tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19729040
Tiểu thuyết
08.09.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Cùng đường, Quảng Khánh rút gươm tự sát. Bà Diệu Tiên lao tới, vội vàng ôm chặt lấy con, ngăn lại, lại cầu khẩn Hoàng Phong Lôi.


- Xin sư tổ ban lời khuyên cháu mau đầu hàng nghĩa quân, đừng chết uổng mạng vô ích!


Hoàng Phong Lôi vuốt râu, phe phảy cây phất trần, nói:


- Quảng Khánh, cha mi là học trò ta đã giết thầy phản đạo, ta cũng còn không để bụng oán thù huống chi mi. Ta thấy mi nên đầu hàng nghĩa quân, để chuộc tội cho cha mi đã theo giặc phản bội dòng giống. Còn như sư phụ của mi dù có ở đây cũng không phải là đối thủ của ta, vì từ bấy đến nay võ công đồ trận của ta sau khi nghiên cứu xong Cửu Long chân kinh, đã tiến hơn trước rất nhiều. Dù Đông Hải tướng quân có thua mi chăng nữa, cũng còn có ta ở đây.


Quảng Khánh còn chưa kịp nói gì thì Đông Hải tướng quân đã bỏ lốt hóa trang, nói với Quảng Khánh:


- Quảng Khánh sư muội, chị chính là Lê Chân sư tỉ của em đây. Chị khuyên em nên theo về chính nghĩa, chuộc tội cho cha em và lập công với đất nước, để lại tiếng thơm nghìn thu, há chẳng hơn ư?


Quảng Khánh sụp lạy nói:


- Tiện tì nay xin vâng lời sư tổ, mẫu thân và sư tỉ.


Hùng Chắc lại gần đỡ Quảng Khánh dậy nói:


- Em biết quay về đường chính là phúc cho gia tộc. Ta sẽ phong em làm tướng, đi đánh dẹp các thành trì của giặc để có dịp lập công.


Quảng Khánh vái tạ.


Hoàng Phong Lôi nói:


- Bây giờ cháu Quảng Khánh theo ta về động, ta sẽ dạy dỗ thêm võ công cho cháu để sau này cháu ra giúp nước lập công chuộc tội.


Dứt lời ông giắt tay Quảng Khánh, hai người cùng phi thân đi, chớp mắt đã không thấy đâu nữa.


Hùng Chắc và chư tướng nhìn theo vái lạy.


Hùng Chắc tiến vào thành. Các tướng bắt được ấn tín của Tô Định bỏ lại, dâng cho Hùng Chắc. Hùng Chắc sai quân niêm phong các kho tàng của giặc, quản lý những hàng binh và treo bảng chiêu an dân chúng.


Quân sĩ vào khám xét tư dinh của Tô Định thấy bên trong vàng ngọc châu báu, đồi mồi san hô, lụa là gấm vóc, nhục quế, trầm hương, hồ tiêu, chất cao như núi…. Trưng Chắc truyền tịch thu toàn bộ tài sản của bọn quan lại đô hộ, sung vào quốc khố, chi cho việc công ích, lại bãi bỏ việc bắt dân đi phu nộp cống và tuyên bố xá thuế cho dân trong thời hạn một năm. Hồ sơ sổ sách giấy tờ trong dinh thái thú được chất thành một đống lớn, đốt trước công đường. Phóng thích tù nhân bị giam cầm trong ngục thất, cấp lương thực tiền bạc cho trở lại quê hương. Nhiều nghĩa binh gặp lại người thân của mình trong số tù nhân được phóng thích, cha con chồng vợ gặp nhau mừng mừng tủi tủi, thật là cảm động. Những nô tì hầu hạ bọn đô hộ cũng được trả lại tự do, nhiều người trên trán còn vết chữ thích tô chàm, và dấu xiềng xích đọa đày. Tất cả đều đến quỳ lạy trước Hùng Chắc tạ ơn đã cứu thoát họ.


Các tướng sĩ xin Hùng Chắc lên ngôi vua, để có người làm chủ đất nước. Hùng Chắc nhận lời lên ngôi vua gọi là Trưng Chắc(1). Phong em Hùng Nhì làm phó tướng, hiệu Bình khôi công chúa. Đỗ Năng Tế, Đinh Cống được phong làm Quốc Sư. Triệu Tam Chinh được phong làm Quốc Công. Hùng Nguyên được phong Đại nguyên soái. Đề Nương được phong Đào Nương công chúa. Lê Chân được phong Lê Chân công chúa. Phương Dung được phong Phương Dung công chúa, chồng là Đào Kỳ được phong Đại Tướng Quân. Thiên Thanh được phong Thánh Thiên công chúa. Thục Nương được phong bát Nàn công chúa. Thiền Hoa được phong Thiều hoa công chúa, Đông Bảng được phong Lại Tướng Quân. Khâu Ni được phong Khâu Ni công chúa. Nàng Nôi được phong Bạch Hạc Thủy công chúa, Nái Sơn được phong An Bình Công chúa. Ả Chạ được phong Ngọc Trinh công chúa. Ả Nang được phong Ả Nang công chúa, chồng là Hùng Bảo làm Hộ Quốc Công. Nàng Quỳnh được phong Quỳnh Nương công chúa. Nàng Quế được phong Quế Nương công chúa. Nàng Xuân được phong Đông Cung công chúa, chức Nhập Nội Chưởng Quản Quân cơ, Nàng Trăng được phong Nguyệt Diên công chúa. Vĩnh Hoa, Vĩnh Gia, Vĩnh Huy, Trần Mã Châu…. được phong công chúa. Nàng Nước được phong Trung Dũng Đại tướng quân, Phùng Thị Chính được phong Tiên phong Tướng Quân, Hương Thảo làm Hương Thảo tướng quân. Các nữ tướng khác cũng được phong chức tùy theo công trạng.


Vương Cai tiến ra trước mắt Trưng Chắc, quỳ xuống nói:


- Thần xin thú thực với Vương, trước đây thần đã cải trang làm nữ và làm cho cả đội nghĩa dũng cải trang làm nữ binh, nay thần xin chịu tội man trá trước Vương…


Trưng Chắc cười nói:


- Khanh coi thường mắt ta không nhận ra khanh là trai hay sao. Nhưng muốn khỏi làm cho nhốn nháo trong quân ngũ, ta cứ lờ đi như không biết. Đấy, khanh xem, ta có phong khanh làm công chúa đâu nào? Nay việc lớn đã xong, ta cho phép khanh và cả đôi nam binh trở lại làm trai. Ta phong cho khanh làm Thừa Thiên Đại Tướng Quân; các tướng sĩ cũng được phong thưởng theo thứ bậc.


Vương Cai và cả đội quân đều quỳ xuống tạ ơn.


Trưng Chắc lại gả Hùng Nhì cho Hùng Nguyên và đứng ra làm mai cho Nái Sơn lấy Đinh Lực, phong Đinh Lực làm Đại Tướng Quân.


Thấy vậy, Vương Cai cũng quỳ xuống xin Trưng Chắc tứ hôn cho mình kết duyên với Nàng Xuân.


Trưng Chắc cười:


- Biết người ta có chịu hay không mà đã… Thế nào, Đông Cung công chúa có bằng lòng kết duyên với Thừa Thiên Đại Tướng Quân hay không?


Thấy Nàng Xuân trước đây thường đành hanh bắt nạt “Nàng” Cai, nay đỏ rừ mặt chẳng khác gì “Nàng” Cai ngày trước, mọi người đều cất tiếng cười vui vẻ.


Trưng Trắc biết Nàng Xuân đã ưng ý, bèn đứng lên se duyên cho hai người. Lúc này Vương Cai đã tỏ ra phong độ nam nhi, giắt tay Nàng Xuân đang bẽn lẽn cúi mặt đến khấu đầu trước Vua Bà.


Mọi người đều hô vang chúc mừng ba cặp vợ chồng mới. Tiếng pháo tre nổ giòn, những lá cờ đuôi nheo uốn éo quyện vào với nhau, trong làn gió thanh bình.


Sau khi 65 thành đã thu phục, Trưng Chắc cử Trưng Nhì về căn cứ cũ ở Cự Triền xây đắp thành Dền để làm nơi đóng đô. Thành xây theo hình bầu dục, chỗ dài nhất là 50 trượng, chỗ hẹp nhất là 42 trượng. Mặt thành có chỗ rộng tới 25 thước. Tường quanh cao tới 3 thước 5 so với mặt hào chạy chung quanh thành. Hai đầu thành ở phía bắc và phía nam có hai khu đất được đắp vòng rộng ra ngoài ước khoảng gần 1 sào giống như hai cái mang cá. Ở mặt phía đông của vòng thành có một quãng bị cắt ngang vì ở đó có một hố nước. Một bên thành được đắp vòng ra ngoài hố nước ấy, còn một bên thì nhập vào một gò đất khá cao trên dựng cột cờ. Nơi đó là cổng thành. Trong nội thành, đối diện với cổng có một nền đất phẳng hình chữ nhật, trên dựng cung điện. Tại góc bắc thành có một hồ nước rộng khoảng 1 sào, sâu tới 2 thước, đó là giếng nước dùng chung cho cả nội thành. Dãy hào chạy quanh thành có chỗ rộng tới 25 thước, sâu chừng 1 thước 5 so với mặt ruộng chung quanh. Thành xây gần giống như thành Cổ Loa, tạo một bình diện gần tròn hoặc những đường cong tự do khép kín của tường thành.


Thành xây xong, Trưng Chắc dẫn trăm quan về đóng, lập nên một triều đình tự chủ của nước ta. Dọc đường dân chúng bày bàn thờ thắp hương vái lạy, phụ lão đều chắp tay nói: Không ngờ ngày nay lại thấy uy nghi nước cũ.


Núi Nghĩa lĩnh ở làng Hy Chương(1) đột ngột nổi cao lên nền trời nên được gọi là Đột ngột cao sơn. Gần đó có núi Trọc được gọi là Áp Sơn (núi gần), xa hơn núi Vặn được gọi là Viễn sơn (núi xa). Trên núi Nghĩa lĩnh có Kính Thiên lĩnh điện là nơi thờ Trời. Tục truyền vua Hùng Vương thứ 6 đã lên cầu trời sai tướng xuống giúp đuổi giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc Ân thì Hùng Vương lập tiếp miếu thờ Thánh Gióng. Trên núi có lăng Hùng Vương thứ nhất. Đến đời Hùng Vương thứ 18, Thục Phán được nhường nước, Phán mới lập miếu thờ “Hùng đồ thập bát thế thánh vương thánh vị”. Và sai dân các làng xung quanh thờ cúng.


Đạo ngự của Hai Vua bà đi trên con đường đất đỏ như son, dưới rừng cây thông tỏa mát. Cổng đền Hùng hiện ra dưới chân núi phía Tây, trong ánh nắng vàng mát dịu. Cổng Tam Quan cao rộng, trên mái đắp “lưỡng long tranh nguyệt”, trụ đỉnh có đèn lồng và trang trí con nghê màu xanh nhạt. Hai bên cửa nổi bật phù điêu hai vệ sĩ sắc phục oai phong cầm đao chùy túc trực.


Kiệu của Trưng Trắc, Trưng Nhì dừng trước cổng, Hai Vua bà và các đại tướng quân treo 525 bậc cấp lên tới Đền Thượng nằm trên đỉnh núi Nghĩa lĩnh, còn tướng sĩ đứng dưới chân núi bảo vệ. Đền Thượng xây bốn nếp nhà liên hoàn theo bốn cấp cao dần chênh nhau hơn 2 thước gồm có nhà Chuông Trống, nhà Đại Bái, nhà Tiền Tế, Cung thờ.


Tại nhà Tiền Tế, đặt một hương án, có một tráp thờ, bên trong đặt một triện gỗ hình vuông, khắc bốn chữ “Hùng Vương tứ phúc”. Trên hương án đặt đỉnh trầm, bát hương và lễ vật gồm trâu, dê, lợn thui, bánh chưng bánh dày.


Tại cung thờ đặt ở long ngai sơn son thếp vàng.


Hai Vua bà và các đại tướng quân làm lễ quốc tế. Trưng Chắc mặc hoàng bào đứng vào chính vị làm chủ tế. Trưng Nhì cũng mặc hoàng bào đứng sau làm bồi tế. Các đại tướng quân theo thứ bậc đứng vào vị trí.


Tế xong, Trưng Chắc và các đại tướng quân đến Lăng Vua Hùng ở cạnh trái Đền Thượng, nằm trên một khoảng đất cao rợp bóng cây xanh. Lăng nhìn về hướng Đông Nam, kiến trúc theo hình khối vuông, trên có cổ diêm tám mái, đỉnh chóp đắp hình rồng uốn lượn, nổi lên ba chữ khắc chìm “Hùng Vương lăng”. Trên mỗi mặt tường đều đắp mặt hổ phù, thành bộc đắp kỳ lân. Trong Lăng là mộ, xây hình khối chữ nhật. Ngay đầu mộ, một tấm bia nổi lên hai chữ “Biểu chính”(1).


Trưng Chắc đến trước Lăng, thắp hương và khấn rằng:


- Thiếp tôi là con cháu liệt tổ Hùng Vương, đã quét xong giặc đô hộ, khôi phục quốc thống của tổ tông, nay xin kính cáo để chư vị biết. Xin các vị hiển uy linh phù hộ cho nước vững dân yên, dòng Hồng Lạc nối dài muôn vạn thuở.


Các đại tướng quân cùng vái lạy trước lăng.


Đứng từ Lăng có thể nhìn bao quát toàn cảnh kinh thành nước Văn Lang xa xưa. Trưng Chắc chỉ chín mươi chín ngọn núi chầu về núi Nghĩa Lĩnh và một ngọn núi bị sạt mất một góc, nói:


- Tương truyền, ngày trước có chín mươi chín con voi quay đầu về phía Nam, chỉ có một con quay về phía Bắc, Vua Hùng đã rút gươm chém con voi bất nghĩa đó, di tích là ngọn núi Bất Nghĩa sơn bị sạt một góc kia. Nay chư tướng hãy thề trước anh linh các Vua Hùng, phải một dạ trung thành với đất nước, nếu kẻ nào manh tâm phản bội tổ quốc sẽ bị trừng phạt như con voi bất nghĩa kia. Chư tướng hãy thề: Một dạ trung thành với đất nước:


Các đại tướng quân đều rút gươm ra, giơ lên thét;


- Xin thề!


Lễ quốc tế xong, dưới chân núi tiếng trống đồng vang lên hùng tráng. Một tốp vũ công trong quân đội tiến ra, người thì một tay cầm chúc ngọn giáo, một tay đập phách, người thì một tay cầm rìu chiến xéo góc, một tay cầm khiên mộc, đầu đội mũ gắn lông chim có cài bông lau, mặc váy xòe bằng lông chim hoặc bằng lá kết lại, có hai vạt dài, chân nhún nhảy, bàn tay xòe cong, cánh tay dang rộng múa hát nhịp nhàng uyển chuyển theo tiếng nhạc. Từng nhóm các nhạc công say sưa đánh trống hay hòa tấu cồng chiêng khiến không khí buổi lễ hội thật rộn ràng náo nhiệt. Về trống, có trống đồng, trống da lớn, trống da nhỏ. Cồng chiêng được xếp thành hai dàn, mỗi dàn từ sáu đến tám chiếc. Về chuông có loại nhỏ bên trong có quả lắc để rung cho kêu và loại lớn được gõ bằng dùi. Nhạc khí hơi có khèn bè, tù và…


Sau cuộc tế lễ của các làng ở chung quanh đền Hùng, đội hát xoan của dân làng ra hát mừng đoàn quân chiến thắng.


Tương truyền hát Xoan do công chúa Nguyệt Cư con vua Hùng thứ 17 tập hợp từ múa hát dân gian trong kinh đô Văn Lang, là một bài bản gồm 3 phần: 5 đoạn lề lối, 14 đoạn quá cách và 8 đoạn nam nữ đối đáp. Đội Xoan có 6 năm 12 nữ trẻ đẹp hát bằng nhiều giọng khác nhau, có lúc dùng điệu bộ chân tay, có lúc múa nhảy, kèm theo trống phách đưa đệm.


Đến trò xin hoa đố chữ, nam hát:


- Anh xin nàng chiếc hoa trong đụn.


Nữ hát:


- Hoa trong đụn anh thuận hoa gì?


- Hoa trong đụn anh thuận hoa lúa,


- Hoa lúa về mùa này nó chưa nở, để một mai nó nở thiếp lại bẻ cho chàng. Sợ chàng chẳng yêu, sợ chàng chẳng dấu, để hoa nụ héo, hoa hỡi hoa hời, hoa hỡi là hoa…


Đến trò hát đúm, quả đúm là một chiếc khăn tay đỏ bọc miếng trầu cuốn buộc lại. Trai nhận từ tay quan viên đàn anh rồi tung cho Đào, trước khi tung, miệng hát:


Đào ơi, Đào dịch lại đây, Đào dịch lại đây,


Anh cầm quả đúm trao tay cho Đào.


Đào đón quả đúm, đưa mắt nhìn khắp mặt đàn anh trong làng rồi cất cao giọng hát:


Phải đôi phải lứa thì se,


Đúm tìm cho tới áo the đúm vào.


Đúm là người hỏi làm sao?


Em là quân đúm em vào kết duyên.


Dứt câu hát, Cô Đào ném quả đúm vào một quan viên nào đó. Người nhận quả đúm sẽ mở ra lấy trầu ăn để rồi lại gói miếng trầu khác, có khi kèm theo cả đồng tiền thưởng. Sau đó trao quả đúm cho một anh trai làng khác hoặc tự đứng lên hát đáp lại một câu đúm khác. Hát xong, tung quả đúm lên trả lại cho cô Đào. Hết đôi này đến đôi khác, quả đúm bay đi ném lại cùng với những câu hát tình tứ làm say đắm không khí vui chơi của cuộc hát.


Mọi người đứng xem tưởng như sống lại cái thời đất nước còn đang tự chủ. Bà Đoan và vợ chồng Đỗ Năng Tế đã tóc bạc da mồi bỗng thấy mình như trẻ lại. Nái Sơn và Đinh Lực, đưa mắt nhìn nhau đắm đuối. Đào Kỳ và Phương Dung dựa sát vào nhau hơn. Ả Nang và Hùng Bảo tay cầm tay nhớ lại cái ngày trao cho nhau miếng trầu đầu tiên, má ửng lên, ngây ngất như vừa say trầu… Còn Vương Cai và Nàng Xuân cũng uốn éo múa theo tiếng hát của các cô đào và chàng trai. Nhìn “Nàng” Cai lúc này thân hình mềm dẻo không cứng queo như trước, múa cùng Nàng Xuân rất đẹp đôi, mọi người cùng cất tiếng cười giòn giã. Bày chim “M’ling M’lang” thấy động vỗ cánh bay vút lên trời xanh, loài chim được coi là vật tổ của bộ lạc Mê Linh, bay như dẫn đường cho cả dân tộc bay lên.


HẾT


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Trưng có thể là một từ Việt cổ tương đương với “ngôi vua” hoặc “thủ lĩnh” gì đó. Giáo sư Phạm Huy Thông cho rằng chữ Trưng có thể liên quan với chữ kurung là một tiếng Môn- Khơ me, chỉ vua nước Phù Nam, một nước thời cổ mà khu vực trung tâm là nước Căm-pu-chia ngày nay.




(1) Nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ.




(1) Mộ chính.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »