tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682467
Lý luận phê bình văn học
13.09.2009
Hoài Anh
Theodor W. Adorno. Cảnh ngộ của người kể chuyện trong tiểu thuyết đương đại

Tôi muốn từ phương diện hình thức để bàn về trạng huống của tiểu thuyết đương đại, nhưng không thể không đem đề tài diễn giảng rút gọn trong thời gian rất ngắn, dù cho đòi hỏi đó có phần thô bạo, tôi vẫn rất phục tùng. Bởi vậy, chỉ nhón ra một yếu tố để bàn. Cái tôi muốn nói điểm thứ nhất là thái độ của người kể chuyện của tiểu thuyết. Ngày nay thái độ đó tỏ ra hết sức mâu thuẫn: người kể chuyện trên thực tế không kể câu chuyện, mà hình thức của tiểu thuyết vẫn đòi hỏi kể câu chuyện. Tiểu thuyết là một thứ hình thức văn học độc đáo xuất hiện thời đại thị dân. Mà thời kỳ trong nôi của trưởng thành của tiểu thuyết, Don Quixote có được kinh nghiệm châm biếm thế thái. Thành tựu duy nhất của tiểu thuyết tồn tại lại tức là công năng châm biếm thế thái bảo tồn lại. Bản thân tiểu thuyết liền nội hàm chủ nghĩa hiện thực, dù cho là tiểu thuyết căn cứ vào tài liệu thô để ảo tưởng, cũng vẫn là hết sức muốn kể chuyện được giống như tất cả đều được khơi gợi từ đời sống thực tế. Phương thức biểu hiện kể câu chuyện của tiểu thuyết mãi đến thế kỷ 19 còn là không thể nào chê trách, nhưng ở ngày nay, do thứ phương pháp đó xảy ra phát triển mạnh mẽ, xuất hiện cực đoan, nó trái lại không được người ta tín nhiệm nữa. Xuất phát từ góc độ của người kể chuyện, mang đến chủ nghĩa chủ quan, thứ chủ nghĩa chủ quan đó một chút cũng không chịu đựng nổi những tài liệu thô không thân thích quen thuộc. Chính do như thế, nó cũng đào móng tường đối với giới luật kể chuyện khách quan. Ở ngày nay, người nào còn muốn giống với người đầu tiên viết tiểu thuyết chìm đắm ở cái khách quan, tìm kiếm hiệu quả của cái dựa vào lời rườm rà và miêu tả kỹ những cái quan sát được một cách không chút đảm thức, người đó tất nhiên sẽ chỉ chế tạo ra hàng mẫu công nghệ. Loại tác phẩm đó chế tạo lời nói dối, che giấu sự bậy bạ của thế giới này, nó muốn người ta đem lòng yêu để khuất theo thế giới này. Loại tác phẩm đó nên chịu trách nhiệm đối với những lời nói dối, mà còn nó cuối cùng cũng tụt xuống làm tác phẩm thô tục loại nghệ thuật quê mùa không ai chịu nổi. Đối với cảnh ngộ của người kể chuyện của tiểu thuyết để nói, cái càng bất lợi là, văn học báo cáo và môi giới của công nghiệp văn hóa (kulturindustrie) (như điện ảnh) khiến tiểu thuyết mất đi rất nhiều đối tượng miêu tả trên truyền thống thuộc về nó, giống như nhiếp ảnh hội họa mất đi rất nhiều đối tượng miêu tả trên truyền thống thuộc về nó vậy. Tiểu thuyết không thể không tập trung sức chú ý vào phương diện mà báo cáo thông tấn không có cách nào bì kịp. Khác với hội họa, đối với tiểu thuyết mà nói, phải thoát ra khỏi sự trói buộc của điều kiện khách quan, mấu chốt là ở ngôn ngữ, chính là ngôn ngữ bức khiến tiểu thuyết đem tin thông tấn hư cấu. Cho nên, tiểu thuyết của Joyce tạo chủ nghĩa hiện thực, trái lại, là liên hệ ngược với ngôn ngữ tạo kiểu thức đàm thoại.


Muốn dùng thái độ hoành hành ngang ngược của chủ nghĩa cá nhân thanh cao để ngăn cản thứ thí nghiệm đó của tiểu thuyết rất có thể là hết sức đáng thương. Kinh nghiệm của người ta không có tính đồng nhất nữa. Đời sống cấu thành lập trường của người kể chuyện vốn tự thân bảo trì tính liên tục và có chỗ biểu hiện mình, hiện giờ thứ đời sống đó đã tan rã. Mọi người không khó tưởng tượng thấy, một người từng trải qua chiến tranh, còn sẽ kể lại từng trải của mình giống người trước đây kể chuyện kỳ ngộ của mình, đó là căn bản không có khả năng. Kể chuyện ngày nay lý ưng ở người thực tế cảm thụ gặp phải lo lắng và nghi hoặc, dường như bản thân người kể chuyện có kinh nghiệm loại đó. Tưởng tượng một người nào đó ngồi ngay ngắn lại, “đọc một quyển sách có ích”, tưởng tượng loại như thế quá cổ lỗ vụng về. Đó không chỉ bởi vì độc giả không thể tập trung sức chú ý, mà còn cũng có nguyên nhân ở phương diện bản thân người kể và hình thức kể. Cái gọi là kể câu chuyện, liền phải nói ra một chút cái đặc biệt, nhưng cái đặc biệt đó vừa khéo bị thế giới thống trị tất cả, bị tiêu chuẩn hóa và bình quân hóa che lấp. Bất kỳ tác phẩm nào về nội dung tràn đầy ức tưởng chứng tỏ yêu cầu của người kể chuyện là ức tưởng, dường như tiến trình phát triển của thế giới về bản chất là mang cá tính, dường như cá thể nhân xung động và tình cảm của nó đã vận rủi tới nơi, gần như hủy diệt, dường như nội tâm của cá nhân trực tiếp có thể nảy ra được chút gì. Tác phẩm mang tính tự truyện làm sơ sài cẩu thả khắp chốn tràn lan, là sản phẩm tan vỡ của bản thân hình thức tiểu thuyết.


Tiểu thuyết tâm lý cũng chưa thể may mắn thoát khỏi nguy cơ mà tính khách quan của văn học gặp phải. Ở phương diện tiểu thuyết tâm lý, chính là loại tiểu thuyết này chiếm giữ một cách vững chãi, tuy nhiên không phải là một cách rất thuận lợi. Ngày nay đối tượng miêu tả của tiểu thuyết tâm lý cũng mất. Mọi người đã quan sát đầy đủ thấy: có một đoạn thời kỳ, do những người viết tin bài báo chí tranh nhau mê đắm ở thành tựu về miêu tả tâm lý của Dostoðevski, khoa học tâm lý, nhất là học thuyết phân tâm của Freud đã đi xa hơn phát hiện của các nhà tiểu thuyết nhiều. Người ta ra sức tâng bốc Dostoðevski, quay vòng chung quanh ông, nhưng đều không nói trên điểm nút. Từ tâm lý học của Dostoðevski mà nói, trên đặc trưng và bản chất nói đều là kiểu tư biện lý tính, mà không phải là chủ nghĩa kinh nghiệm. Kỳ thực, tiến bộ của ông vừa khéo cũng là ở đó. Cái đó quyết không phải là vật cụ tượng của tất cả hiện thực và tin tức có liên quan cũng như tính sự thực của nội bộ khoa học bị bài trừ ra ngoài nghệ thuật, do đó nghệ thuật không thể không chia đường với chúng, khiến mình đi miêu tả cái bản chất hoặc phi bản chất; không chỉ như vậy, quá trình đời sống xã hội đem bề ngoài của mình làm được càng ngày càng chặt kín, càng ngày càng cẩn mật không khe hở, như vậy nó liền dùng mạng che mặt bọc giấu bản chất của đời sống xã hội càng chặt. Nhân đó mà, tiểu thuyết nếu muốn trung thực với di sản hiện thực chủ nghĩa của mình, kể chuyện một cách như thực, thế thì nó cần phải vứt bỏ thứ chủ nghĩa hiện thực dựa vào tái hiện cái chính diện để giúp đỡ xã hội giở trò lừa dối. Các thứ quan hệ giữa người và người ngày nay đã biến thành kiểu vốn những quan hệ đó giống như dầu bôi trơn khiến đặc tính của con người có thể giống như máy móc vận chuyển trơn đều vậy, nhưng ngày nay toàn thể thế giới xuất hiện hiện tượng tha hóa và tự tha hóa, tất cả cái đó đều đòi hỏi nhà văn dùng ngôn ngữ để kêu cứu, ở phương diện này, tiểu thuyết so với rất nhiều hình thức nghệ thuật khác đều càng có năng lực và tư cách. Từ khi có tiểu thuyết đến nay, nói một cách sát đúng hơn, từ thế kỷ 18 đến nay, từ Tom Jones của Fielding đến nay, đối tượng miêu tả đích thực của tiểu thuyết là xung đột giữa con người sống sờ sờ và quan hệ xã hội căng thẳng. Như vậy, ở tiểu thuyết, bản thân tha hóa liền thành thủ đoạn có tính chất thẩm mỹ. Bởi vì quan hệ giữa người và người càng là xa cách, cá nhân và tập thể càng là tách rời, thì càng là một câu đố; thử nghiệm giải câu đố của đời sống bên ngoài (đó là xung động bản năng của tiểu thuyết) liền sẽ chuyên vào nỗ lực thăm dò bản chất của đời sống xã hội. Do bởi bản chất của đời sống vừa khéo ở vào các thứ trói buộc của tập tục, đã là ở trong sự xa lánh hóa mà người ta quen nên cho là thường, nhân đó mà tỏ ra càng xa lánh gấp bội khiến người kinh hãi. Thứ yếu tố phản hiện thực chủ nghĩa (antirealistische) của tiểu thuyết loại hình mới, cũng tức là phương diện siêu hình học của nó vốn là do đối tượng hiện thực của nó - tức xã hội tạo thành. Trong xã hội đó, người và người, người và bản thân mình bị tách rời ra. Trong thứ tính siêu nghiệm của thẩm mỹ đó của tiểu thuyết, châm biếm đối với thế thái liền khúc xạ ra.


Nhưng thứ tính siêu nghiệm đó quyết không dẫn tới hứng thú và chú ý của nhà văn, nguyên nhân của nó có thể là, phàm ở phương diện thăm dò siêu hình học trong tiểu thuyết, trên hình tượng tạo dựng đều không thể đạt tới mức tốt nhất, giống như tiểu thuyết dày công chế tác của Hermann Bloch vậy. Do đó, tiểu thuyết về hình thức liền sản sinh chuyển biến lịch sử, tiến vào lĩnh vực của tính cảm thụ siêu mẫn cảm của nhà văn, điểm đó từ trên căn bản quyết định đẳng cấp của nhà văn, quyết định trên trình độ lớn nhất có thể thành thước đo để phán đoán yêu cầu cái gì và bài xích cái gì. Trên tính cảm thụ nhạy bén đối với hình thức kiểu báo cáo thông tấn, Proust là không ai có thể so sánh nổi. Tác phẩm của ông đi theo truyền thống của chủ nghĩa hiện thực và tiểu thuyết tâm lý, thuận theo tuyến đường này phát triển đến chủ nghĩa chủ quan cực đoan, ông không kế thừa chút nào truyền thống lịch sử của người Pháp, và trực tiếp truyền đưa cho Nil Lawler của Jakobson và Vở ghi của Malte Lauris Bridge của Rilke càng là đi theo một cách nghiêm nhặt thứ chủ nghĩa hiện thực bên ngoài, càng là thoát ra khỏi dạng “vốn dĩ là như vậy”, mỗi một từ đều sẽ biến được càng thêm hàm hồ không rõ, sự đối lập giữa yêu cầu của tác giả và cái vốn dĩ không phải là như vậy càng nghiêm trọng. Nhà văn tự xưng là biết một cách rõ ràng hiện thực là trôi qua mất như thế nào, và đem điểm đó coi làm yêu cầu cố hữu bên trong cần thiết để hết lần này đến lần khác nhấn mạnh. Mà chính là yêu cầu đó cần phải được gạt bỏ, Proust đem tính kỹ lưỡng đẩy vào trong mộng ảo, vận dụng một thứ kỹ xảo hết sức vụn vặt, câu nệ vào việc nhỏ nhặt khiến chỉnh thể sống sờ sờ của con người ở bên dưới nó phân rã thành nguyên tử. Nỗ lực đó vừa không thể vượt khỏi phạm vi truyền thống của hình thức, vừa biểu thị ra thân phận độc đáo của mình, nhân đó mà là nỗ lực khéo léo độc đáo của cảm quan (Sensorium) thẩm mỹ. Dùng phương thức báo cáo thông tấn đem cái không chân thực làm thành giống như chân thực vậy, xem ra Proust xưa nay không từng làm. Bởi vậy, tiểu thuyết kiểu tuần hoàn của ông dùng hồi ức trẻ thơ đi ngủ mở đầu. Đứa trẻ trước lúc thức dậy không được cái hôn của người mẹ xinh đẹp của nó lẽ phải ban cho để khiến nó ngủ yên, nó lâu lâu không thể chợp ngủ, toàn thể tập thứ nhất chỉ vây quanh điểm đó triển khai. Có thể nói như thế này, Proust tạo thành một không gian bên trong, khiến ông may mắn thoát khỏi lỡ chân trong thế giới xa lạ hóa, ông dùng một thanh điệu hư ảo biểu hiện mình, mà thanh điệu đó lại là cái mỗi một người đều quen thuộc. Ông nhờ vào thứ kỹ xảo độc bạch nội tâm mà người ta thông thường nói, thế giới xa lạ hóa bất tri bất giác liền bị kéo vào trong không gian bên trong, những sự kiện xảy ra ở thế giới bên ngoài biến thành giống như lắp bắp nói dưới mí mắt của người chợp ngủ. Dùng một đoạn nói một mình của nội tâm, một đoạn thành phần dòng ý thức để phòng chống sự phản bác của trật tự thời không khách quan, tác phẩm kiểu Proust phần lớn đều là dốc sức đem gác lại thứ trật tự thời không khách quan đó.


Năm 1965


(Dịch theo “Bút ký văn học” của Adorno, quyển 1)


 


Theodor W. Adorno (1903-1969), nhà triết học, nhà mỹ học, nhà phê bình văn nghệ, nhà xã hội học văn nghệ, nổi tiếng văn học đương đại Tây Đức, một trong những nhân vật đại biểu của triết học và mỹ học Mácxít Mới phương Tây.


Ông ra đời trong một gia đình lái buôn rượu ở Frankfurt, năm 1933 do luận văn Kierkegaard, cấu tạo của cái đẹp, dành được học vị tiến sĩ. Thời gian dài làm việc phê bình âm nhạc và trứ thuật về mỹ học âm nhạc, sau nhận lời mời tham gia Sở Nghiên cứu xã hội Frankfurt, chuyển sang nghiên cứu vấn đề xã hội học thông thường và vấn đề triết học văn hóa, thành đại biểu trứ danh của học phái Frankfrur. Năm 1963, giữ chức Chủ tịch Hiệp hội xã hội học Tây Đức. Trứ tác lý luận văn nghệ có: Triết học của âm nhạc mới, Dẫn luận xã hội học âm nhạc, Lý luận mỹ học, Bút ký văn học ba quyển, Tam lăng kính: phê phán văn hóa và xã hội.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »