tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078285
Lý luận phê bình văn học
10.09.2009
Hoài Anh
Melville Fradman: DẪN LUẬN “DÒNG Ý THỨC” (3)

Văn học ở phương diện kết cấu có một thứ liên hệ tương đối phức tạp với nghệ thuật khác. Có một số tiểu thuyết từ một số phương diện rõ rệt để nhìn, là mô phỏng hình thức âm nhạc viết thành. Phú cách hoặc hình thức sonate, thông thường sở dĩ thường được sử dụng, là bởi vì hình dáng đoạn của chúng sáng rõ, chủ đề tương đối rõ ràng. Tiểu thuyết dòng ý thức, do phương diện khác thiên về âm nhạc, khi cần thiết thường thường muốn thử nghiệm một thứ hình thức âm nhạc trong hai thứ. Nhưng kết cấu suốt cả tiểu thuyết đều mô phỏng phú cách hoặc sonate vẫn là ít thấy. Bình thường chỉ dùng một bộ phận coi làm “vật hy sinh” thành tác phẩm có phong cách độc đáo. Một đoạn miêu tả yêu quái của biển dựa theo hình thức phú cách cấu thành, đem so sánh với bộ phận còn lại của Ulysses là như vậy.


Phương pháp xử lý nhiều loại nhiều dạng chủ đề khiến phúc cách trong văn học cũng biến hóa nhiều vẻ. Trong tác phẩm văn nghệ, liền chuỗi trước sau của nó chỉ là do vận dụng mấy thứ kỹ xảo âm nhạc. Giống như các thứ hình thức âm nhạc tương đối lớn khác, phú cách chỉ là phát triển của aba giản đơn nhất. Nhưng mỗi một đoạn của hai đoạn đều mỗi cái có hình thức nhất định. Tuyệt đại bộ phận của nó đều là dùng một chủ đề đơn nhất, hoặc giả là dùng thể tài đối vị, về kết cấu lấy “giai điệu chủ yếu” từ trung tâm mở rộng ra làm cơ sở, từ đó mà phát ra một chuỗi liền giai điệu kết hợp với các bộ phận khác.


Một hình thức âm nhạc dùng trên văn học có một số thành tích là sonate. Thứ hình thức đó giống với phú cách, kết cấu giản đơn: phân làm ba bộ phận thuyết minh, triển khai và lặp lại. Chỗ khác nhau chủ yếu của nó với phú cách, là sonate phải đem hai chủ đề đối tỉ dung hợp thành một chỉnh thể, mà không phải là đơn thuần dùng một chủ đề. Người ta hoặc giả nói, sonate và ẩn dụ trong thơ giống nhau, dùng để chuyên điều hòa chủ đề đối lập, hoặc không hòa điệu. Sonate, nói vắn tắt, đại thể có thể nói, có giai điệu chủ đạo thứ nhất, đối tỉ với giai điệu chủ đạo thứ hai và giai điệu chủ đạo kết lại. Nói cách khác, có sự triển khai của đề tài chủ đề, đến cuối cùng lại lặp lại câu kết.


Tuy trong văn học sonate không thường xuyên xuất hiện như phú cách. Nhưng, ám thị về sự tồn tại của nó trong văn học càng là rõ rệt. Yêu cầu giản đơn của sonate khiến những nhà phê bình đối với văn học và âm nhạc đều cảm thấy hứng thú đem công tác “tìm ảnh hưởng” coi làm sự luyện tập sinh động. Sonate cơ hồ khắp chốn đều có thể thấy. Ezra Pound đã phát hiện nó trong Ulysses. Có một số nhà phê bình nói trong Tonio Kroger của Thomas Mann cũng có. Thậm chí có người nói, trong Tình yêu của Swann của Proust cũng từng xuất hiện. Chúng tôi cho rằng, Tonio Kroeger tựa hồ còn nói được xuôi, đại khái bởi vì một đoạn lớn cuối cùng của nó là dùng cách làm câu kết chủ đề, nhắc lại một cách toát yếu tất cả mọi chủ đề của câu chuyện.


Nhưng, sonate tuyệt đối không giống như phú cách có thí dụ tương tự khiến người tin phục trong văn học. Có thể là nó ứng dụng quá tùy tiện, và còn không thể gánh chịu được áp lực nặng về tâm lý của tiểu thuyết dòng ý thức. Tính đa âm của phú cách, trong biến hóa nhiều chiều của nó bảo trì được cường độ thống nhất, nhất là lợi cho biểu hiện “toàn bộ” ý thức. Mỗi khi giai điệu chủ đạo thứ nhất và giai điệu chủ đạo thứ hai xung đột, cường độ của nó bất đắc dĩ nhường ngôi cho tính đa dạng, tâm tình của người bộc lộ ra cũng không phải là cái độc đáo duy nhất.


Tóm lại những điều kể trên, chúng ta lại không thể nhầm lẫn cho rằng có thể đem hình thức và kỹ xảo âm nhạc giản hóa thành danh từ văn học, mà lập tức dẫn dụng vào trong tiểu thuyết. Giai điệu chủ đạo cũng có thể như vậy. Một khi sử dụng thứ hình thức âm nhạc đích thực nào đó, đó chỉ có thể là gần giống, có thể coi là bồi bổ kèm theo, để chống đỡ áp lực nặng về kết cấu trong tiểu thuyết. Đó là sự cân bằng ngoài hạn mức cần thiết cho đại đa số tiểu thuyết dòng ý thức. Để khống chế tư tưởng tự trôi chảy, mô thức là rất cần thiết suy tính đến.


Do sự xuất hiện của dòng ý thức, thơ và tiểu thuyết kết hợp với nhau. Tiểu thuyết của phái Proust và Henry James, đại khái là vứt bỏ hình thức văn học cuối cùng của “văn thể sáng sủa”.


Nhà thơ phái tượng trưng muốn đưa thơ vào trong tất cả mọi lĩnh vực văn học, cái đó đã thành một khuôn vàng thước ngọc của họ. Trong số họ, có một người cũng tích cực đề xướng tiểu thuyết dòng ý thức đã nói: “Chúng tôi cho rằng đặc điểm chủ yếu của phong trào năm 1885, là đem sự linh hoạt của tư tưởng làm đối tượng của thơ, và âm nhạc hóa của thơ, của tính phi lý trí; và đột nhiên đem thơ thêm vào trong văn xuôi, đặc biệt là dùng trong tiểu thuyết...”. Cùng trong sách này ông lại nói: “Tất cả mọi tác phẩm hiện nay cho là xuất sắc đều sản sinh ra năm 1885. Từ năm 1885 trở về sau là thời kỳ thơ được giải phóng và phú cho ý nghĩa mới. Đồng thời, cũng coi làm đặc điểm của văn học đương đại, thời kỳ thi ca thắng lợi tiến vào tiểu thuyết”. Phái tượng trưng nhìn thi ca giống như bậc thầy ca kịch Richerd Wagner nhìn ca kịch vậy, người sau cũng là người kết hợp các nghệ thuật khác nhau.


Tác dụng của dòng ý thức và thơ hiện đại rất gần nhau. Cho nên sự kết hợp của thơ và tiểu thuyết loại này không kỳ quái chút nào. Hai thứ kỹ xảo thường dùng nhất - độc bạch nội tâm và ấn tượng cảm quan - để sản sinh hiệu quả mong đợi từ trước, già nửa dựa vào sức mạnh của thơ. Đối với độc bạch nội tâm, thứ khuynh hướng này hết sức rõ rệt. Từ trên sách mà nhìn, hình thức của nó rất dễ nói thành hình thức thơ không vần: lời nói được giản hóa đến trình độ giản đơn nhất về cú pháp. Sắp hàng văn tự cũng là hợp với tính chất của thơ, mà không phải là cái lôgích, cường độ của nó cũng giống với thơ; tư tưởng trong đó vĩnh viễn là đang trong tiến hành, cái đó cũng giống với thơ.


Chỗ mới lạ chủ yếu của độc bạch nội tâm, là ở nó có ý đồ ghi chép biến hóa thực tế của ý thức tư tưởng nhân vật - dựa theo trật tự của chúng, không dựa theo lôgích để thuyết minh chuyển biến của chúng - đem ảo tưởng không ngừng biểu đạt ra. Vận dụng thứ thủ pháp này, xem ra, thường thường càng gần gũi mục đích của thơ mà không phải là gần gũi với mục đích của văn xuôi. Mallarméc dùng lý luận “nhiệt thành đối với 24 chữ cái” của ông để đề xướng tính thuần khiết của ngôn ngữ thi ca, cho rằng thơ và văn xuôi mỗi cái có chương nhạc của nó, thơ và văn xuôi là căn cứ vào nguyên tắc thẩm mỹ không giống nhau. Chỉ có thơ mới có “trang nghiêm”. “Biểu đạt tư tưởng của văn xuôi tỉ như tên cứ nhằm bia bắn vào, mục đích của nó ở tính đồng thời, mà không phải ở tính liên tục. Dù cho đem quá trình rút gọn đến mảnh đoạn trên tinh thần, thích hợp với chủ đề, do nó phát triển trong thời gian giở đủ mọi trò, trăm phương nghìn kế lừa dối thời gian nhân đó mà không giống với từ cú của văn xuôi”.


Những đặc điểm đó đương nhiên đủ để chứng minh độc bạch nội tâm gần gũi với thơ hơn đối với văn xuôi - chí ít cách nghĩ của Mallarméc là như vậy. Chúng ta có thể không cần nhắc lại điệu cũ hiện nay đã thành câu nói cửa miệng của mọi người: tức là, thứ thủ pháp này là dựa vào tính đồng thời về quan niệm cùng phép đối vị của âm nhạc làm ra. Chúng ta còn nhớ, độc bạch của Benjy trong Âm thanh và cuồng nộ. Hiện quả của độc bạch của anh ta tức lấy tâm tình si ngây của anh ta hồi tưởng ra, tất cả những lời rườm rà về từng trải của bản thân. Đó là một thứ phép viết của phái ấn tượng, dựa vào tình cảnh rời rạc của tưởng tượng của Benjy - nhất nhất cùng bày ra, giống như đều đồng thời xảy ra ngay tại chỗ. Cái đó rõ ràng là hiệu quả Mallarméc muốn có được trong bài thơ Phần mộ của Charles Baudelaire. Bài thơ đó chỉ chiếm một câu nói trong cả bài thơ sonnet viết thành. Và còn chương pháp đặt kề nhau trong bài thơ đó quyết định kết cấu của nó: mỗi khi nhắc đến mộ của Baudelaire liền có ngoại cảnh coi làm cân bằng. Do đó mà, cảnh trí của nơi phần mộ phối hợp với ngoại giới thành một chỉnh thể. Cuối cùng, bài thơ này thành cách thức “tự xét mình”.


Bởi vậy, trong tiểu thuyết dòng ý thức đã xuất hiện độc bạch nội tâm và ấn tượng cảm quan, liền lập tức đánh dấu việc thơ và văn xuôi đã hỗn hợp với nhau. Độc bạch bán ý thức tựa hồ không như độc bạch vô ý thức có ý thơ, thứ giai đoạn chưa thành ngôn ngữ đó, tất nhiên càng chú trọng dựa vào kết quả của thơ. Dùng cực ít khống chế về luận lý, phù hiệu tiêu điểm sử dụng phần nhiều dựa vào “phân đoạn dài ngắn của hô hấp” về tình cảm, mà không phải là dựa theo đơn vị văn pháp.


Khi người ta nhìn thấy tiểu thuyết dòng ý thức quy mô loại như Ulysses và Âm thanh và cuồng nộ, vẫn sẽ cảm thấy sự đa dạng của thể tài sáng tác của nó là rất khiến người kinh lạ, giống như mỗi một giai đoạn của thơ và văn xuôi đều có. Đúng, đó lại là một thí dụ của sự dung hợp chặt chẽ của ‘bắp thịt” và “bộ xương” của tiểu thuyết đương đại. Bộ xương toàn dựa vào trung tâm ý thức dựng lên để ghi chép hoạt động tâm lý trong tác phẩm, mà bắp thịt lại là đem hiệu quả của văn thể và ngôn ngữ kết hợp chặt chẽ với nhau, để tăng cường sự khống chế về nghệ thuật. Biểu hiện của tác phẩm cũng vĩnh viễn không tách rời mức ý thức mà nó kỳ vọng biểu hiện. Tóm lại mà nhìn, nó đều là hiệu quả từ phương diện văn học nghệ thuật khác mang sang dùng. Như thế nào có thể càng khéo léo hơn so với chương nhạc nhịp đi anh ta dùng để phản tỉnh, biểu hiện ra hiệu quả trước khi tự sát của Quentin? Như thế nào có thể càng khéo léo hơn so với phương pháp đem loại từ đổi vị trí, trợ động từ biến thành động từ, miêu tả tình cảnh biến hóa nhiều vẻ của Stephen dọc theo bờ bồi hồi?


Hiệu quả mô phỏng thơ, thời thường là từ kịch thơ mang sang dùng. Người sống trong đoàn kịch, rất tự nhiên đem độc bạch cắm vào đoạn lớn văn xuôi trong tác phẩm. Thí dụ, tiểu thuyết là như vậy. Độc bạch trong kịch thời kỳ đầu thời đại Elizabeth đã thành cái quan trọng trong kịch bản. Lúc Hamlet bị yêu cầu tự xét mình độc đáo chế ngự, chàng thường thường chuyển dùng độc bạch. Độc bạch giống như vậy, điệu nền của nó không giống với thượng hạ văn, thường thường tăng nhanh biến thành thưo âm điệu cao hơn. Đại bộ phận độc bạch của Shakespeare không phải là để ngâm tụng, mà là mang cảm giác sai lầm của nói mê ban ngày nói ra. Kết thúc của Ulysses một đoạn lớn độc bạch của Molly Bloom cũng có thể nói là như vậy. Đúng, từ phương diện kết cấu mà nói, không thể phủ nhận, độc bạch của kịch thơ và độc bạch nội tâm trong tiểu thuyết có hiệu quả hầu như giống nhau. Sự căng thẳng của tâm lý dừng “đột nhiên lên cao của thơ” làm dịu lại. Thứ cách dùng đó trong tiểu thuyết càng thích hợp. Bởi vì chỉ có đem âm điệu và văn thể biến đổi mới có thể đem phân tích nội tâm thường thường quá dài, hết tiết này đến tiết khác, phân ra từng đoạn. Còn có gì càng tiện lợi hơn so với dùng phương thức mộng tưởng - một cách vừa nhẹ nhõm vừa vững chắc lưu trú trong hiện thực - khiến biến đổi toàn bộ từ văn xuôi biến hóa sang thơ?


Có một thứ độc bạch nội tâm, từ văn thể mà bàn, ở vào khoảng giữa của nghĩ ngợi sâu xa của ngôi thứ nhất và đối thoại gián tiếp của phân tích nội tâm. Nó mang các thứ âm giai của thơ, nhưng trên trang sách lại là dùng hình thức văn xuôi, đó là dùng độc bạch của ngôi thứ ba để ghi chép tư tưởng và ấn tượng. Phương pháp dẫn dụng giống với ngôn ngữ của nhà sử học cổ đại ghi chép về các anh hùng của họ, giống như là các anh hùng thời đó đích thân nói ra vậy, thủ pháp của nó có phần giống cái mà Flaubert thích dùng, dùng thể chưa hoàn thành để kể chuyện. Một bộ phận là do “âm điệu” của nhân vật trong tác phẩm của ông cấu thành, nhưng dùng văn thể gián tiếp để biểu hiện ra, nhân đó mà cùng bộ phận khác của toàn thiên phân không ra. Chính như phương pháp vận dụng trong Bà Bovary vậy, “thể chưa hoàn thành vĩnh cửu” là phương pháp của Flaubert trong tác phẩm bản thân tác giả không xuất hiện, thêm vào mùi vị của ngôi thứ nhất. Đồng thời, mượn cái đó phú cho Emma địa vị càng quan trọng vượt hơn tác giả và độc giả. Đó là hình thức động từ có công dụng quan trọng nhất trong “thể tự do gián tiếp”. Các nhà phê bình cho rằng nó là từ khẩu ngữ sản sinh, và còn trước khi thành một thứ hình thức văn pháp, là một thứ ngữ điệu. Xem ra, văn thể của cách nói gián tiếp, không bắt nguồn từ miệng nữa, càng hợp với yêu cầu của độc bạch nội tâm. Thể tự do gián tiếp của Flaubert, bởi vì có các thứ âm điệu cao thấp không giống nhau, chính thích hợp coi làm mẫu mực của cái chúng ta gọi là độc bạch nội tâm gián tiếp. Thứ thủ pháp đó bài trừ sự can dự của tác giả; nhưng, Flaubert lần thứ nhất vận dụng phương pháp đó là không hoàn bị. Bởi vì ông không cam tâm ẩn mình trong sáng tác.


Thơ ở trong tiểu thuyết nghiệp dĩ đã sâu rễ bền gốc, mỗi một nhà văn của tiểu thuyết dòng ý thức, từ lý luận mà nói, không nên chỉ là một nhà tiểu thuyết, còn lẽ nên là một nhà thơ. Căn cứ vào cách nói của phái tượng trưng, thơ không riêng có đặc quyền của văn vần nữa. Để viết thành công tiểu thuyết hiện đại, nhà tiểu thuyết nên học tập ở thơ trong đó chứa sâu rất nhiều kỹ xảo dòng ý thức. Đến thời gian sau, lại quay đầu lại viết tiểu thuyết. Joyce lúc mới bắt đầu cuộc đời văn học của ông, là một nhà thơ. Ông dựa theo truyền thống thi ca thời Elizabeth viết một tập thơ trữ tình nhan đề Âm nhạc trong phòng. Larbaud([1]) thời kỳ đầu viết Tập thơ A. O. Barnabooth. Virginia Woolf trước khi bắt đầu viết bộ tiểu thuyết lớn, từng viết thơ văn xuôi trong Thứ hai hoặc thứ ba.


Nỗ lực tiến hành về phương diện thơ thời ỳ đầu của Woolf và Joyce ảnh hưởng đến tiểu thuyết của họ. Ví dụ như nói, Đi tới hải đăng truyền đạt hai thứ thể nghiệm, một thứ là văn xuôi, một thứ là thơ, cái sau càng là quan trọng. Bộ phận của thơ đều tập trung ở ẩn dụ chiếm địa vị chủ yếu, bên trên hải đăng. Nó tựa hồ có sức mạnh ám thị vô hạn. Cuốn đó có thể là một tác phẩm Virginia Woolf đem nhân vật và cấu tứ dung hợp với nhau hết sức thành công. Tượng trưng của ẩn dụ về kết cấu và tình cảm của mỗi một nhân vật là kết hợp với nhau, hải đăng đó thành điểm chung của tất cả mọi nguyện vọng hướng về. Coi là một tượng trưng cố định, và hình tượng khuếch đại duy nhất, hoàn toàn vượt ra ngoài phạm vi thời gian của nhân vật, là thu hoạch chủ yếu của học thơ thời kỳ ngắn của Woolf. Tiểu thuyết có ý vị trữ tình nhất của bà, Sóng đặc biệt muốn lợi dụng hình tượng cố định khuếch đại thêm để thỏa mãn yêu cầu của 6 nhân vật. Mà mỗi nhân vật lại mỗi người có tượng trưng thích đáng của y. Ấn tượng mang cho người cuối cùng, Sóng là trứ tác giàu ý thơ nhất của Woolf. Đồng thời cũng là cái bắt rễ vững chắc nhất trong lòng ý thức. Độc bạch trữ tình của 6 nhân vật của bà đem toàn bộ tác phẩm đều biến làm cách điệu “tự xét mình”, đó là cái mà thơ của phái tượng trưng thời kỳ sau và tiểu thuyết dòng ý thức có chung. Từ trong thơ văn xuôi Thứ hai hoặc thứ ba bắt đầu sử dụng phương pháp này đến nay, Sóng là đỉnh cao nhất của thứ phương pháp sáng tác này.


Khi chúng ta từ vị trí có lợi để quan sát Finnegan thức dậy và thưởng thức thơ Âm nhạc trong phòng chúng ta cũng có thể tiến hành phân tích giống như vậy đối với Joyce. Trứ tác cuối cùng của ông cũng là đột nhiên trở về với hình thức thơ. Thủ pháp của rất nhiều sáng tác thơ thời kỳ đầu, sau khi trải qua biến điệu và gia công lại, cũng thấy ở cuốn sách này. Tổ chức tinh tế của Finnegan thức dậy hoàn toàn là dùng thủ pháp của một số thơ như vậy cấu thành, thí dụ như ghép vần ở đầu, bán hài âm, phép thanh dụ, phép đổi âm điệu đầu kiểu Spona và một số trình thức của thơ không thường thấy v.v... Thanh âm ngoài biểu đạt ý nghĩa nói miệng (sự lặp lại của ngôn ngữ) ra, còn dùng để biểu đạt. Một câu nói có thể có mấy thứ ý tứ. Âm điệu không giống nhau quyết định ý không giống nhau (tức một ngữ nhiều ý). Một bộ phận ngôn ngữ có thể đại biểu cả câu nói (tức phép đề dụ). Để khống chế miêu tả chi tiết của ấn tượng đột nhiên, trong Finnegan thức dậy còn dùng phép đối ngẫu tượng trưng và tưởng tượng. Đại thể chỉ có nhà văn có tu dưỡng về phương diện thơ mới có thể ở trong sáng tác gian nan có được hiệu quả của thơ.


Valéry Larband trong tác phẩm viết văn xuôi vận dụng miêu tả ý thơ có một số không thuận lợi. Xem ra, bài học duy nhất của ông từ Tập thơ A. O. Barnabooth mang dùng vào, là thơ không như văn xuôi đối với ông càng thích nghi. Ông cơ hồ đem vứt đi toàn bộ thủ đoạn đó. Và còn không chịu cúi đầu trước tiểu thuyết dòng ý thức. Độc bạch của ông hầu như hoàn toàn thu gọn thành một mớ tu từ cứng nhắc và nhạt nhẽo vô vị. Cái đó chính bởi vì trong Khuyến cáo bí mật nhất của tôi thiếu ý thơ; cho nên độc bạch của ngôi thứ ba ngẫu nhiên ông viết, không tự nhiên như một đoạn độc bạch gián tiếp của Nausica trong Ulysses của Joyce.


Từ tác phẩm thời kỳ sau của James và Proust đến nay, sự phát triển của tiểu thuyết đã chứng minh phân tích nội tâm không ngừng tăng trưởng, kết cấu và chủ đề cố định càng ngày càng tỏ ra tính cục hạn, kể câu chuyện càng ngày càng tập trung. Nhà tiểu thuyết thế kỷ 20 quen đem sức chú ý hạn định trên ý thức của nhân vật chủ yếu, lợi dụng thủ pháp tiểu thuyết trước nay tiếp tục sử dụng làm cái khung. Nhưng, bố cảnh và thuyết minh sân khấu lại dùng ít hơn nhiều. Ở đây rõ ràng có hai thứ khuynh hướng: một thứ là muốn bảo trì tính trong suốt của ý thức, và bảo trì tâm tình nhân vật có thể trực tiếp ghi lại, một thứ khác là muốn tạo dựng một mặt nạ mang tính tượng trưng. Ngôn ngữ dùng trong đó không phải là của bản thân nhân vật, mà là tác giả thay y nghĩ định ra, nhân vật là lấy giọng hỏi mang tính tượng trưng thổ lộ ra tâm tình của mình. Nhưng thường xuyên hoàn toàn phù hợp với phong cách của bản thân tác giả. Cho nên ghi chép lại phân tích nội tâm của tác giả, và tự ngoảnh nhìn lại của nhân vật giống như xuất từ cùng một thứ tình cảm. Thứ thủ pháp sau cấp cho chúng ta phép biểu hiện ý thức đã hình thức hóa, rất dễ ăn khớp nhất trí với kiến giải của tác giả. Mà thứ phương pháp trước lại thường thường khiến chúng ta không thể có sự khống chế về nghệ thuật.


Một thứ thành tựu nổi bật của dòng ý thức, là trải qua mô phỏng nghệ thuật khác, đặc biệt là âm nhạc để vứt bỏ tiêu chuẩn thuần văn học, khiến bắp thịt và bộ xương kết hợp chặt chẽ với nhau. Các tiết của tiểu thuyết dòng ý thức không phải là lấy sự tiến triển của hành động nhân vật nối liền với nhau, mà là dựa vào không ngừng tham chiếu trước sau tượng trưng và hình tượng nối liền với nhau, mà những tượng trưng và hình tượng này chỉ có thể ở không gian sản sinh liên hệ. Hình thức của loại tiểu thuyết này là kết quả của hình tượng và ngôn ngữ đan dệt với nhau, không có quan hệ với thứ tự của thời gian. Toàn thể kết cấu sắp đặt là đọc. Đồng thời, thơ và câu của âm nhạc bổ sung cho nhau cũng phú cho bắp thịt bức độ không gian giống như vậy.


Một điểm tương tự cuối cùng với thứ hình thức tiểu thuyết mới này, là vận dụng kỹ thuật découpage (cắt ráp) trong điện ảnh. Góc độ quan sát sự vật và bút pháp đảo xuống dưới mà nhớ lại chuyện cũ dùng, dùng thủ pháp của điện ảnh, biểu hiện ra một cách khéo léo; biến hóa của khoảng giữa là khó nhìn được ra, mà vải tranh của không gian lại là hoàn chỉnh. Ẩn dụ “phim nhựa ý thức” một số nhà phê bình nào đó vận dụng được rất thích đáng: dùng hình tượng đó để miêu tả nhà tiểu thuyết đem ý thức từng lớp một biểu hiện rõ ra như thế nào, tỏ ra hết sức sáng rõ sinh động.


(Dịch từ “Dòng ý thức: nghiên cứu phương pháp văn học” - chương 1, 1957, của Fradman)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Valéry Larbaud (1881-1957), nhà tiểu thuyết và nhà thơ Pháp.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »