý tộc giàu có, (ngoại trừ nàng Mê và ông già đánh đàn thụ cầm([12]) về giấc mộng hoa màu lam không tưởng trên cô đảo, từ biểu đạt của nó mà nói, không tưởng của khu giáo dục chí ít đầu tiên cục hạn trong tầng lớp cao hơn, cục hạn ở trên phần tử tinh hoa ở phương diện hành động và đạo đức yêu cầu tiến lên tầng lớp thượng đẳng. Nhưng, như trước đã nói, trong hoàn cảnh hiện thực, ở nước Đức thời bấy giờ, chủ nghĩa tư bản không cam chịu ở vào trạng thái lạc hậu một cách lâu dài, mà sự thối nát của chủ nghĩa phong kiến lại trước sau tồn tại, cho nên căn bản không có cơ sở của hiện thực. Bất luận như thế nào, vừa vặn trong Wilhelm Meister, tất cả mọi phê bình yếu hại nhắm trúng thời đại đều sản sinh ở niềm tin chắc đối với một thế giới khả năng càng hoàn mỹ, mà cái đứng được vững trong thứ niềm tin chắc đó đều xuất từ khuynh hướng hiện thực, dù cho thứ khuynh hướng của công dân đó từng bị đứt đoạn, nhưng nó chí ít về sau lại phát huy tác dụng. Đúng, nếu nói Goethe đem khuynh hướng hiện thực lý giải làm hướng về công nghiệp hóa, đồng thời lại khuyến khích thứ khuynh hướng đó sinh phát theo hướng cơ năng lý trí của đạo đức, thế thì, trong đó đã có rất nhiều nhân tố của chủ nghĩa Saint-Simon, không chỉ ở “những năm lang thang” là như vậy (ông ta ở đây có được huân chương xã hội kính nể), mà còn ở “những năm học tập” cũng là như vậy. Đương nhiên từ trong tác phẩm mẫu mực của tiểu thuyết thời đại này, mà còn vừa vặn là từ trong bộ tiểu thuyết này, có thể nhìn thấy dù cho là có khuynh hướng hiện thực mạnh mẽ nhất, chỉ dựa vào phê phán và lý tưởng không tưởng cũng không thể miêu tả từ đấy về sau phát triển lên nữa, mà phải khi lại nắm được bức tranh đương đại. Không nghi ngờ gì nữa, ở một số thời đại, phúng thích là cái hoàn toàn tự phát sản sinh một cách khách quan (cái đó giống với câu danh ngôn của Juvenal([13]) thời đại đế quốc La Mã. Đối với cái đó rất khó không đem trào phúng); trong một số thời đại khác, lý tưởng không tưởng đúng là chiếm ưu thế (tất cả mọi thời đại bắt đầu của đời sống mới đều thuộc trường hợp này). Nhưng dù cho thời đại của chúng ta là thời đại tràn đầy bộ mặt làm xấu và ráng ban mai, cái đó quyết không thể thay thế nhận thức khoa học đích thực đối với trào lưu thời đại, không thể thay thế hoàn cảnh nhân quả kinh tế - phép phân tích khuynh hướng. Chỉ có thứ phân tích đó mới có thể khiến phúng thích biến thành sắc bén đích thực, khiến nó thâm nhập vào trong chứng bệnh như vậy, không tưởng cũng biến thành cụ thể. Người ta đã nhìn thấy, chỉ có hai thứ nhân tố phúng thích và không tưởng có thể khiến văn học nắm được tiền cảnh, nắm được tranh phong tục lúc này nơi này - thứ tranh phong tục đó quyết không phải là ở nơi xa xôi trình hiện ra. Nhưng, chỉ có chủ nghĩa Mác, mà đầu tiên chỉ có thời đại bắt đầu đời sống mới trong hiện thực (chủ nghĩa Mác ra đời ở thời đại đó, và thành biểu đạt của thời đại đó), mới có thể lấy, bỏ bi quan thất vọng xã hội tạo thành. Dù cho ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang lên, trong Wilhelm Meister, thứ bi quan thất vọng đó cũng chẳng qua chỉ là hoặc nhiều hoặc ít dùng hình thức trừu tượng biểu hiện làm cái khung của lý tưởng mà thôi. Ở thời kỳ giai cấp tư sản bắt đầu suy sụp, khắc họa kiệt xuất Keller tiến hành đối với thời đại vẫn là cái có khả năng. Chúng mang một thứ hơi thở đích thực, hoặc xem ra chí ít là hơi thở dân tộc dân chủ đích thực, nhân đó mà cấp cho người một thứ tiền cảnh khiến người tin phục hoặc chí ít nói có lý lẽ. Tiếc rằng, tác phẩm của ông không chỉ lấy nỗi ai oán của Martin Salante([14]) kết thúc, mà còn thiếu sức nhìn thấu quan sát giai cấp của thời đại hiện nay ẩn chứa đằng sau các thứ chứng bệnh. Cái bên trên nói đều là tiểu thuyết. Trong khoa học của giai cấp tư sản, không có cái gì có thể so sánh với phân tích có sức vạch rõ đích thực mà Marx và Engels sáng lập, các ông vận dụng thứ phân tích này cơ hồ trực tiếp nắm bắt được hiện thực. Dù cho Ngày 18 tháng Sương mù viết nhiều về lịch sử, mà Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản viết nhiều về triết học, nhưng chúng đều nắm lấy vấn đề đương đại. Một phương diện khác, có một điểm chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa: trong văn hiến đương đại xã hội chủ nghĩa phía Đông, cho đến nay vẫn không có cái tương ứng có thể sánh kịp thứ phân tích khoa học đó. Nhà văn hiện thực chủ nghĩa hết sức cô độc Gorki và Bretch cũng là như vậy. Gorki quen thuộc và đích thân tham gia đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, ông là người tạo dựng cuộc đấu tranh đó và đời sống của nông dân nghèo khổ. Kịch thời đại của người cộng sản Bretch giống như phong trào “Bão táp và xung kích” mang một luồng sức xung kích, nhưng bão táp của ông là quét sạch mọi bão táp, xung kích của ông là xung kích của giáo dục, ánh sáng của giáo dục tràn đầy hiệu quả gián cách. Bởi vậy, chỉ có thông qua ánh mắt sáng tỏ của chủ nghĩa Mác, phân tích thấu suốt, thủ pháp phê phán và không tưởng mới có thể khiến văn học nắm bắt được hiện tại, từ đó mà nắm được quá trình trên văn học. Đương nhiên thứ phân tích thấu suốt đó quyết không thể giảm xuống thành đèn chỉ đường giản đơn, chiếu sáng một kế hoạch năm năm. Ngược lại, nó khiến quá khứ, thậm chí hiện tại đều thường xuyên tồn tại phê phán và không tưởng thoát ly tính trực tiếp; do thế sản sinh - một thứ sức sáng tạo của tiềm lực đã được sự chứng minh - tụng ca ngày nay.


TỪ NGÀY HÔM NAY NHÌN “HIỆN TẠI” TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC


Nhưng, biểu hiện nghệ thuật ngày nay tại sao khó khắc phục khó khăn do khoảng cách quá gần tạo thành như vậy? Tại sao tác phẩm thành công đời sống hàng ngày, thậm chí miêu tả ngày lễ của chúng ta không nhiều? Tại sao tác phẩm thời đại phản ánh một cách thành công xã hội đương đại - xung đột của nhân loại, dù cho phản ánh xung đột không có tính đối kháng cũng không nhiều? Nếu nói, tác phẩm có ý nghĩa quan trọng ở quá khứ thưa thớt như sao buổi sớm, thế thì hoàn toàn có thể tin tác phẩm miêu tả tình yêu vĩ đại lại vẫn không là ít ỏi như vậy. Nhưng ngày nay ngay cả tác phẩm tạm được cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, thậm chí so với kỳ vọng của quan phương, hoặc nên nói, mệnh lệnh cùng công bố với những nguyện vọng đó gây tác dụng tê liệt. Bởi vì ở đây, cá tính của nhà nghệ thuật bị trói buộc nghiêm khắc, chúng ta có thể đem thứ gò bó này coi thành một thứ giám đốc, giống như bản thân nhà đương cục không thể tự tay viết, liền dựa vào quy định kiềm chế cực độ nhà văn cần phải viết cái gì. Nhưng từ xa rộng để nhìn, lấy cái đó để thuyết minh nhược điểm hiện tồn tại của nhà nghệ thuật là không đủ. Trong mắt người xã hội chủ nghĩa đã có một mục tiêu nghiêm túc, phong phú, sáng rõ, dĩ chí ông ta hoàn toàn từ cái nhìn hôm nay để nhìn thấu ngày hôm qua không có tính vĩnh hằng, cho nên ông ta càng không cần cái không thành thục, chỉ cần nhận thức đối với bản chất và phi bản chất. Bởi vì chỉ cần một thời đại ở vào trong kiến thiết, thế thì, bất luận nó về thể chế lạc hậu bao nhiêu, nó vẫn có thể gọi dậy hứng thú cực lớn đối với tiến hành mô tả tự thân, cũng tức là nói gọi dậy một thứ xu hướng và nâng cao trước chưa từng có, do bởi trước đây đã có tác phẩm thời đại và tiểu thuyết thời đại thành công nhiều như vậy, cho nên chúng ta vừa bắt đầu liền nêu ra vấn đề này, tức, nhà văn cần phải có lập trường gì, tình huống hiện thực đương thời có những đặc điểm nào đáng được coi trọng, dĩ chí đi sâu vào trong cảnh càng có thể chắp thêm cánh cho tác phẩm? Chúng ta vừa một cách tóm tắt nêu ra lập trường, đặc tính (như phúng thích, phê phán và không tưởng nhân đạo), mượn cái đó để trả lời câu hỏi này. Hiện giờ, chúng ta có thể đem câu hỏi này đảo ngược lại; tức hình thức nhợt nhạt của tiểu thuyết thời đại hiện nay có phải là tạo thành do thiếu nhân tố thi hành hữu hiệu thời gian dài, thiếu kích thích tố của biểu đạt hay không? Nhưng, văn học đương đại có một thứ đặc tính nắm bắt được thế giới, thứ đặc tính đó trước đây chưa từng phát sinh tác dụng, đó là phép phân tích hoàn cảnh và nghiên cứu khuynh hướng biện chứng kinh tế của chủ nghĩa Mác cùng với căn cứ cuối cùng có thể lý giải - thời đại hiện nay, cho nên hai thứ phương pháp phúng thích, phê phán và không tưởng nhân đạo nếu có thể một cách trọn vẹn đứng chân ở hiện thực, thế thì, chúng trên văn học cũng nhất định càng thêm hữu hiệu, càng có thể nắm vững hiện thực so với bất kỳ thời điểm nào trước đây.


Đương nhiên, chỉ từ khoảng cách quá gần để nói, nó vẫn là tạo thành khó khăn. Dù cho không có bất kỳ cái gì làm trở ngại đến cái đang hình thành trong khoảng cách gần, dù cho chúng ta có nhãn lực rất tốt, cố hết sức nhìn vấn đề một cách thực sự cầu thị, tình huống cũng sẽ không tốt bao nhiêu. Từ nhận thức luận thuần túy để nói, “lúc này nơi này” vẫn là cái trực tiếp tự nhiên, dù cho cái trực tiếp đó chứa đựng nội dung rúng động lòng người nhất, giàu tính khơi gợi nhất, ở thời điểm này, nó cũng vừa vặn là cần đặc biệt xử lý thận trọng tỉ mỉ. Oedipe là người có trí tuệ nhất, ông ta giải được câu đố của con Sphinx, câu đố đó là dính dấp đến người chung chung, mà chưa dính dấp đến người hiện đang sinh tồn hoặc đứng ở trước mắt. Nhưng, dù là Oedipe đó, coi là cá nhân sống sờ sờ, ông ta biết ông ta cùng mẹ ông ta kết hôn, vừa vặn là thứ đặt mình vào cảnh này, thứ khoảng cách quá gần này, mà không chỉ là sự rúng động của nội dung khiến ông ta khó lý giải đối với cái đó. Biểu hiện thời đại hiện nay đã không dùng nỗ lực lớn lao bỏ ra giống như Oedipe nữa, bởi vì dù cho giống như Ibsen nói, sáng tác văn học là thẩm phán đối với mình của nhà văn, nhà văn vẫn có thể không giống như Oedipe cùng hình tượng của sáng tác của bản thân ông ta hợp hai làm một. Xin hãy xem bức tranh thời đại trong thời đại này! Dù cho Thomas Mann là một nhà văn hiện thực phê phán nổi tiếng (hoặc giả là một nhà hiện thực chủ nghĩa giai cấp tư sản), nhưng khi nắm bắt “thời đại hiện nay”, nhà văn thận trọng này trong Núi thần và Bác sĩ Faustus một cách cẩn thận kỹ càng biết bao thiết trí một thứ khoảng cách thấu thị, hoặc có thể nói, một thứ mê hồn trận, ông ta đặt bao nhiêu mai phục! Cuốn sách trước tả một viện dưỡng lão tọa lạc cao cao trên núi, cách xa nguy hiểm sắp sửa đến; cuốn sách sau, sáp nhập vào một cuốn nhật ký, nó dùng phương thức khéo léo đặt chân tới sự kiện sống sờ sờ xảy ra sau đó, đặt chân tới hai thời đại đan bện với nhau, cũng tức là thời đại của ông Zeitblom và thời đại của Andream Lowenkuhn([15]) lên sân khấu biểu diễn. Ngoài ra, tác giả còn hữu ý thêm vào thời đại thứ ba, cũng tức là thời đại của độc giả về sau. (Tham khảo chương 25 Bác sĩ Faustus. Đó là thủ pháp hữu ý sử dụng hoặc khoảng cách thấu thị. Đương nhiên đối với một nhà văn bảo trì khoảng cách nhất định như Thomas Mann để nói, thứ thủ pháp đó quyết không phải là quan trọng. Thứ tính hiện thực đó không thể trực tiếp đem sản phẩm của nó và địa điểm xác định nói cho độc giả biết, bởi vậy nó cần rất nhiều vịnh cảng trung chuyển, cần một thứ phương thức gián tiếp đó là cái thường thấy cũng có thể là cái cần thiết trong tác phẩm quyết không miêu tả thời đại. Ngôn ngữ của Thomas Mann là đặt mai phục, chủ yếu là Đức ngữ kiểu Martin Luther([16]) trích dẫn kinh điển, cái dùng là phương thức biểu đạt kiểu gothic thời kỳ sau, để biểu hiện sự lãnh đạm, cao ngạo và suy đồi trong hiện thực. Cái đó còn chứng tỏ, tác giả dùng bao nhiêu tiếng vọng, thậm chí vượt hơn tiếng vọng của thành Vineta([17]), để toàn lực biểu hiện cái hiện đại, chí ít là quan điểm của một đoạn thời kỳ sau và thời kỳ thành thục của giai cấp tư sản. Nếu nói, ở đây thiếu lực lượng xã hội tiên tiến, thế thì, so sánh với những tiểu thuyết có ý đồ trực tiếp miêu tả đương đại, tác phẩm khiến người kinh ngạc của Thomas Mann lại miêu tả một cách càng sát đúng trạng thái phiêu bạt không nơi nương tựa của thời kỳ quá độ. Tuy phán đoán đối với lực lượng xã hội tiên tiến trong những tiểu thuyết thời đại đó là tuyệt đối chính xác - ngay cả nghệ thuật vĩ đại của Anna Seghers cũng là như vậy, nhưng một phương diện khác, đối với trạng thái phiêu bạt không nơi nương tựa, đối với ánh sáng le lói giữa đêm đen và ban ngày có thể tới, chúng lại không thể tiến hành phán đoán công bằng. Từ góc độ thuyết duy vật lịch sử để nhìn, “hiện tại” có rất nhiều cái bản thân là tạm thời, từ góc độ văn học để nhìn, nó giống như ở tự thân chứa đựng rất nhiều cái đặc thù, cái đó cũng thích hợp với những hoàn cảnh ấy, tức có lợi cho sản sinh phản ánh diện mạo thời đại đích thực, tuyệt đối không bị hoàn cảnh quấy nhiễu. Từ phương pháp để nói là như thế này: một tiểu thuyết phản ánh đương đại, phương thức thành công của nó là: đứng trên bình diện khác nhau trong khoảng cách nhất định thông qua phản ánh cực kỳ đan xen phức tạp mà có được thành công. Cái đáng nhắc đến là: so với đem một thời đại suy đồi thành thục, dù cho được sự miêu tả thấu triệt miêu tả thành thời đại đang lên mang tác dụng cản trở mê người, biểu hiện đương đại còn dễ dàng hơn nhiều. Nhưng trước đây biểu đạt, phản ánh đời sống hàng ngày lại bất tất phải lo lắng nhiều. Từ nóc nhà ném xuống một cái nhìn phê phán - kiểu không tưởng, cái đó không chỉ đủ nhìn thấy chỗ xa, mà còn có thể nhìn thấy một cách rõ ràng cái ở chung quanh nhà. Nhưng ngày nay, cái đó rõ ràng là làm không xong. Mà còn nếu nhiều lần nhấn mạnh, không phải là do khu biệt giữa nhà văn lớn và nhà văn nhỏ (bởi vì trước đây cũng có rất nhiều nhà văn nhỏ mạo hiểm lên nóc nhà) tạo thành thứ tình huống đó. Có người đề cập đến nguyên nhân kiểm duyệt sách báo, nhưng chế độ kiểm duyệt sách ở thời đại phong kiến phản động so với hiện tại còn khắt khe hơn nhiều. Một phương diện khác, dựa theo quan điểm của Marx, chủ nghĩa tư bản cùng nghệ thuật và văn học cũng là đối địch lẫn nhau. Trong mặt trận tiên tiến ngày nay vẫn không sản sinh nhà văn quan trọng như thời kỳ hưng thịnh của chủ nghĩa tư bản. Nhưng, từ góc độ cách mạng để nhìn, “hiện đại” trên ý nghĩa càng sâu sắc, lại cung cấp tài liệu thô phong phú giúp cho dẫn dụng. Đương nhiên, những tài liệu thô đó là cung cấp cho những môn đồ trẻ của Apollo và người vừa mới xuất hiện, mà không phải là cung cấp cho người tầm thường. Khác với hoàn cảnh thời đại phơi phới đi lên thậm chí suy đồi hư vô, ở đây biểu thị rõ lập trường xã hội chủ nghĩa mê người. Đương nhiên, chính là do thiếu thứ lập trường đó tạo thành: tiểu thuyết phản ánh đương đại chỉ là xã luận có mang tình tiết (có một số nhà văn thiên tài hỏi như vậy). “Hiện tại” phong phú nhiều vẻ bị thực tiễn văn học phong bế một cách không thỏa đáng và nạp vào hình thức của nó, dù cho trên lý luận của chủ nghĩa Mác, kính viễn vọng và kính hiển vi cố hết sức thống nhất với nhau, đặc biệt là về kính viễn vọng, chủ nghĩa Mác nói cho chúng ta biết sử dụng nó như thế nào, để tiện dùng chặng nhìn lớn nhất, cũng tức là dùng tri thức của khuynh hướng để nhận thức hành tinh trái đất này của chúng ta. Người ta sẽ hỏi, đối với “hiện tại” chọn lựa hành động cụ thể, cái đó sẽ mang lại cho nhà văn ích lợi gì? Người ta sẽ kỳ vọng, từ chủ nghĩa Mác ra đời đến nay, nhận thức đối với vận động hiện thực và phép tắc khuynh hướng có sự giúp ích cho những nhà văn sử dụng phương pháp mang phê phán tượng trưng và không tưởng nhân đạo trừu tượng trước đây, thế thì, cái đó nên quy tội ở phản ánh của giai đoạn hiện nay nắm bắt chưa đủ đối với tiền đồ, mệnh lệnh của quan phương cũng thúc đẩy thành thứ nhược điểm này. Do bởi nhận thức chưa rõ đối với tiền đồ, thế thì phê phán đối với hoàn cảnh chung quanh sẽ yếu đi, còn cái ảo tưởng không phải là thể hiện ra một cách cụ thể, mà là đi tới mặt trái đặc thù nhất của nó - mỹ hóa tùy ý (dùng phương thức hoàn toàn phi hiện thực). Rõ ràng, chủ nghĩa Mác quyết không đề xuất tiền đồ đặc thù nhưng do ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác dung tục lại hoàn toàn trở ngại cho đề xuất vấn đề đó. Ở phương Tây, nghệ thuật hoàn toàn không miêu tả tương lai, người ta đem lĩnh vực của Muses - dù là thoải mái, hay là dễ chịu - chỉ coi là không gian bi ai. Bởi vậy hiện đương đại, thời kỳ quá độ đặc thù này, đầu tiên thiếu tiền cảnh, thiếu đặc tính văn học đích thực. Những phương pháp đề cập đến ở trên và những phương pháp không thể tránh khỏi hoặc vẫn là cần thiết một cách rõ rệt sa vào mục đích của tự thân, và còn nhân thế mà được ca ngợi. “Đây là Rhodos, ở đây hãy nhảy đi!”. Câu danh ngôn sang sảng mạnh mẽ đó thích dụng với mỗi một thứ sản xuất, mỗi một thứ miêu tả cụ thể đối với hiện tại, bởi vậy đặc biệt thích dụng với văn học. Nhưng vừa vặn là hiện đại xã hội chủ nghĩa có đặc tính từ trong hiện thực nhìn xa tới tương lai.


(Dịch theo “Tập bình luận văn học” của Bloch)


 


Evnst Bloch (1885-1977): nhà triết học nổi tiếng Mácxít “Mới”, nhà mỹ học, nhà phê bình văn học Tây Đức. Thời kỳ đầu học triết học, âm nhạc, tâm lý học, vật lý học. Thời thanh niên thông thuộc trứ tác của Marx, Engels, Bebel, Luxemburg, yêu chuộng triết học cổ điển Đức và văn học. Ông cùng Lukacs kết tình bạn có ý nghĩa to lớn. Cuốn sách Tinh thần không tưởng của ông, dùng “phương pháp tư duy văn xuôi” đem chính trị học, siêu hình học, mỹ học nhào trộn với nhau. Đầu những năm 30 thế kỷ 20, ông thành đại biểu dùng quan điểm Mácxít bảo vệ phái hiện đại và phái tiên phong, chủ trương nhiều thứ hình thái của văn học, mỹ học, âm nhạc. Thời kỳ đại chiến thứ hai lưu vong sang Thụy Sĩ, Mỹ. Năm 1949 trở về Đông Đức. Năm 1961 khi dạy học ở Tây Đức đề xuất tị nạn chính trị, ở lại Tây Đức. Tác phẩm tiểu biểu về mỹ học và phê bình văn học có Tập bình luận văn học, Di sản của thời đại hiện nay, Dấu chân.


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info







([1]) Freitag (1816-1895): nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch, nhà lý luận kịch Đức.




([2]) Immermann (1796-1840): nhà tiểu thuyết Đức.




([3]) Herweghs (1817-1875): nhà thơ trữ tình Đức thời kỳ cách mạng Đức 1848.




([4]) Raabe (1831-1910): nhà tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa nổi tiếng Đức.




([5]) Munchhausen (1839): tiểu thuyết dài của Immermann.




([6]) “Wilhelm Meister”, là tiểu thuyết nổi tiếng của Goethe, bao gồm Những năm học tập của Wilhelm Meister (1795-1796) và Những năm lang thang của Wilhelm Meister (1821-1829).




([7]) Keller (1819-1890): nhà thơ và nhà tiểu thuyết nổi tiếng Thụy Sĩ.




([8]) Musil (1880-1942): nhà tiểu thuyết phái thực nghiệm, nhà viết kịch Đức.




([9]) Novalis (1772-1801): nhà thơ và nhà văn xuôi quan trọng của phái lãng mạn thời kỳ đầu Đức.




([10]) Heinrig von Ofterdingen là một bộ tiểu thuyết dài Novalis chưa hoàn thành. Cái đó là ông chuyên để phản đối Wilhelm Meister của Goethe mà viết.




([11]) Tasso và Antonio là hai nhân vật trong kịch bản Theodore Tasso của Goethe, người trước là nhà thơ cung đình, người sau là đại thần cung đình. Tranh luận của hai người họ phản ánh cách nhìn khác nhau đối với công dụng của nghệ thuật.




([12]) Nàng Mê và ông già đánh đàn thụ cầm là hai nhân vật trong Wilhelm Meister. Họ là nghệ nhân hát rong đến từ tầng lớp dưới xã hội.




([13]) Juvenal (60-140), nhà diễn thuyết và nhà văn phúng thích nổi tiếng La Mã.




([14]) Martin Salante: là nhân vật chính trong tiểu thuyết cùng tên của Keller. Bộ tiểu thuyết này là một tác phẩm cuối cùng của Keller, nó nói với mọi người: sự phát triển của chủ nghĩa tư bản uy hiếp nền dân chủ của Thụy Sĩ.




([15]) Zeitlom và Andream Lowenkuhn là hai người trong Bác sĩ Faustus, người trước là tiến sĩ triết học, người sau là nhạc sĩ. Sau khi nhạc sĩ chết, Zeitblom viết cho anh ta cuốn ghi chép hồi ức. Toàn thể tiểu thuyết là sự nhớ lại của Zeitblom đối với người bạn đã chết của ông ta.




([16]) Martin Luther (1483-1546): nhà cải cách tôn giáo thế kỷ 15 ở Đức. Ông dịch Kinh Thánh, tiến hành cống hiến quan trọng đối với việc quy phạm hóa Đức ngữ.




([17]) Vineta: thành phố đã chìm xuống đáy biển trong biển Polo.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
xem thêm »