tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185539
Lý luận phê bình văn học
07.09.2009
Hoài Anh
Trần Đăng Khoa với những nguyên tượng huyền thoại trong thơ

Mấy chục năm nay, tôi chưa viết được về Trần Đăng Khoa, ngoại trừ một đoạn đề cập đến Khoa trong một bài viết chung về văn học thiếu nhi “Viết cho lứa tuổi nhỏ – một nghệ thuật lớn”. Đó là bởi tôi vẫn chưa biết nên bắt tay vào từ chỗ nào, để bài viết có nét riêng không lẫn với người khác.


T.S.Eliot vào năm 1925 cho đăng bài “Bàn về Dante” vừa bắt đầu đã nói: “Từ kinh nghiệm thưởng thức thơ của cá nhân tôi mà nói, tôi vẫn cho rằng trước khi đọc một bài thơ, việc có liên quan đến một nhà thơ và tác phẩm của ông ta, biết được càng ít càng tốt. Một câu dẫn dụng, một đoạn bình giải, một luận văn nhỏ nhiệt tâm cũng có thể ngẫu nhiên gây nên động cơ cho người bắt đầu đọc một nhà văn nhất định nào đó: nhưng dốc hết tâm sức chuẩn bị tri thức của lịch sử và của truyện ký đối với tôi thường thường là một trở ngại”. Cũng tức là nói, so với từ bên ngoài thơ hoặc một số cái không có liên can bàn về thơ, chi bằng từ bản thân thơ bắt tay vào. Ông từ cơ sở đó để bàn về thơ của Dante. Chỉ ra sức tưởng tượng của Dante là cái mang tính thị giác: ý đồ của Dante là muốn khiến chúng ta nhìn thấy cái mà ông nhìn thấy, là một thứ “ý tượng thị giác rõ rệt” (Clear visual images).


Noi gương Eliot, trước khi viết bài bàn về thơ Trần Đăng Khoa, tôi không đọc hay đã đọc thì quên đi những bài của những người khác viết về Trần Đăng Khoa và của Trần Đăng Khoa tự nói về mình. Đợi sau khi những tiếng ồn ào đã lắng xuống, tôi mới có thể tĩnh tâm viết về bản thân thơ của Trần Đăng Khoa mà không bị ảnh hưởng vì con người Trần Đăng Khoa (mặc dầu cả đời tôi mới ngẫu nhiên gặp Khoa một lần ở phòng của Lê Thành Nghị và ấn tượng về cuộc gặp gỡ đó rất tốt), để có thể khách quan nhận định về thơ Trần Đăng Khoa.


Với một người 8 tuổi đã bắt đầu làm thơ, 10 tuổi đã có tập thơ in riêng, không thể dùng thước đo của tiêu chuẩn lý luận phê bình văn học thông thường để đánh giá mà phải từ góc độ mỹ học - triết học và tâm lý học để tìm hiểu. Tôi nhận thấy thuyết thiên tài của Schopenhauer có thể giải thích được hiện tượng mà người ta thường gọi là “thần đồng”. Schopenhauer nói “phương thức nhận thức” của nghệ thuật của “khảo sát lý niệm” “là nhiệm vụ của thiên tài”[1]. Nghệ thuật yêu cầu “hoàn toàn chìm đắm ở quan sát thuần túy đối tượng mới có thể nắm vững lý niệm mà bản chất của thiên tài là ở năng lực trác việt tiến hành thứ quan sát này”. Căn cứ vào đó, “tính năng của thiên tài là bản lĩnh đứng ở địa vị trực quan thuần túy, trong trực quan quên bản thân mình, mà khiến nhận thức vốn phục vụ cho ý chí bây giờ thoát khỏi thứ lao dịch này”. Ở đây, Schopenhauer đem bản chất của thiền tài quy định làm năng lực thoát khỏi ý chí, tiến vào quan sát thuần túy, tức năng lực của thẩm mỹ và nghệ thuật. Như vậy là đem thiên tài thẩm mỹ hóa.


Schopenhauer cho rằng sức tưởng tượng là “bộ phận cấu thành cơ bản của tính năng thiên tài”, nhưng phản đối đem thiên tài đánh đồng với sức tưởng tượng, bởi vì đơn thuần có sức tưởng tượng không đủ để thành thiên tài. Bản chất của thiên tài là năng lực quan sát thuần túy, sức tưởng tượng lại là sự bổ sung và mở rộng của thứ năng lực quan sát đó. Ông nói, đối tượng của thiên tài là lý niệm vĩnh hằng, mà nhận thức lý niệm lại tất nhiên là cái trực quan mà không phải là cái trừu tượng. Lúc đó, tác dụng của sức tưởng tượng là “đem vùng nhìn của ông ta mở rộng đến ngoài hiện thực của kinh nghiệm cá nhân ông ta, mà khiến ông ta có thể thực tế tiến vào số ít cái ông ta nhận biết cấu thành tất cả mọi sự vật còn lại, từ đó mà có thể khiến cơ hồ là tất cả mọi khả năng của tình cảnh đời sống nhất nhất xuất hiện trước mặt ông ta”. Sức tưởng tượng của thiên tài có thể giúp ông ta mở rộng vùng nhìn quan sát đến vô hạn, “sức tưởng tượng vừa là phương diện chất vừa là phương diện lượng đem tầm mắt của thiên tài mở rộng đến trên, ngoài các khách thể thực tế trình hiện trước bản thân thiên
tài. Do nguyên nhân đó, sức tưởng tượng đặc thù mạnh mẽ là đồng bạn của thiên tài, điều kiện của thiên tài”, nếu dựa theo phương thức của thiên tài, mà không phải là phương thức của người bình thường, để trực quan một sự vật tưởng tượng, “vật tưởng tượng đó là một thứ thủ đoạn của nhận thức lý niệm, mà cái biểu đạt lý niệm đó là nghệ thuật”.


Schopenhauer cho rằng, khu biệt cơ bản của thiên tài và người bình thường là, ở người bình thường quyết không có thể “tiếp tiếp, nối nối tiến hành” “quan sát hoàn toàn không kể đến lợi hại”, tức “vừa quan sát vừa thẩm định” hoặc “tĩnh quan”, thông thường chỉ lưu liên ở giữa sinh kế hàng ngày, quan hệ căn cứ vào luật và khái niệm lý tính, mà không quan tâm đến bản thân đời sống; còn “thiên tài” lại trái hẳn lại, trong một bộ phận thời gian của đời ông ta, năng lực nhận thức của ông ta, do chiếm ưu thế, đã thoát khỏi sự phục vụ đối với ý chí của ông ta, ông ta chỉ lưu liên ở quan sát đối với bản thân đời sống, muốn nỗ lực nắm vững lý niệm của mỗi một sự vật mà không phải là muốn nắm vững quan hệ của mỗi một sự vật đối với sự vật khác. Nói vắn tắt, người bình thường tiến vào tĩnh quan là ngẫu nhiên, thiên tài lại có thể tương đối lâu dài, tương đối thường xuyên ở vào trong tĩnh quan thẩm mỹ, đương nhiên không phải là mỗi giờ mỗi phút đều như vậy.


Lý thuyết của Schopenhauer đã giải đáp cho băn khoăn của tôi mấy chục năm nay. Nếu chỉ dựa vào sức tưởng tượng của nhà thơ thông thường thì khó mà viết được những câu thơ như:


Em đi chọc ếch chiều nay


Giỏ không thoắt đã đựng đầy tiếng kêu


Vật hữu hình đựng vật vô hình


Lưng trời có chiếc lá đa


Tiếng rơi nghe mỏng như là rơi nghiêng


Câu thơ vừa gợi lên cảm giác vật thể tinh tế của chiếc lá rơi, vừa tạo nên một chuỗi âm thanh mỏng, chênh của tiếng lá rơi, khiến người ta liên tưởng đến những câu thơ vừa tạo hình, vừa tạo thanh, vừa tả cái thần của cảnh vật trước mắt, vừa mang cái hồn của muôn đời, như “Vi lô san sát hơi may” (Nguyễn Du); “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” (Phan Huy Vịnh dịch “Tỳ bà hành”).


Những cái đó không phải là kết quả của sức tưởng tượng thông thường mà là kết quả của trực quan (quan sár trực tiếp mà không phải chịu ảnh hưởng từ sách vở, tập quán), của tĩnh quan (quan sát “tiếp tiếp nối nối tiến hành”, “hoàn toàn không kể đến lợi hại”, “vừa quan sát vừa thẩm định” để tìm ra bản chất của sự vật). Khi đó Khoa là một đứa trẻ, có năng khiếu thiên bẩm, được cha mẹ nuôi cho ăn học, được sự chăm sóc của xã hội, không phải lo lắng về sinh kế, chưa có ý chí do dục vọng tạo thành, nên có thể tập trung thời gian vào quan sát thuần túy để nắm bắt “lý niệm” của mỗi sự vật. Lý niệm ở đây không phải là cái gì duy tâm siêu hình mà là lý tưởng chân thiện mỹ của nhân loại. Lý tưởng tốt đẹp đó khiến Khoa viết được những câu thơ trong sáng như:


Ông trăng nhìn thấy xôi


Là ông nhoẻn miệng cười


Áng chừng ông thích lắm


Trăng nở vàng như xôi


Hình ảnh ở đây tự nhiên vì xuất phát từ tâm hồn thiên chân của nhân chi sơ tính bản thiện nên lời văn hồn nhiên nhất thể, không lắp ghép, giả tạo.


Trầu ơi, hãy tỉnh lại


Mở mắt xanh ra nào


Lá nào muốn cho tao


Thì mày chìa ra nhé


Tay tao hái rất nhẹ


Không làm mày đau đâu...


Cũng do tĩnh quan nhìn thấu bản chất của sự vật, nên ý thơ vô hình trung đã mang quan niệm “thiên địa vạn vật nhất thể”, “vạn vật đồng nhân” của triết lý phương Đông. Thái độ hòa đồng với vạn vật mà không phải là quan niệm “thiên địa bất nhân” (Lão Tử) hay “vong ngã” (Trang Tử) đã khiến Khoa viết được những câu thơ nhân hậu như:


Em trồng thêm một cây na


Lá xanh vẫy gió như là gọi chim


Từ đó mở rộng thành “Lá xanh vẫy gió như là gọi trăng” càng thêm gợi cảm.


Dưới bóng đa, con trâu


Thong thả nhai hương lúa


Yến Lan đã viết “trâu nhai bóng mát” còn là cái cụ thể, nhưng “trâu nhai hương lúa” thì lại là cái ảo, cái siêu thực.


“Nghe thầy đọc thơ” mà cảm thấy như:


Nghe trăng thở động tàu dừa


Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời


Liên tưởng ở đây vừa thực vừa hư, trong tĩnh có động


Đường cày ai rạch


Thành dòng sông Ngân


Sao như gốc rạ


Nhấp nhô xa gần


Hình ảnh ở đây có tính chất nguyên sơ (primitif) như trong hội họa do cùng sử dụng “ý tưởng thị giác”.


Ở đây chúng ta thấy thơ Trần Đăng Khoa cũng có thứ “ý tượng thị giác” mà T.S.Eliot nói.


Cái gọi là “ý tượng thị giác” theo giải thích của Laurence Perrine là: “Từ ý tượng hoặc có thể thông thường nhất chỉ một bức tranh của tâm linh, cái mà từ con mắt của tâm linh nhìn thấy, ý tượng thị giác là một thứ ý tượng xảy ra thông thường nhất trong thơ”. Trần Đăng Khoa có những câu thơ đơn giản cung cấp tính cảm thụ phong phú, khiến tình cảnh được thị giác hóa, như:


Mái gianh ơi hỡi mái gianh


Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương


Học giả người Trung Quốc sống ở Mỹ, Cao Hữu Công trong bài “Ý nghĩa và giải thích của tài liệu kinh nghiệm” viết: “Tưởng tượng” có thể nói vĩnh viễn dùng “kinh nghiệm hiện thời” xuất hiện ở lớp ngoài ý thức của chúng ta. Đồng thời, khi ký ức “tái hiện làm kinh nghiệm hiện thời” đã không thể hoàn chỉnh như ban đầu, tất thấm nhập thành phần “tưởng tượng”. Có thể lại đem “quá khứ” khai quật ra cũng có thể dựa vào “sức ghi nhớ” của cá nhân, nhưng khiến “quá khứ” đó tái hiện ở lớp mặt, mà còn có thể một cách “như sống”, “hệt như thật” thành kinh nghiệm của tự ngã hiện thời, lại cần phải dựa vào “sức tưởng tượng” của cá nhân. Cho nên “tưởng tượng” cũng có thể coi là sự tổ hợp lại của tài liệu kinh nghiệm mà ký ức cá nhân chứa đựng. Những tài liệu trong ký ức đó có thể là cái cảm tính, cũng có thể là cái tri tính, có thể là cái tiềm tại, cũng có thể là cái hiện thời, có thể là đại biểu cho cái chỉ rõ, cũng có thể là cái chứa ngầm trong thể hiện. Nhưng có thể vận dụng những tài liệu đó để sáng tạo một tổ hợp mới trong ý thức tức có thể nói là một thứ “sức tưởng tượng”. Toàn thể “kinh nghiệm” đó không chỉ là một sự tiếp thụ bị động, mà còn là một thứ sáng tạo chủ động. Nhưng thứ sáng tạo đó vẫn bị hạn chế bởi tài liệu kinh nghiệm trước đây của nó. Chỉ là “ký ức” và “kinh nghiệm” thì tựa hồ là có thể không chịu sự quyết định của kích thích bên ngoài mà tự sinh tự thành. Thứ “tính tự phát” đó thường thường che giấu sự thực của loại “tài liệu kinh nghiệm” tiềm tàng ở trong ký ức”[2]. Nhưng ở một đứa trẻ mười tuổi thì chưa có thể nói đến “ký ức” và “kinh nghiệm”, bởi ý thức cũng như vô thức cá nhân chưa phát triển trọn vẹn, nhưng lại nắm bắt được tri thức trong nhiều lĩnh vực đời sống vượt gấp bội những đứa trẻ khác cùng lứa tuổi là bởi đâu. Tôi lại phải cầu viện phê bình phân tâm học giải đáp vấn đề này. Theo quan niệm của phân tâm học thì đó là kết quả của vô thức tập thể. Nhà tâm lý học và nhà mỹ học phân tâm học Carl Gustav Jung trong bài “Về quan hệ của tâm lý học phân tích đối với sáng tạo văn học nghệ thuật” viết: “Trái với vô thức cá nhân tạo nên lớp bề mặt ngay lập tức dưới ngưỡng ý thức, vô thức tập thể trong những điều kiện bình thường không nhận biết được, vì thế không một kỹ thuật phân tích nào có thể giúp “gợi nhớ” được nó, bởi nó không bị dồn ép và không bị lãng quên. Vô thức tập thể cũng không tồn tại tự nó và cho nó, do nó chỉ là khả năng mà ta được thừa kế từ xa xưa dưới dạng một hình thức nhất định của những hình ảnh được ghi nhớ, hay nói theo cách giải phẫu học, trong cấu trúc của não đầu. Đó không phải là những quan niệm thiên bẩm, chúng đặt ra những giới hạn nhất định cho ngay cả những đầu óc tưởng tượng mạnh bạo nhất – có thể nói, đặt ra những phạm trù của trí tưởng tượng, theo nghĩa nào đấy là những tư tưởng tiên nghiệm mà sự tồn tại của chúng không thể xác lập được bằng cách nào khác hơn là thông qua kinh nghiệm cảm thụ chúng. Chúng bộc lộ chỉ trong chất liệu đã được tạo tác về mặt lý thuyết với tư cách là những nguyên tắc điều khiển sự tạo lập chất liệu, nói cách khác, ta có khả năng tái lập nền đáy khởi thủy của nguyên tượng chỉ bằng con đường đưa ngược từ tác phẩm hoàn chỉnh trở lại cội nguồn của nó.


Nguyên tượng (archétype), hay cổ mẫu, hay nguyên hình – dù đó là quỷ, người hay biến cố – được lặp lại trong suốt chiều dài lịch sử ở bất kỳ đâu có trí tưởng tượng sáng tạo tự do hoạt động. Lần lượt chúng ta có ở đây trước hết là nguyên hình huyền thoại. Nghiên cứu tỉ mỉ các hình tượng này ta nhận thấy trong chừng mực nào đấy chúng là bản tổng kết đã được công thức hóa của khối kinh nghiệm điển hình to lớn với vô số các thế hệ tổ tiên: đó có thể nói là vết tích tâm lý của vô số cảm xúc cùng một kiểu. Chúng phản ảnh khá trung thành hàng triệu các cảm xúc cá nhân, do đó đã đưa lại hình ảnh thống nhất của đời sống tâm lý, hình ảnh này được phân tích và phóng chiếu lên nhiều gương mặt khác nhau nơi diêm phủ trong huyền thoại. Hơn thế, các hình tượng huyền thoại tự chúng cũng là sản phẩm phức hợp của trí tưởng tượng sáng tạo, chúng khó dịch được sang ngôn ngữ khái niệm; trên hướng này chỉ mới có những bước đi chật vật ban đầu. Ngôn ngữ khái niệm, chúng còn phải tạo ra nhiều, có thể thúc đẩy viêc chiếm lĩnh theo lối khoa học, trừu tượng các quá trình vô thức làm cơ sở cho các nguyên tượng. Trong mỗi hình tượng này kết tinh một phần nhỏ tâm lý con người và số phận con người, một phần nhỏ nỗi đau và niềm vui, những cảm xúc lặp lại không đều ở vô số các thế hệ tổ tiên và nhìn chung bao giờ cũng đi theo một hướng.


... Thời điểm xuất hiện tình huống huyền thoại bao giờ cũng được đánh dấu bởi cường độ cảm xúc đặc biệt: dường như trong ta có những dây đàn không ai ngờ là có và bao lâu nay im tiếng bây giờ được chạm đến. Đấu tranh thích nghi – đó là một nhiệm vụ nhọc nhằn, đau khổ, bởi vì cứ mỗi bước đi chúng ta lại gặp phải những hoàn cảnh cá nhân, tức là không điển hình. Do đó không có gì là ngạc nhiên là nếu khi gặp được một tình huống điển hình ta bất ngờ hoặc cảm thấy được giải phóng triệt để, thấy mình như mọc cánh bay, hoặc như có một sức mạnh không sao cưỡng nổi túm lấy ta. Vào những lúc ấy ta không còn là những thực thể cá nhân nữa, chúng ta – là giống loài, giọng nói của toàn nhân loại thức dậy trong ta.


... Mọi thái độ đối với cổ mẫu, dù đã trải nghiệm hay chỉ là nhắc đến tên, đều “động” đến chúng ta: nó tác động bởi vì nó khơi dậy trong ta một giọng nói to hơn giọng nói của chính ta. Người nói bằng nguyên tượng duờng như nói bằng hàng nghìn giọng, nó hấp dẫn, áp đảo, nó nâng cái mình mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời lên chỗ tồn tại muôn đời, nhờ đó giải phóng trong ta tất cả những sức mạnh cứu vớt vốn từ xưa đã giúp cho loài người tránh thoát được mọi tai họa và thậm chí nén chịu được qua cái đêm dài nhất”.


Có thể nói ở bài thơ Mưa, trí tưởng tượng sáng tạo của Trần Đăng Khoa đã bắt gặp nguyên tượng huyền thoại xuất phát từ vô thức tập thể của người Việt Nam:


... Ông trời


Mặc áo giáp đen


Ra trận


Muôn nghìn cây mía


Múa gươm


Kiến


Hành quân


Đầy đường


Lá khô


Gió cuốn


Bụi bay


Cuồn cuộn


Cỏ gà rung tai


Nghe


Bụi tre


Tần ngần


Gỡ tóc


Hàng bưởi


Đu đưa


Bế lũ con


Đầu tròn


Trọc lóc


Chớp


Rạch ngang trời


Khô khốc


Sấm


Ghé xuống sân


Khanh khách


Cười...


 


Bài thơ có cái thế mạnh “nhất khí quán hạ” như được “nói bằng hàng nghìn giọng” của bao thế hệ người Việt Nam từ xưa đến nay luôn trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông gió trông ngày trông đêm, trong cuộc đấu tranh ngàn đời với thiên nhiên khắc nghiệt. Tất cả đều là “ý tượng thị giác”, “theo nghĩa nào đấy là những tư tưởng tiên nghiệm mà sự tồn tại của chúng không thể xác lập được bằng cách nào khác hơn là thông qua kinh nghiệm cảm thụ chúng”, bởi vì “các hình tượng huyền thoại tự chúng cũng là sản phẩm phức hợp của trí tưởng tượng sáng tạo, chúng khó dịch được sang ngôn ngữ khái niệm”. Ngay cả đến đoạn kết bài thơ, Trần Đăng Khoa cũng không sử dụng ngôn ngữ khái niệm:


Bố em đi cày về


Đội sấm


Đội chớp


Đội cả trời mưa


Do không phải là ngôn ngữ khái niệm, nên người khác dù thấy khó hiểu cũng không thể dùng lý tính để sửa thơ Khoa mà phải hiểu chúng bằng cảm tính. Đó là bởi vì tác giả, “đối với mỗi một chữ đều coi trọng, đều mang cảm giác cá nhân”. Cao Hữu Công khi tìm hiểu kinh nghiệm mỹ cảm của sáng tác văn học, đối với thảo luận về “kích thích” và “cảm giác”, chỉ ra không phải tất cả mọi cảm giác đều có ý nghĩa; không có ý nghĩa, thì không thể bàn đến “cảm tượng”. “Cảm tượng” hoặc giả là “hình tượng” (image) càng hẹp nghĩa, chỉ là một “kích thích” hoặc “cảm giác” này thông qua các nhân tố sinh lý khác, mà hình thành ấn tượng. Đối với ấn tượng, cách nói thông thường cho rằng không đủ tin cậy, không phù hợp với lô-gích, tính đáng tin thấp, nhưng Cao Hữu Công cho rằng: “Nó tuyệt đối không đơn giản như chúng ta tưởng tượng. Không những nó bao hàm nhiều thứ hoạt động tâm lý, sinh lý, dính dấp đến các thứ khí quan không giống nhau, mà còn “bản thân của cảm tượng này là cái gì?” thì có thể là một vấn đề không có cách nào xác định, cho nên chúng chí ít có giải thích ở một trình độ nào đó. Nhưng cũng chỉ có như thế, thứ “cảm tượng” đó mới có thể có cảm ứng đa dạng, mới có khả năng thông qua giải thích dung nhập vào tầng lớp kinh nghiệm cao hơn”[3].


Thứ cảm tượng thông qua kích thích, cuối cùng tuyệt duyên với kích thích, liền thành “tâm tượng”, nhưng sự hình thành của thứ tâm tượng này như thế nào? Nó quả thực cùng kích thích sớm nhất – bản thân vật tượng có sai biệt lớn bao nhiêu? Thứ giai đoạn của tầng lớp từ cảm tượng đến tâm tượng, lại từ tâm tượng tiến vào giải thích, có phải là có thể phân chia rõ ràng hay không, dù cho như vậy, cái Cao Hữu Công muốn nhấn mạnh là: “Thứ nhất, nếu khi thảo luận về kinh nghiệm mỹ cảm sau khi chú ý tập trung vào thoát ly kích thích bên ngoài trong tâm cảnh xuất hiện tài liệu kinh nghiệm, bởi vậy hình tượng cơ bản nhất của chúng ta chí ít cũng là hình tượng trong tâm cảnh, mà không phải là hình tượng trực tiếp; thứ hai, hình tượng lần thứ hai đó tất nhiên không giống với hình tượng lúc đầu; thứ ba, nó và hình tượng khác đều tồn tại trong ý thức, bởi vậy có một “nhân tố trung gian” tương thông, và tính chất chung; cuối cùng, tất cả mọi tài liệu kinh nghiệm tuy có phân cái bên ngoài và cái bên trong, nhưng từ kinh nghiệm mỹ cảm mà nói, tựa hồ đều chỉ có thể coi là cái bên trong. Là lấy không những tài liệu thể hiện trực tiếp và tài liệu đại biểu gián tiếp cuối cùng đều hình thành hình tượng bên trong; chúng và tài liệu lởn vởn từ trong ký ức tiềm tại cũng do “nhân tố trung gian” của tính chất chung của chúng cũng có khả năng tổ hợp ở cùng một tầng lớp”. Thí dụ:


Con mắt trời nóng bỏng


Rừng rực những ngôi sao


Đêm đêm con mắt ấy


Cháy bùng trên mặt ao


 


Thẳm sâu con mắt đất


Hun hút những giếng thơi


Đêm đêm con mắt ấy


Nói điều chi với trời


Tác giả đã nhìn sự vật bằng “con mắt kép” của con chuồn chuồn thấy hình ảnh lồi lên ba chiều không gian nhưng thêm một chiều thứ tư là thời gian; hai hình ảnh ở hai khổ thơ lồng khít vào nhau nhưng có biến thể mới trên cùng một “mô-típ” của khát vọng vĩnh cửu.


Lửa hát rằng:


Quê tôi những cánh rừng hoang


Chính trong cơn bão đại ngàn – tôi sinh


Nuôi tôi trong bếp nhà gianh


Ủ là một chấm – thổi thành biển khơi


Nhà thơ tả sự vật ung dung như người tay cầm chiếc quạt, đan bằng nan quạt ý tình, gấp là nắm đấm, xòe thành bàn tay, nhưng cùng chung “nhài quạt” của một tâm hồn đa dạng phong phú, từ đó đã gợi lên “dây truyền động” của sự vật bên ngoài và vòng tuần hoàn của vật chất bên trong vận hành giữa vô thủy vô chung.


Thơ Trần Đăng Khoa đã có “hình tượng bên trong” xuất phát từ “tài liệu kinh nghiệm” đã thoát ly khỏi kích thích ban đầu, nên không phải là ẩn dụ, tức dùng một cái biểu đạt (signifier) thay thế cho một cái được biểu đạt (signified) theo quan niệm của chủ nghĩa cấu trúc, mà đã thành “cái biểu đạt trôi nổi” (floating signifier) theo quan điểm của chủ nghĩa giải cấu trúc. Chẳng hạn như:


Trăng tròn như quả bóng


Đứa nào đá lên trời


Kìa cô Thị Mầu lên chùa


Đỏng đảnh dáng đi, mắt liếc


Ngắm cái tay cô phẩy quạt


Tưởng mình sống trăm năm


Theo Robert Humphrey, trong tự do liên tưởng của tác giả, tâm trí (the mind) là một cái riêng có, thông qua tự do liên tưởng liền có thể hiểu được cái ảo diệu trong đó, lô-gích đặc thù của tự do liên tưởng khiến tác giả có chỗ nương dựa, mà độc giả cũng có thể căn cứ vào cấu thành trong đó mà đi theo. Tự do liên tưởng có thể khiến các thứ ý thức đặc biệt thông qua kinh nghiệm cá biệt và tài liệu hiện có trình hiện ra một thứ mô thức (pattern) mỗi cái đều liên quan với nhau. Như vậy mới có thể biểu hiện được “chân thực của sinh mệnh nội tại” (the reality of inner life).


Sự phát triển tự do liên tưởng đánh dấu độ chín trong thơ tuổi thơ của Trần Đăng Khoa, khiến thơ Khoa có sức khái quát hơn, tư tưởng sâu hơn nhưng vẫn không mất cái cái hồn nhiên. “Đứng canh trời đất bao la, Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi”. Chính cái “chơi chơi” ấy tạo nên phong cách độc đáo của thơ Khoa để thành một chỉnh thể và một đơn vị để tiến hành nghiên cứu nhất quán và nghiêm túc.


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 







[1] Thế giới coi là ý chí và biểu tượng.


 




[2] Vấn đề mỹ học của nghiên cứu văn học.


 




[3] Cao Hữu Công – bài đã dẫn.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »