tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782924
Lý luận phê bình văn học
12.09.2009
Hoài Anh
Roland Barthes. Độ không của lối viết (1)

I. Thế nào là lối viết


Chúng ta biết, ngữ ngôn([1]) là do truyền thống và tập quán tổ thành, nó đối với tất cả mọi nhà văn của một thời đại đều là cộng thông. Đó tức là nói, ngữ ngôn (langue) giống như thuộc tính tự nhiên, là trong ngôn ngữ (parole)(2) của tác giả lộ ra một cách tự nhiên nhi nhiên, không thể phú cho nó bất kỳ hình thức nào, thậm chí không cho phép sửa sang bổ túc; nó giống như một vòng trừu tượng đến từ tồn tại chân thực, chỉ có ở ngoài vòng mới lắng đọng từng câu chữ tập trung một. Nó bao dung toàn bộ sáng tác văn học, giống như trời, đất và tiếp giáp trời đất là nơi nương ngụ loài người định ra. Nó tuyệt đối không phải là kho trữ tài liệu, mà thà rằng nó là một đường chân trời, cũng tức là nói, vừa là cực hạn, vừa là nơi lưu trú, một câu nói, là sự kéo dài có bảo đảm của một thứ bố cục. Ở đây, nhà văn đúng là không hấp thu được bất kỳ cái gì: ngữ ngôn (langue) đối với nhà văn càng giống như một đường giới tuyến, vượt khỏi nó cũng có thể sẽ đánh dấu ra thuộc tính siêu tự nhiên của hoạt động ngôn ngữ (langage)(3); ngữ ngôn (langue) là một thứ trường hoạt động, là hạn định và kỳ vọng đối với một thứ khả năng. Nó không phải là một thứ quy ước xã hội, mà chỉ là phản xạ không cần lựa chọn, là của cải chung của con người mà không phải là của cải chỉ nhà văn mới có; nó độc lập với trình thức văn học mà tồn tại; nó là thông qua hạn định mà không phải là thông qua lựa chọn mới thành là cái xã hội. Không có người nào có thể một cách không chuẩn bị đem tự do của người viết đẩy vào trong hỗn độn của ngữ ngôn (langue). Bởi vì, cái có thể xuyên thấu nó là toàn thể lịch sử một cách thống nhất toàn bộ dùng thứ phương thức tự nhiên nào đó tồn tại. Cho nên, đối với nhà văn, ngữ ngôn (langue) chỉ là đường chân trời của nhân loại, nó ở nơi xa xôi xây dựng thứ “quan hệ thân cận” nào đó, mà thứ “quan hệ thân cận” đó lại có tính chất phủ định; nếu nói cái mà Camus([2]) và Queneau([3]) dùng là cùng một ngữ ngôn (langue), đó chẳng qua là thông qua tác dụng phân hóa thiết tưởng tất cả mọi ngữ ngôn (langue) bất luận là của cổ đại hoặc của tương lai, mà những ngữ ngôn đó chính là cái nó không nói, ngữ ngôn (langue) của nhà văn là nổi ở giữa hình thức của cái phế bỏ và cái chưa biết, không phải là một thứ cơ sở, mà là một thứ cực hạn; nó là quỹ tích nhà văn khi biểu hiện, không thể không một chút sai sót, thí dụ như về chuyển mình của Orphée([4]), hàm nghĩa cố định của dáng bước của chàng và tư thế của bản chất chàng giao thiệp với người.


Ngữ ngôn (langue) là ngụ ở trong văn học như vậy. Văn thể lại không hạn ở đó: những hình tượng nào đó, thứ phương thức tự thuật nào đó và từ vựng sử dụng đều là xuất từ bản thân tác giả và quá khứ, mà dần dần biến thành tác dụng tự động của nghệ thuật của ông ta. Như vậy, dưới danh nghĩa văn thể, hình thành một thứ ngữ ngôn tự cấp tự túc, nó chỉ lẻn vào trong thần thoại ẩn bí của cá nhân tác giả, lẻn vào trong thứ á thể xác của ngôn ngữ, cấu thành đôi thứ nhất tổ hợp của chữ từ và sự vật, và còn một lần cho tất cả xây dựng nên thân từ cơ bản của thứ ngữ ngôn đó. Bất luận văn thể tinh vi thế nào, nó vẫn có cái nguyên thủy của nó, nó là một thứ hình thức không có mục tiêu dự định, là xung động mà không phải là sản vật của ý tưởng. Nó giống như thẳng góc mà không phải là mặt cô lập của tư tưởng. Nguồn gốc của nó dính dấp đến sinh vật học và mức của quá khứ mà không phải mức của lịch sử, văn thể là “cái” thuộc về nhà văn, là ánh sáng của ông ta, cũng là cùm xích của ông ta, là chỗ ở hẻo lánh của ông ta. Văn thể coi là bước khép kín của cá nhân, không liên quan với xã hội mà lại dễ bị xã hội nhìn rõ, nó tuyệt đối không phải là sản vật của lựa chọn và sản vật của suy nghĩ đối với văn học. Nó là bộ phận riêng tư của quán lệ, sản sinh ở chỗ thâm trầm của thần bí của nhà văn, vươn dài ra ngoài trách nhiệm của nó. Nó là âm trang sức của thể xác có máu thịt chưa biết và ẩn bí: nhu cầu ([5]) (Nécessité) là phương thức nó phát sinh tác dụng, giống như cành hoa nảy ra vậy, văn thể chỉ là một thứ biểu hiện biến hình mù quáng mà cố chấp, là một bộ phận của “ngữ ngôn hạ tầng” sản sinh trong hạn độ của xác thịt và của thế giới. Văn thể dựa theo bản ý của nó mà nói, là một thứ hiện tượng nảy ra, nó là lột xác của “khí chất”. Cho nên, ảnh xạ của văn thể bị vùi lấp sâu, ngôn ngữ lại có một thứ kết cấu mực nước, bí mật của nó và chữ từ mà nó sử dụng cùng ở trên một tuyến chuẩn mực, bộ phận mà nó che lấp được sự kéo dài của thời gian nói chuyện vạch rõ ra; khi nói chuyện, tất cả đều là cái có sẵn, tức thời lợi dụng, mà biểu đạt của câu chữ, im lặng và các loại động tác nhất tề ùa về một ý nghĩa đã phế bỏ: đó là di tình không lưu dấu vết lại không chút trì nghi. Văn thể lại hoàn toàn ngược lại, nó chỉ có một mặt thẳng góc, nó có thể lẻn vào trong hồi ức khép kín của cá nhân, xuất phát từ thứ kinh nghiệm thực tế nào đó, hình thành tính tối tăm của nó. Văn thể tuyệt đối không là cái gì ngoài ám dụ, cũng tức là nói, chỉ có thể là phương trình giữa ý hướng văn học và kết cấu thể xác của tác giả (cần phải nhắc nhở, kết cấu là kho của kéo dài thời gian). Cho nên, văn thể vẫn là một cái ẩn bí; mà tài liệu nó dính dấp đến lặng lẽ dốc ra là bản tính không dựa chắc vào linh hoạt đa biến của ngữ ngôn (langage) và cho phép không ngừng kéo dài biểu đạt; bí mật của nó là một ký ức khép kín trong thể xác nhà văn; công hiệu ẩn dụ của nó không phải là một thứ hiện tượng tốc độ (cái đó không giống với ngôn ngữ: không có lời nói ra chỉ là bổ sung của tạm thời ngưng nghỉ, tiềm tại trong ngữ ngôn (langage), mà không là hiện tượng mật độ. Bởi vì, cái tiềm phục sâu dưới văn thể, tụ hợp một cách sống sượng hoặc linh hoạt trong từ cách văn thể lại là mảnh đoạn hiện thực tuyệt đối khác với ngữ ngôn (langage). Thứ kỳ tích lột xác đó khiến văn thể biến thành một thứ “thao tác siêu văn học”, và đưa nhân loại tới trước ngưỡng cửa của sức mạnh và ma pháp. Từ nguồn gốc sinh vật mà nói, văn thể vị trí ở ngoài nghệ thuật, cũng tức là nói, đặt mình ở ngoài khế ước khiến nhà văn và xã hội liên hệ với nhau. Bởi vậy, có thể tưởng tượng, một số nhà văn đành lòng lựa chọn sự an toàn của nghệ thuật, mà không muốn có được sự cô độc của văn thể. Điển hình của nhà văn không chú trọng văn thể là Gide, ông dùng phương thức thủ công nghệ từ thứ khí chất tinh thần cổ điển chủ nghĩa nào đó khai quật ra tình thú hiện tại, rất giống Saint-Saens([6]) cải biên tác phẩm của Bach, hoặc Poulenc([7]) cải biên tác phẩm của Schubert. Ngược lại với cái đó, thi ca hiện đại - một loại thi ca của Hugo, Rimbaud([8]) hoặc Char([9]) lại tràn đầy sự êm đềm đẹp đẽ của văn thể, và còn chúng chỉ khi dính dấp đến thi ca, mới thành là nghệ thuật. Sự uy nghiêm của văn thể, cũng là liên hệ tuyệt đối tự do giữa ngữ ngôn (langage) và sự phục chế đối với xác thịt của nó, chính là nó bức khiến nhà văn giống như một làn khí thanh tân vượt lên trên lịch sử.


Như vậy đường mực nước của ngữ ngôn (langue) và đường thẳng góc của nó vẽ ra cho nhà văn một thứ thuộc tính tự nhiên, bởi vì, nhà văn vừa không thể lựa chọn cái này, vừa không thể lựa chọn cái kia. Ngữ ngôn (langue) coi là vật tiêu cực (négativité) khiến cực hạn mới đầu của khả năng phát huy tác dụng, văn thể lại là một thứ tất nhiên ngưng kết khí chất của nhà văn và ngôn ngữ của ông ta. Trong cái trước nhà văn tìm được quan hệ thân cận với lịch sử; mà trong cái sau, tìm được quan hệ thân cận với quá khứ của bản thân. Hai thứ tình huống này đều có liên quan với một thứ thuộc tính tự nhiên, cũng tức là một thứ động tác thân cận. Năng lượng của thuộc tính tự nhiên này chỉ đến từ lệnh thao tác, có khi dùng vào đếm số, có khi dùng vào chuyển đổi, nhưng vĩnh viễn không thể dùng vào bình phán, cũng không thể dùng vào biểu thị rõ một thứ lựa chọn.


Nhưng, bất kỳ một thứ hình thức nào, đồng thời cũng là một thứ giá trị; bởi vậy giữa ngữ ngôn (langue) và văn thể tồn tại một thứ hiện thực hình thức khác, đó tức là viết. Bất luận trong hình thức văn học như thế nào, vẫn có sự lựa chọn thông thường về tình điệu, khí chất mà nhà văn chính là khi làm việc lựa chọn, cá tính của ông ta mới biểu thị ra một cách hết sức rõ ràng. Ngữ ngôn (langue) và văn thể là một số điều kiện đã biết của các thứ đề khó có trước hoạt động ngôn ngữ (langage), ngữ ngôn (langue) và văn thể là sản vật tự nhiên của thời gian và Con người sinh vật; nhưng, thân phận chính quy của nhà văn chỉ có dưới tình huống không dựa vào quy phạm ngữ pháp và văn thể vĩnh hằng bất biến mới có thể xác lập một cách đích thực. Ở đây, liên tục của chữ viết đầu tiên tụ hợp và khép kín trong bản tính của nghiên cứu ngữ ngôn hoàn toàn thuần chân, lập tức biến làm một tổng tiêu chí, biến làm thứ lựa chọn hành vi nhân loại nào đó và thứ khẳng định cái thiện nào đó, đồng thời, như vậy khiến nhà văn làm việc chứng minh và giao lưu một hạnh phúc nào đó hoặc một sự không thoải mái nào đó, và còn đem hình thức ngôn ngữ vừa quy phạm vừa đặc thù của ông ta liên kết với lịch sử rộng rãi của người khác. Ngữ ngôn (langue) và văn thể là sức mạnh mù quáng; viết lại là một thứ hành động đến từ tính thống nhất lịch sử. Ngữ ngôn và văn thể là vật khách quan; mà viết lại là một thứ công năng: nó là giao lưu giữa sáng tác và xã hội, nó bị mục đích xã hội của nó cải tạo thành ngữ ngôn văn học, nó là hình thức dựa sát vào ý hướng nhân loại và còn gắn chặt với bước ngoặt quan trọng trên lịch sử. Nêu thí dụ để thuyết minh, Mérimée([10]) và Fénelon([11]) nhân một số bất đồng về biến hóa của hiện tượng ngữ ngôn (langue) và văn thể mà chia ranh giới, nhưng họ lại sử dụng hoạt động ngôn ngữ (langage) cùng một ý hướng, họ tham chiếu cùng một thứ tư tưởng về hình thức và nội dung, tiếp thụ sự chế ước của cùng một thứ tập quán. Họ là đất phát sinh phản xạ của cùng một kỹ thuật, dù cho cách nhau một thế kỷ rưỡi, họ vẫn có dáng vẻ giống nhau, sử dụng cùng một công cụ, cũng có thể nhìn từ bề ngoài hơi có sai biệt, nhưng từ tình cảnh ở vào và về phương pháp sử dụng, lại không có chút khu biệt nào: tóm lại, lối viết của họ là giống nhau. Ngược lại với cái đó, Mérimée và Lautréamont([12]), Mallarmée([13]) và Céline([14]), Gide và Queneau, Claudel([15]) và Camus cơ hồ có thể gọi là nhà văn cùng thời đại, dù cho họ từng nói và đang nói ngữ ngôn (langue) của chúng ta dưới trạng huống lịch sử giống nhau, nhưng lối viết của họ lại hoàn toàn khác nhau, bút điệu, phương thức tự thuật, mục đích, ngụ ý và tính chân thành của ngôn ngữ của những nhà văn đó đều đem họ từng người một khu phân ra, dĩ chí sự nhất trí của thời đại so sánh với sự giống nhau và đối lập như vậy của ngữ ngôn (langue) và lối viết chịu sự hạn định của bản thân thứ đối lập đó, đều là nhỏ nhặt không đáng kể.


Những lối viết đó tuy căn bản khác nhau nhưng cũng có chỗ có thể so sánh, bởi vì chúng sản sinh từ hoạt động cùng một tính chất, đó tức là suy nghĩ của nhà văn đối với sự vận dụng và lựa chọn xã hội của hình thức của ông ta. Ở vào trung tâm của vấn đề văn học (có vấn đề mới có viết); viết về bản chất là đạo đức của hình thức, cũng là lựa chọn của nhà văn tiến hành về bản tính của ngữ ngôn (langage) của ông ta nên đặt trên thứ không gian xã hội nào. Nhưng, nó tuyệt đối không phải là một thứ không gian xã hội lợi dụng hữu hiệu. Đối với nhà văn, vấn đề không phải ở lựa chọn quần thể xã hội và vì cái đó viết sách: ông ta hiểu rất rõ, thứ lựa chọn đó chỉ có thể dùng ở cùng một xã hội, trừ phi chờ đợi sự bùng nổ một cuộc cách mạng. Sự lựa chọn của ông ta là sự lựa chọn của lương tri mà không phải là sự lựa chọn của công hiệu. Viết của ông ta là phương thức suy nghĩ văn học mà không phải là phương thức mở rộng văn học. Tiến một bước nói chính là do nhà văn không sửa đổi nổi chút nào thành quả văn học khách quan cấp cho (những tài liệu thuần lịch sử đó ông ta bỏ sót mất, dù cho ông ta ý thức được điểm này), cho nên, ông ta mới một cách tự nguyện đem nhu cầu đối với ngữ ngôn (langage) tự do của ông ta dõi ngược đến ý nghĩa ngọn nguồn của nó mà không phải là trên kết quả của nó. Do thế xem ra, viết là một thứ hiện thực có thể tiến hành hai loại giải thích: một phương diện, viết một cách không thể biện bác, từ nhà văn và trong đối kháng xã hội mà ông ta ở vào sản sinh; một phương diện khác, xuất phát từ định cục của thứ xã hội đó, nó thông qua tác dụng di tình của tính bi kịch, đưa nhà văn trở về trong nguồn gốc của thủ đoạn sáng tác của ông ta. Lịch sử không thể cung cấp ngữ ngôn (langage) cho nhà văn tự do sử dụng, mà chỉ có thể đề xuất với ông ta một thứ nhu cầu bức thiết đối với tự do sáng tạo ngữ ngôn (langage).


Như vậy, lựa chọn của lối viết và trách nhiệm của nó liền minh xác đề xuất một thứ tự do. Nhưng, cực hạn của thứ tự do đó trong thời kỳ lịch sử khác nhau là không như nhau. Nhà văn quyết không hưởng quyền lợi lựa chọn lối viết của ông ta trong một thứ văn khố không có tính thời kỳ của hình thức văn học. Lối viết mỗi một nhà văn có thể vận dụng chỉ có dưới áp lực lịch sử và truyền thống, mới có thể xác lập một thứ lịch sử của lối viết tồn tại trên đời; nhưng, lịch sử đó là cái song trùng: khi lịch sử thông thường đề xuất - hoặc gán cho - một vấn đề ngôn ngữ (langage) văn học mới, lối viết vẫn là tràn đầy hồi ức đối với cách dùng đã quen trước đây, bởi vậy, ngữ ngôn (langage) quyết không tuyệt đối thuần chân; từ vựng có năng lực của thứ hồi ức thứ hai, nó có thể một cách thần bí thẩm thấu váo trong ý nghĩa mới. Nói một cách sát đúng, lối viết là chiết trung của một thứ tự do và một thứ hồi ức, chỉ có trong động tác của lựa chọn, mà không phải là trong kéo dài thời gian của nó, thứ tự do của hồi ức mới là cái tự do. Cũng có thể, ngày nay tôi có thể lựa chọn lối viết thế này hoặc thế kia, theo đuổi một thứ thanh tân hoặc một thứ truyền thống, và còn thông qua động tác lựa chọn đó xác nhận tư do của tôi; nhưng, tôi đã không thể trong một thứ kéo dài thời gian phát triển thứ tự do đó nữa, mà không cần dần biến thành nô lệ từ vựng của người khác sử dụng, thậm chí của bản thân tôi sử dụng. Một thứ hiện trạng đến từ tất cả mọi lối viết trước đây, thậm chí ảnh hưởng tàn dư ngoan cố của lối viết trước đây của bản thân tôi vẫn chụp lấy từ vựng của tôi. Mỗi một dấu tích của viết ra giống như một nguyên tố hóa học trước là trong suốt, thuần khiết và trung tính nhanh chóng lắng cặn, chỉ có sự vươn dài của thời gian có thể chầm chậm khiến toàn thể quá khứ nổi lên, và còn trình hiện ra một bộ mật mã càng thêm dày đặc.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info







([1]) (2) (3) Trong bài này, langue, langage parole đều là khái niệm quan trọng. Langue langage chúng tôi đều dịch là “ngữ ngôn”, nhưng hàm nghĩa có chỗ không giống nhau, khi xuất hiện trong bài phụ thêm nguyên văn để tiện khu biệt.


Ở đây, ngữ ngôn (langue) chủ yếu chỉ hệ thống ngôn ngữ cụ thể mà một thời đại nào đó có chung, là do cái ước định theo thói quen tổ thành.


Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng F. de Saussure cho rằng, nên đem ngữ ngôn (langue) và ngôn ngữ (parole) khu biệt ra, cái trước là tổng mô thức của ngôn ngữ tập đoàn ngữ ngôn, cái sau là hoạt động của lời nói cá nhân dưới thứ tình huống nào đó. Mà ngữ ngôn (langage) ở đây chủ yếu coi là một thứ thủ đoạn giao tế và biểu đạt tình cảm, cũng coi là ngữ ngôn thích hợp với ứng dụng của một phương diện nào đó, như ngữ ngôn thi ca. Về khái niệm này, nhà ngôn ngữ học nhân loại Mỹ E. Sapir (1884-1939) chỉ ra: Ngữ ngôn là phương pháp phi bản năng loài người riêng có, dùng hệ thống phù hiệu tùy ý sáng tạo ra tiến hành giao lưu tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng.


Ngoài ra một số nhà ngôn ngữ học như N. Chomsky v.v... cho rằng: ngữ ngôn là năng lực tiên thiên của người nói ngữ của dân tộc này lý giải và cấu thành câu hợp với ngữ pháp, là thoại ngữ thực tế nói ra trong một thời kỳ nào đó. – (Người dịch chú).




([2]) Albert Camus (1913-1960): nhà tiểu thuyết hiện sinh chủ nghĩa nổi tiếng hiện đại Pháp, nhà viết kịch và nhà phê bình, năm 1957 được giải thưởng Nobel văn học. Tác phẩm chủ yếu có “Người xa lạ” v.v...




([3]) Raymond Queneau (1903-1976): nhà văn học nổi tiếng Pháp, viện sĩ Viện Văn học Goncourt, tự xưng “công trình sư của tính hiện đại của văn học”.




([4]) Orphée, xuất từ thần thoại Hy Lạp, chàng là nhà thơ và ca sĩ của Xercès, tiếng đàn của chàng có thể khiến thú dữ cúi đầu, đá rắn gật đầu.




 ([5])  Trong bài này có một số chữ ở bản gốc  được nhấn mạnh bằng cách in hoa. Ở đây chúng tôi không in hoa, chỉ để ở dạng in nghiêng. Bên dưới, những chữ in nghiêng không phải đánh dấu tên tác phẩm là những chữ thuộc trường hợp này.




([6]) Saint-Saens (1835-1921), nhạc sĩ Pháp.




([7]) Françis Poulenc (1899-1963), nhà soạn nhạc Pháp.




([8]) Arthur Rimbaud (1854-1891), nhà thơ tượng trưng thời kỳ đầu Pháp.




([9]) René Char (1907-), nhà thơ đương đại, nhà bình luận văn học Pháp.




([10]) Prosper Mérimée (1803-1870): nhà tiểu thuyết nổi tiếng Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp, nổi tiếng vì văn thể giản khiết.




([11]) Fénelon (1651-1715): nhà văn nổi tiếng Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Tác phẩm của ông mang sắc thái văn hóa cổ đại, văn thể tinh tế hoa lệ.




([12]) Lautréamont (1846-1870): nhà văn tiên khu của chủ nghĩa siêu thực Pháp.




([13]) Mallarmée (1842-1898): nhà thơ phái tượng trưng Pháp.




([14]) Céline (1868-1961): nhà tiểu thuyết, nhà bình luận văn học hiện đại Pháp.




([15]) Claudel (1868-1955): nhà thơ nổi tiếng, nhà viết kịch Pháp, năm 1946 được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »