tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682437
Lý luận phê bình văn học
05.09.2009
Hoài Anh
Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi: đất và khát vọng

Đã nhiều năm bầu trời Việt Nam như vỡ ra, đất bị cày sâu xuống vì tiếng nổ của đủ loại bom, đạn, tên lửa, mìn... mang đủ các nhãn hiệu sản xuất trên thế giới, người ta đã đinh tai nhức óc vì những tiếng động ầm ầm, chát chúa, lúc bấy giờ người ta thèm nghe tiếng nói ngọt ngào nhưng có lõi cứng ở bên trong, thủ thỉ nhưng xoáy sâu vào lòng người, ấm áp để truyền vào tim người niềm tin và hy vọng, lạc quan để nâng người ta vượt lên những gian khổ bận rộn ngày thường. Muốn thế, nhà thơ phải có một nội lực để điều khiển tiếng phát âm của mình, vừa đủ nghe chứ không ồn ào, thành thật chứ không khoa trương, chân chất mà không thô tháp, tinh tế mà không phù phiếm. Thơ giống như một khúc đàn, buông bắt khôn khéo chỉ lên cao hơn một độ hay xuống thấp hơn một độ là mất cái hài hòa.


Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm tôi liên tưởng đến một khúc đàn tranh của một nhạc sĩ Huế. Cái mô của đàn tranh vừa đủ cho liên âm 16 dây, bốn thì nhiều, hai thì ít: hoặc khít, hoặc thưa, đờn không tiện. Đàn tranh giọng gắt (như tiếng của sắt kêu) thanh tao, dịu như tơ, êm như nhung, lên thật bổng, xuống thật trầm, ngọt ngào, lắm khi sâu sắc. Nhẹ như bấc, mà cũng nặng như chì trong mấy tiếng nhấn vuốt độc. Đêm thanh canh vắng, có nghe xa mới rõ, nó dường như tiếng người đẹp thoang thoảng êm dịu rót vào tai. Chữ “á” trên rớt xuống như một trận mưa tiếng ngọc tiếng vàng, hoặc róc rách như nước khe suối trong rừng sâu mới chảy. Chữ nhấn vuốt một điệu riêng của đàn tranh, cảm động tê tái tấm lòng. Tiếng nhấn nghe ngọt dịu, mềm mại lại thêm bề thâm sâu cho tiếng đờn, đã sắt.


Nhạc Huế chịu ảnh hưởng nhạc Trung Hoa và nhạc Chăm để làm ra điệu Nam ai, Nam bình, không có giọng Oán của nhạc Nam Bộ chịu ảnh hưởng của nhạc Khmer. Nhưng những điệu Nam xuân và Đảo ngũ cung lại là điệu riêng biệt của Việt Nam, độc lập và phong lưu.


Thơ Nguyễn Khoa Điềm có bài có cái vui khỏe khoắn tươi lành của điệu Nam xuân, dùng ngũ cung đúng, như bài Màu xanh lên đường:


Trong trẻo suốt một đời


Những hàng mưa dưới lá


Rừng gọi tên tôi thế đó


Những hạt mưa rừng trong trẻo rơi


Những hạt mưa rừng ơi


Rung vang trên mặt lá


Những hạt mưa rừng ơi


Treo sáng quanh vành mũ


Mưa không trôi màu xanh mặt lá


Mưa không trôi màu xanh bầu trời


Tôi đi qua mùa mưa


Thấy áo xanh màu khói lá


Thấy ngón tay bồi hồi như mỗi chồi non


Chào cả mùa xuân đến sớm


Sáng tay tôi lên đường


Tiếng nhạc Nam xuân như những hạt mưa xuân gieo lanh canh, qua những luyến láy những hạt mưa rừng ơi, đến những đoạn đảo phách, mưa không trôi màu xanh mặt lá, mưa không trôi màu xanh bầu trời, qua câu bắc cầu tôi đi qua mùa mưa, bắt sang câu thấy áo xanh màu khói lá, tiếng “lá” như tiếng “á” như trận mưa rừ trên rớt xuống, rồi đến chữ nhấn vuốt Thấy ngón tay bồi hồi như mỗi chồi non nghe ngọt dịu, mềm mại mà gợi cảm sâu xa.


Thơ Nguyễn Khoa Điềm có bài có cái buồn nhẹ nhàng mà sâu lắng của điệu Nam bình, dùng ngũ cung lơ lớ, như bài Khoảng trời yêu dấu:


Khi nhà em ở phía đông


Mỗi ban mai, mặt trời hồng chỗ em


Tưởng như em đó bên thềm


Hồng hào chải mái tóc mềm xuống vai


Lòng anh bát ngát ngày dài


Mênh mông hoa lá mang hoài nắng em


Hỡi người con gái dịu hiền


Hóa thân làm mặt trời bên cuộc đời.


Tiếng đàn thanh tao dần chuyển thành tiêu tao, tức là có sự chuyển hệ (métabole) sang lớp mái:


Yêu em, yêu cả khoảng trời


Sương giăng buổi sớm, nắng dời chiều hôm


Tháng tư giông chuyển bồn chồn


Hạt mưa vây ấm, nỗi buồn cách xa


Có nỗi buồn nhưng không não ruột “tiếng buông xé lụa”, mà đoạn cuối tiếng đàn tươi lên, ấm áp như đoạn đầu:


Phía em, phía của quê nhà


Trắng là tóc mẹ, xanh là áo em


Anh đi kháng chiến trăm miền


Hướng dương thương nhớ vẫn nghiêng phía này.


Thơ Nguyễn Khoa Điềm có những đoạn đảo phách, chuyển điệu của bản Đảo ngũ cung. Như trong bài Đất nước.


Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu


Mà khi về thì đất nước mình bắt lên câu hát


Người đến hát khi đến chèo đò, kéo thuyền vượt thác


Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi


Người ta dạy nghèo ăn cháo ăn rau


Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi


Cái cuốc con dao đánh lừa cái tuổi


Chén rượu đánh lừa cơn mỏi cơn đau


Con nộm nang tre đánh lừa cái chết


Đánh lừa cái rét là miếng ăn trầu


Đánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặt


Đánh lừa thằng giặc là truyện Trạng Quỳnh.


Học tập đồng dao nhưng không nôm na, dài dòng, tiếng đàn lại chuyển điệu, cất cao trong câu:


Nhưng lạ lùng thay nhân dân thông minh


Không đánh lừa ta dù ca dao cổ tích


Tiếp đó tiếng đàn lại thanh thót trầm bổng, dìu dặt, thênh thang:


Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật


Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời


Dẫu phải khi cay đắng dập vùi


Rằng cô Tấm cũng về làm Hoàng hậu


Cây khế chua có đại bàng đến đậu


Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta


Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa


Hoa của đất người trồng cây dựng cửa


Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa


Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào


Ta nghẹn ngào đất nước Việt Nam ơi


Từ chỗ vào đến chỗ ngắt (syncope) ngào đàn gõ nhịp song loan, nhạc vút lên chủ âm (leitmotiv) đất nước Việt Nam ơi, tiếng đàn ngân nga luyến láy dư âm mãi không cùng.


Những bài ca Huế, dù thuộc điệu Nam hay điệu Bắc, là những lời ca tuân theo nét nhạc, có gieo vần ở cuối câu. Hơn nữa, ca Huế rất ít dùng những tiếng đệm và chỉ có láy mà thôi. Nhịp điệu của ca Huế rất chững chạc, khoan thai, nghệ sĩ chỉ trau chuốt tiếng đàn, tạo cái khó trong giai điệu hơn là trong tiết điệu. Ngoài kỹ thuật đặt câu đàn hay câu hát vào nhịp nội hay nhịp ngoại, nhạc sĩ Huế chỉ làm công việc thay đổi tốc độ của bản đờn, bài ca. Ví dụ: Lưu thủy chậm, Lưu thủy lanh.


Nghệ thuật hòa tấu ở đấy là sự sáng tạo những ngón đàn hay, đặt những tiếng đờn hay câu hát chính vào nhịp ngoại. Lối hòa tấu của đàn Huế cũng gần như lối đánh nhạc jazz của Hoa Kỳ: cùng khởi tấu một bản đàn, các nhạc công tùy hứng đánh, miễn sao không ra ngoài những cung bắt buộc ở những điểm đã quy định. Và cuối bài mọi người phải gặp nhau ở chỗ hết.


Ta thấy bài Những bài hát, con đường và con người, có cấu trúc âm nhạc giống như bản đàn Lưu thủy chậm:


Những bài hát không ai hát nữa


Đã vỡ trên môi anh ngọn gió dịu dàng


Sẫm bên đường mỗi sợi cỏ hoàng hôn


Nghe thương mến lại thắp từng ngọn lửa


Những bài hát không ai hát nữa


Đã vỡ trên môi anh ngọn gió dịu dàng


Những con đường không ai trở lại


Đã xuyên qua anh những mạch máu âm thầm


Anh nghe đập những bước chân đồng đội


Bao lối mòn chớp lửa chiến tranh


Những con đường không ai trở lại


Đã xuyên qua anh những mạch máu âm thầm


Những con người không ai gặp nữa


Đã đặt lên vai anh gánh nặng cuối cùng


Bao khuôn mặt gầy xanh, mơ mộng


Như cánh rừng, đã thuộc về anh


Những con người không ai gặp nữa


Đang sống cùng anh trọn tuổi xuân...


Đoạn đầu, những câu Những bài hát không ai hát nữa được láy hai lần, khi hòa tấu đến lần láy thứ hai, các nhạc công phải gặp nhau ở điểm quy định, sau đó đến câu ở nhịp ngoại Đã vỡ trên môi anh ngọn gió dịu dàng, chữ “vỡ” được nhấn vuốt. Nói theo cách nói của hai nhà ngôn ngữ học Smirnov và Skolov, chữ vỡ cũng như chữ xuyên (đoạn hai), chữ sống (đoạn ba) là “điểm tựa” về ý câu thơ, giống như quan niệm phương Đông gọi đó là “nhãn tự”.


Đoạn hai Những con đường không ai trở lại, và đoạn ba Những con người không ai gặp nữa cũng có khúc thức giống như đoạn một. Nhưng ở cuối đoạn ba, nhạc vút lên chứ không trầm xuống như ở cuối đoạn một và đoạn hai.


Bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, thì đã là một bản nhạc độc lập, réo rắt, rắn rỏi, hòa với nhịp chày “cắc cùm cum” và tiếng đàn Ta lư, T’rưng, Brọ. Lời ca vừa dứt thì âm thanh trầm hùng của những chiêng núm hòa với những âm thanh cao vút của chiêng bằng trong tiết tấu rộn ràng của trống H’gor tạo thành âm thanh hùng tráng, náo nức:


Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi


Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ


Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội


Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng


Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi


Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối


Lưng đưa nôi và tim hát thành lời


- Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi


Mẹ thương a kay mẹ thương bộ đội


Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần


Mai sau con lớn vung chày lún sân...


Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi


Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ


Mẹ đang trỉa bắp trên núi Ka Lưi


Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ


Em ngủ cho ngoan em đừng làm mẹ mỏi


Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi


Mặt trời của mẹ thì nằm trên lưng


- Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngon a kay hỡi


Mẹ thương a kay mẹ thương làng đói


Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều


Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi...


Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi


Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ


Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng


Thằng Mỹ đuổi ta phải rời con suối


Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông


Mẹ em địu em đi để đánh trận cuối


Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường


Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn


- Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngon a kay hỡi


Mẹ thương a kay mẹ thương đất nước


Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ


Mai sau con lớn làm người tự do...


Bài thơ không cần phổ nhạc, mà đọc lên vẫn nghe ra nhạc điệu, nhưng đó không phải chỉ là những đoạn lời có âm điệu giống nhau để khi hát lên coi là lời 1, lời 2, lời 3 và đoạn điệp khúc, mà qua từng đoạn, ý thơ được phát triển từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ cái riêng đến cái chung, người đọc tưởng chừng nghe thấy cả quá trình đất nước lớn lên trong những ngày đánh Mỹ và đứa trẻ cũng lớn lên trên lưng mẹ, hai hình ảnh này song song với nhau và cùng phát triển lên đến mức độ cao nhất, lớn nhất và cái riêng quyện chặt với cái chung. Hình ảnh và ngôn ngữ ở đây phù hợp với cách ví von, cách nói của đồng bào Tây Nguyên, vừa được nâng cao thành hình ảnh và ngôn ngữ mang dấu ấn của phong cách tác giả. Những cặp có sự đăng đối nhau trong dạng thức, nhưng lại nâng dần lên tới một bát độ. Từ Mai sau con lớn vung chày lún sân, đến Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi, cho đến Mai sau con lớn làm người tự do, cái lớn lên ở đây được tính bằng cấp số nhân, giống như cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta, vừa gợi lên hình ảnh Thánh Gióng phải vươn vai lớn lên cho kịp với nhiệm vụ đánh giặc cứu nước mà Tổ quốc giao phó cho.


Lời thơ gợi lên âm hưởng bài hát trong “Lễ chúc sức khỏe” của người Gia-rai, Ba-na, Ê-đê:


Mong cho cây le đến tuổi thành đạt


Cây măng chóng mọc là cành


Mong con khỏe như con hổ


Đi nhanh như gió


Chúc con chạy nhanh kịp mưa


Nhảy cao đầu chạm ngôi sao trên trời...


Bài thơ không chỉ mang chất hùng tráng, vui tươi của âm điệu Tây Nguyên, mà còn vận dụng được lối so sánh độc đáo, và có những liên tưởng thú vị của Kleiduê của người Ê-đê:


Em đang đi vấp phải quả bầu


Em dừng lại sửa váy


Em mang con như bắp trổ hoa


Lời ca vang lên hân hoan, sảng khoái khi con người sống và lao động hòa hợp với thiên nhiên:


Ơ bông hoa


Sao mày nở bằng cái nia phơi lúa


Chính giặc Mỹ xâm lược đã phá hoại cái hòa hợp đó, lời thơ Nguyễn Khoa Điềm gợi lên lời cầu trong “Lễ cúng bến nước”:


Trồng cây “lại” mau lớn


Trồng cây “táp” mau cao


Trồng hàng cây rào quanh làng cho vững


Không giặc nào đến làng cướp phá được...


Mối quan hệ giữa truyền thống và cách tân được thể hiện rõ trong bài Khúc hát ru của những em bé lớn trên lưng mẹ.


Có những bài thơ Nguyễn Khoa Điềm, từng chữ thơ không chỉ như từng tiếng đàn, mà còn là những tín hiệu thông tin thẩm mỹ được lựa chọn kỹ càng nên phải bình tĩnh, chậm rãi đọc và tiến hành một số thao tác phân tích văn bản mới thấm thía hết ý nghĩa của nó. Thí dụ như bài Mẹ và quả, mẹ và quả là những tín hiệu thẩm mỹ có lượng thông tin cao:


Những mùa quả mẹ tôi hái được


Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng


Những mùa quả lặn rồi lại mọc


Như mặt trời khi như mặt trăng


Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên


Còn những bí và bầu thì lớn xuống


Chúng mang dáng giọt mồ hôi mẹ


Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi


Và chúng tôi, một thứ quả trên đời


Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái


Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi


Mình vẫn còn một thứ quả non xanh


Theo lý thuyết ngôn ngữ văn bản, để trở thành một thông báo thì phải qua hai bước tuyến tính hóa và cấp hệ hóa. Tác tố có nhiều mối quan hệ với các tác tố khác nhiều nhất và có nhiều vai chủ động nhất ở đây là mẹ, do đó mẹ là chủ đề, không gian: vườn mẹ trồng cây và nhà mẹ nuôi con; thời gian: lúc mẹ còn khỏe và lúc mẹ đã già, là những thành phần của chủ đề. Tác tố còn lại: quả, là thuật đề. Cấu trúc mẹ – quả; là cấu trúc chung cho tất cả các cấp hệ. Để văn bản hóa thêm có thể cụ thể cấu trúc mẹ – quả bằng những cấu trúc như: cấu trúc tối giản: mẹ – quả; cấu trúc diễn dịch: mẹ trồng cây chờ hái quả; mẹ nuôi con chờ nên người; cấu trúc móc xích: quả lặn rồi lại mọc như mặt trời, khi như mặt trăng; con từ tay mẹ lớn lên, còn bí, bầu thì lớn xuống; cấu trúc quy nạp: bí, bầu mang dáng giọt mồ hôi mẹ, con là một thứ quả trên đời, sợ ngày bàn tay mẹ hái, mình vẫn còn là một thứ quả non xanh. Ở đây trục ngang (trục ngữ đoạn) của bài thơ: con sợ rằng mình không nên người, để phụ công nuôi dạy của mẹ, còn trục dọc (trục liên tưởng) là liên tưởng việc trồng cây chờ hái quả với việc nuôi con chờ nên người. Nói theo cách nói của Jakovson, thơ là sự phóng chiếu trục dọc lên trục ngang, trong bài thơ Mẹ và quả, sự phóng chiếu ấy diễn ra rõ và đẹp, làm nổi bật chủ đề. Theo lý thuyết sóng đôi, tất cả các phạm trù ngữ pháp chính là hình ảnh thơ. Tất cả những hình ảnh trong bài thơ đều sóng đôi: quả – con, lặn – mọc, mặt trời – mặt trăng, con lớn lên – bí bầu lớn xuống, bí bầu – giọt mồ hôi mẹ; bàn tay mẹ mỏi – quả mình vẫn non xanh. Hành vi văn bản (text act) đã khiến văn bản trở thành một “ngôn phẩm” (discourse) đặc biệt, có sự hoàn chỉnh về cả ba mặt hình thức – cấu trúc – nội dung.


Giữa những tín hiệu thẩm mỹ có tính đẳng cấu với nhau như cặp tín hiệu con – quả; quả lặn – mọc, như mặt trời – mặt trăng; con lớn lên – bí bầu lớn xuống, khác phạm trù, là cặp tín hiệu thẩm mỹ ẩn dụ; bí bầu – giọt mồ hôi mẹ, con chưa nên người – một thứ quả non xanh, cùng phạm trù, không có sự giống nhau bề ngoài, nhưng dùng quả non xanh để nói con chưa nên người lại có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân sinh rộng lớn hơn thì đó là cặp tín hiệu thẩm mỹ hoán dụ. Mẹ ở đây đã được nâng lên thành Người Mẹ nói chung, còn con đã trở thành chúng tôi, “từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả” như thơ Eluard. Nói theo cách nói của Yu.A.Filipiép, tín hiệu thẩm mỹ ở đây là những xung động (impuls) làm cho cả hệ thống cấu trúc hoạt động được, khiến lực lượng tổ chức của cấu trúc của chúng chuyển sang trạng thái biến đổi đẳng cấu (Isomorphisme) của tổ chức tâm lý, tổ chức này qua biện pháp phù hợp mà kích động tình cảm, ý thức và ý chí của người đọc.


Bây giờ ta thử đi sâu vào từng chi tiết trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Bài Những đồng tiền ngoại ô với hình ảnh cái quán nghèo ở ngoại ô Huế như “cái phao làm chuẩn trôi bập bềnh trên mức sống” của người dân lao động nghèo nàn dưới chế độ cũ:


Những đồng tiền ngoại ô


Đẫm mùi mồ hôi, dầu mỡ


Mùi nước mắm, cá khô


Cái nhàu trong bàn tay em nhỏ


Cái tròn vo trong cạp quần cụ già


...Ngoại ô mua nước mắm chai là ngày lĩnh lương


Ngoại ô mua kẹo nuga là ngày lĩnh lương


Ngoại ô ăn ruốc từng đồng là ngày cuối tháng


Ngoại ô uống rượu chửi con là ngày cuối tháng


Ở đây Nguyễn Khoa Điềm đã dùng chi tiết nhỏ những đồng tiền để nói lên cái lớn là cuộc sống của người lao động nghèo ngoại ô, với lối viết khái quát, cô đọng, tưởng như trần trụi nhưng lại gợi nhiều suy nghĩ. Ngày lĩnh lương, người nghèo vui vì có tiền, cho nên mua nước mắm chai để dành và tự cho phép mình được hưởng chút ngọt bùi. Nhưng đến cuối tháng, nước mắm chai cạn, tiền cũng cạn thì phải ăn ruốc từng đồng, nhân đó mà đâm ra bực bội đánh vợ chửi con. Chi tiết tưởng như rời rạc nhưng vẫn xâu với nhau thành một chuỗi.


Trong bài Từ những gì các anh trao, Nguyễn Khoa Điềm viết:


Khi đưa súng tì vai


Tôi thấy má mình tì má người đã khuất


....


Sau trận đánh phản kích


Trước chùa Bảo Quốc


Tôi nhận về một đôi dép lốp cao su


Quai sém thuốc bom, gót đọng máu thù


Anh ấy ngã trên lòng đường xuất kích


Đôi dép ngắn hơn chân tôi một tí


Tôi bỗng thấy mình đi bằng chân anh


Chi tiết Đôi dép ngắn hơn chân tôi một tí mang chất hiện thực làm nên tựa cho ý trừu tượng, khái quát Tôi bỗng thấy mình đi bằng chân anh, nghe xuôi hơn, rung cảm hơn, gây ấn tượng mạnh hơn.


Trong bài thơ dài Mặt đường khát vọng, với sự triển khai thơ phong phú, đa dạng, có khi anh thủ thỉ tâm sự:


Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ


Vô tư quá để bây giờ xao xuyến


Bèo lục bình mênh mang màu mực tím


Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông


Có khi hình ảnh được khắc họa bằng chi tiết sống động, đanh quánh có giá trị biểu tượng:


Khi tên lính Pháp cuối cùng đi đến trước dòng sông


Vươn qua mặt thành cầu soi mặt mình dưới nước


Nó bỗng nhổ nước bọt vào nơi nó vừa ngắm được


Khuôn mặt chủ nghĩa thực dân tan rồi trên sông nước quê tôi.


Bên cạnh những bài thơ ngổn ngang bề bộn những hình ảnh trần trụi, gồ ghề để cố gắng nắm bắt thực tế trong vỏ ngoài sần sùi của nó, Nguyễn Khoa Điềm cũng có những bài thơ trong suốt như Miền quê:


Lại về mảnh trăng đầu tháng


Mông lung mặt đồng bóng chiều


Tiếng ếch vùi trong cỏ ấm


Lúa mềm như vai thân yêu


Mùa xuân, là mùa xuân đấy


Thả chim, cỏ nội, hương đồng


Đàn trâu bụng tròn qua ngõ


Gõ sừng lên mảnh trăng cong


Có gì xôn xao đằm thắm


Bao nhiêu trông đợi chóng chầy


Đàn em tóc dài mười tám


Thương người ra lính hôm mai


Để rồi bao nhiêu gió thổi


Bên giếng làng, ngoài bến sông


Có tiếng hát như con gái


Cao cao như vầng trăng trong...


Trong bài Cẩm Sắt của nhà thơ đời Đường Lý Thương Ẩn có câu thơ có thể gọi là gần tới mức thơ thuần túy: Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ, Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên, được Nguyễn Du mượn để đưa vào Truyện Kiều Trong sao châu rỏ duyềnh quyên, Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông. Thơ Lý Thương Ẩn có cái thanh (trong) của trăng sáng trên biển xanh, nhưng vận dụng điển cố dù là lệ của người Giao đọng lại thành châu, hay ngọc trai giống như giọt lệ, đều mang cái bi thương, nên cái thanh là thanh lãnh (trong nhưng lạnh). Câu sau có cái noãn (ấm) của mặt trời trên ruộng Lam, nhưng lại nói “ngọc sinh yên” (ngọc sinh khói) có thể nhìn thấy mà không thể đặt ở trước mắt, cái ấm ấy đi kèm với cái mông lung hư ảo. Trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm vừa có cái trong (có tiếng hát người con gái cao cao như vầng trăng trong), vừa có cái ấm (tiếng ếch vùi trong cỏ ấm, lúa mềm như vai thân yêu) nên không bi thương. Nhưng nhà thơ cũng thả vào một chút sương mù (mông lung mặt đồng bóng chiều) để mặt trăng đầu tháng thêm lung linh, đưa vào chất tượng trưng (đàn trâu bụng tròn qua ngõ, gõ sừng lên mảnh trăng cong) để thơ thêm ảo. Cũng trong liều lượng như thế, khi viết: Truyền đơn giặc bên đường như xác lá, nhưng tất cả không thể nào đe dọa, anh viết tiếp Một giọt nắng lành chầm chậm chuyển qua vai, đó cũng là “ngón buông bắt nhặt khoan dìu dặt” của nghệ sĩ đàn.


Kinh Lễ nói: “Âm nhạc có liên lạc gần với phong hóa. Nghe tiếng đã biết nhạc, nghe nhạc để biết điệu, nghe điệu để biết ý nhạc. Nghe ý nhạc để biết việc chính trị của một nước”.


Ở đây Nguyễn Khoa Điềm đã khéo chọn điệu thơ với sự kết hợp những tiếng có tìm tòi, nên đã thể hiện được ý thơ trong cặp tín hiệu thẩm mỹ chủ yếu Đất và khát vọng.


Nhà thơ Ireland Seamus Heaney, giải Nobel văn chương 1995, trong tập tiểu luận Tính khôi phục của thi ca (The Redress of Poetry – nhà xuất bản Faber & Faber 1995) có viết: “Những bậc thầy của thi ca, những thi sĩ lớn, những hiền giả học rộng, từ thời Sir Philip Sidney cho đến Wallace Stevens trước sau đều cố gắng chứng minh rằng sự hiện hữu của thi ca – thứ thi ca nghệ thuật – là luôn gắn liền với sự hiện hữu của con người trong tư cách là những công dân của một xã hội, và rằng thi ca luôn có tính “hữu dụng hiện thực”.


... Đúng ra, tính “hiện thực” và “hữu dụng” trong một bối cảnh nào đó cũng từ trí tưởng tượng mà ra: chính thế giới hư cấu của thi ca và giấc mơ về những thế giới đổi khác đã nuôi lớn những chính quyền và những cuộc cách mạng.


... Wallace Stevens nói rằng sự cao quý của thi ca là ở chỗ: nó là một sức mạnh bên trong giúp ta chống lại một sức mạnh bên ngoài. Chính trí tưởng tượng đẩy lùi được các áp lực của thực thể. Stevens đã đi đến kết luận như thế trong bài tiểu luận của ông tựa đề “Hiệp sĩ cao quý và âm thanh của ngôn từ” (The Noble Rider and the Sounds of words) là ông muốn nhấn mạnh rằng những ngôn từ của ông được coi như không là gì khác ngoài âm thanh đơn giản của chúng.


... Stevens khẳng định rằng thi sĩ là một nhân cách có sức mạnh vì thi sĩ là kẻ tạo ra cái thế giới mà mọi người chúng ta hướng tới đó luôn luôn, dù một cách vô thức... Thi sĩ đem lại sự sống cho những ước mơ lớn mà không có những ước mơ đó chúng ta không thể chịu nổi thế giới này”.


Cái thế giới miền Nam sống dưới chế độ Mỹ – Ngụy mà Nguyễn Khoa Điềm đã phản ánh trong Đất ngoại ô là cái thế giới không thể chịu nổi, khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm và các nhà thơ Văn nghệ Giải phóng đã góp phần đem lại sức mạnh cho ước mơ lớn của mọi người vùng lên đấu tranh để thoát ra khỏi cái thế giới tàn bạo và ngột ngạt đó, để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc được thể hiện trong biểu tượng “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”. Lời trong Kinh Lễ và lời Seamus Heaney – một nhà thơ chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam – vừa khéo giúp tôi giải mã cặp tín hiệu thẩm mỹ Đất và khát vọng xuất hiện hầu khắp trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »