tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19728914
Lý luận phê bình văn học
07.09.2009
Hoài Anh
N A. Schole nghiên cứu kỹ sảo. Tiếp và hết


Từ James đến Conrad, ưu điểm của nhà tiểu thuyết hiện đại không chỉ ở ông ta hết sức chú ý đến phương thức biểu đạt, mà còn ở khi ông ta coi trọng cao độ sẽ từ trong đó phát hiện ra một đề tài mới, một đề tài quan trọng hơn. Dưới “ảnh hưởng to lớn của thiên kiến nghệ thuật” của James, Conrad và Joyce, hình thức của tiểu thuyết dài xảy ra biến hóa, theo với biến hóa của kỹ xảo, nội dung, quan điểm dĩ chí toàn thể khái niệm của tiểu thuyết cũng xảy ra biến hóa giống như vậy. Một điều giáo huấn mang tính quyết định của tiểu thuyết hiện đại là, kỹ xảo quyết không như Wells cho rằng là sự tình quan trọng hàng thứ, thứ suy tính bên ngoài và trò bịp mang tính máy móc nào đó, mà là một thao tác sâu kín, cơ bản; đó quyết không phải là bởi vì nó có thể phát hiện chúng. Nhà văn như Wells, hy vọng cấp cho chúng ta một bộ lịch sử của lý tính và đạo đức của thời đại chúng ta, đối với ông, giáo huấn là nghiêm trọng; nó nói với chúng ta, trật tự của lý tính và trật tự của đạo đức trong nghệ thuật căn bản không tồn tại, trừ phi đem chúng dựa theo trật tự của nghệ thuật tổ chức mới xong.


Tham vọng của Wells rất lớn. “Trước khi chúng ta hoàn thành tiểu thuyết, chúng ta nhất định phải đem toàn bộ đời sống nạp vào phạm trù tiểu thuyết”. Nhưng, đời sống sớm đã ở đó, trong phạm trù của tiểu thuyết; cái cần thiết là đưa nó vào trong từng cuốn tiểu thuyết một như thế nào. Chúng ta ở Wells nhìn thấy tất cả mọi đề tài quan trọng trong đời sống, nhưng, không có tiểu thuyết hay. Ông không phải là cần nghệ thuật quá mức, cũng không phải là cần nghệ thuật vừa đúng đến chỗ tốt; ông không cần gì hết - phàm là tất cả mọi cái mà nghệ thuật cung cấp, ông đều không cần.


***


Ở Mỹ trong 25 năm trước đây, chúng ta nhìn thấy rất nhiều tiểu thuyết dài dày cộp, nhưng, tác phẩm ưu tú lại lèo tèo. Nhà văn như James T. Farrell([1]) rõ ràng cho rằng, chỉ cần lặp lại không ngừng miêu tả lớp ngoài đời sống Mỹ, ông liền có thể viết ra tiểu thuyết lớp cảnh lớn như Ulysses. Thomas Wolfe([2]) lại cho rằng, chỉ cần đem tài liệu thô đầu tiên ông trải qua thổ lộ ra, ông cuối cùng có thể sáng tạo cho chúng ta một bộ sử thi. Không biết rằng, ngoại trừ từ trên ý nghĩa trực quan tự nhiên để nhìn, những người đó căn bản không thể coi là đang viết tiểu thuyết dài.


Tác phẩm của Thomas Wolfe chỉ là sổ chi thu hàng ngày, chủ nhà xuất bản của ông đem những sổ chi thu hàng ngày đó trùm lên ngoại hình tiểu thuyết dài, tác dụng rất xấu. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nghệ thuật là sáng tác, công tác độc nhất đó lại bị bút chì xanh và kéo của các ông lớn biên tập đồng bênh tương liên thay thế. Rất nhiều người vì cái đó mà vui sướng reo mừng, nhất là người trẻ tuổi, những nhà phê bình nổi ở bề mặt cho rằng phát hiện một thứ tài năng lấy không hết, dùng không kiệt, chỉ hy vọng thứ tài năng đó bị khống chế lại là tốt. Đó đúng là một thứ tài năng, nhưng nếu cho rằng bản lĩnh to, miệng như tép nhảy, thao thao bất tuyệt, kể chuyện một cách vô cùng vô tận và tiến hành mô phỏng thính giác là cái gọi là tài năng, thế thì tất cả những cái đó và chất lượng sáng tác của tiểu thuyết không có can hệ gì, bởi vì thứ tài năng đó nếu không đem khống chế, tài liệu thô không đem tổ chức, không có được nội dung, thế thì, cái chúng ta nhìn thấy chỉ là con người trơ trọi một mình và đời sống của y. Đàm thoại của Wolfe coi làm tiểu thuyết để đọc, cũng có thể sẽ không thua kém tác phẩm của ông ta, đương nhiên, điểm này còn chờ đợi chứng minh, nhưng cái đó lại không khác gì nói, tác phẩm của ông rặt là những tiểu thuyết nhạt nhẽo vô vị. Giống như đối đãi với Lawrence, phản ứng của chúng tôi đối với tác phẩm của ông lại không phải là quyết định ở chất lượng của tiểu thuyết, mà là quyết định ở phản ứng đối với ông và một thứ khí chất như vậy của ông. Cái đó kỳ thực là đổi một thứ cách nói nói Thomas Wolfe xưa nay không biết ông đang viết gì. Thời gian và dòng sông (Of Time and the River) chỉ là “lời mềm mỏng của con người và cái tôi của y” mà thôi. Thảng hoặc trong cách nghĩ của ông đối với bản thân và nghệ thuật bao gồm kỹ xảo và năng lực tìm tòi kỹ xảo, Wolfe là có khả năng từ đề tài đích thực của ông - hoang mang của một thiên tài lãng mạn chủ nghĩa viết ra một tác phẩm dài lớn; cái đó mới là đề tài đích thực của ông, một đề tài có phát hiện, chúng ta cần phải khai quật đề tài đó cho ông, mà ông vừa không có đèn cũng không có cuốc chim, không có cách nào từ trong mê cung của kinh nghiệm khai thác ra đề tài đó. Giống như Emily Bronte, Wolfe cần một thứ quan điểm vượt lên mình, đem tài liệu thô và hiệu quả của tài liệu thô khu phân ra.


Tình huống của Farrell vừa khéo ngược lại. Ông biết rất rõ đề tài của mình, cũng biết rõ mình muốn nói gì, nhưng ông quyết không cần thứ hình thức như tiểu thuyết dài. Sự kém vụng của phong cách ông, vượt hơn bất kỳ một nhà văn đang sống nào. Văn tự của ông chỉ là dùng để truyền đạt sự thực tối thiểu nhất mà thôi. Phong cách tin bài báo chí và ống kính báo chí đủ để thực hiện hoài bão của ông, lấy Leopardi Brome làm thí dụ, nếu ông ta được đặt dưới kỹ xảo của James Farrell sẽ rút nhỏ đến bước nào, tất cả đều rõ ràng. Dưới ánh mắt của một thứ kỹ xảo như vậy, tài liệu thô sẽ không phát dục bình thường, trên thực tế, nó chỉ xẽ héo quắt...


Thế kỷ 20 càng lúc càng nhiều nhà văn cảm thấy, phương pháp tự nhiên chủ nghĩa gán cho họ các thứ hạn chế, cản trở họ thông qua các thứ kỹ xảo để thăm dò tung thâm của đề tài, hạn chế nghiêm trọng độ rộng của ý nghĩa mỹ học và phản hưởng mà tác phẩm có thể đạt tới. Chỉ có James Farrell là ngoại lệ, ông rất mãn ý đối với kỹ xảo thô vụng của chủ nghĩa tự nhiên; không trách được tiểu thuyết của ông vừa lải nhải vừa nhạt nhẽo.


Đương nhiên, chủ nghĩa tự nhiên thế kỷ 19 vẫn có giá trị xã hội và giá trị chuyên nghiệp của nó; nó khiến tiểu thuyết túm được tài liệu thô trước đây chưa từng túm được, tiến hành phân tích đối với chúng; nhưng, dù cho như vậy, nó vẫn chưa thể nói cho chúng ta biết cái gì “chân thực đích thực” (lời Virginia Woolf), nó cũng không thể cung cấp một thứ phương pháp, đem hiện thực tổ chức lại ở hạn độ lớn nhất. Cái Flaubert gọi là lý tưởng thuần khách quan, ngày nay xem ra, dường như cũng thành một thứ hạn chế không cần thiết đối với khách quan, cơ hồ tất cả mọi nhà văn ưu tú trong thế kỷ 20 đều nói cho chúng ta biết, đối với trạng thái khách quan cũng hoàn toàn có thể làm được khách quan, giống như đối với sự kiện đời sống bề mặt ngẫu nhiên cũng có thể làm được khách quan vậy. Dublin trong Ulysses là một bối cảnh của đạo đức; không chỉ là London mà Dickens đã dùng ngọn bút tự nhiên chủ nghĩa miêu tả, mà còn cũng là một bức tranh của tinh thần thế giới hiện đại, trong đó tràn đầy các thứ tối tăm quanh co, khó mà biểu đạt mục đích. Lớp hiện thực thứ hai này sẽ không xóa bỏ lớp hiện thực thứ nhất, nhà văn như Joyce liền nói cho chúng ta biết, một nhà nghệ thuật chỉ cần thực sự coi trọng phương thức biểu đạt, ông ta hoàn toàn có thể làm được khách quan ở hai phương diện. Cái chúng ta cần trong tiểu thuyết là đối với mỗi một thứ kỹ xảo đều bảo trì trung thực, nó có thể giúp chúng ta khai quật đề tài, bình giá đề tài, đương nhiên không phải là chỉ ở đó, còn có thể phát hiện hàm nghĩa rộng rãi hơn mà đề tài có thể dính dấp đến.


Đại đa số nhà văn hiện đại đã nhận thấy thứ yêu cầu này. André Gide để một nhân vật chính([3]) nhà nghệ thuật dưới ngòi bút ông tiến hành một phen quan sát, rất tương tự với quan sát của Wells mà chúng ta đã nói đến. “Tiểu thuyết của tôi không có chủ đề... Nếu anh đồng ý, có thể nói nó không chỉ một chủ đề... Phản ảnh như sống thật một trắc diện của đời sống hiện thực”, nhà tự nhiên chủ nghĩa nói. Kết quả, trường phái đó vẫn là từ phương hướng dọc hết lần này đến lần khác cắt lấy mặt cắt. Tại sao không cắt lấy từ phương hướng ngang? Lại tại sao không cắt lấy từ độ sâu? Mà tôi dứt khoát không cắt lấy. Xin mọi người tha lỗi, tôi hy vọng tiểu thuyết của tôi có thể bao gồm tất cả”. Wells tuy có một khối tài liệu thô lớn bằng nhau, nhưng ông không biết cắt lấy như thế nào mới có lợi cho tiểu thuyết. Gide tiến hành cắt, đương nhiên, ông trên phương hướng của tất cả mọi khả năng hạ dao. Ngoài Gide ra, còn có một số người cũng là như vậy. “Cắt” mà họ tiến hành, chính là phương pháp của kỹ xảo mới tiểu thuyết hiện đại cung cấp cho. Trong những phương pháp này, cũng có thể không có bất kỳ thứ nào quan trọng hơn so với cái gọi là “tiểu thuyết âm nhạc hóa” mà Aldous Huxley sau Gide lóe sáng đề xuất. Nó là kết quả của kế thừa phái tượng trưng Pháp. Conrad là người đi trước của hai ông. Ông từng viết, tiểu thuyết “cần phải miệt mài tìm kiếm tính mềm của nặn tượng, màu sắc của hội họa và gợi ý thần kỳ của âm nhạc - đó là nghệ thuật trong nghệ thuật”. Khi bàn đến tác phẩm hay thời kỳ đầu, Trái tim đen tối tượng trưng chủ nghĩa lại nói: “Nó đúng là giống như một thứ nghệ thuật bộ mặt khác hẳn, chủ đề thê thảm đó cần phải có một thứ cộng minh lành dữ khôn phân, một thứ giọng điệu cơ bản độc đáo, một thứ dư âm, tôi hy vọng sau khi tấu lên nốt cuối cùng, dư âm đó vẫn vang vọng hồi lâu ở không trung và bên tai”.


Đem tiểu thuyết so sánh với âm nhạc, là không đúng, nó chỉ là một tỉ dụ, chỉ là chỉ ra kỹ xảo mà tiểu thuyết vận dụng mà thôi, không có ích gì đối với tài nghệ mà chúng ta lý giải. Tỉ dụ đó chỉ là vừa đúng đến chỗ tốt trong một tác phẩm, đó là một tác phẩm cuối cùng của Joyce, một tác phẩm có lực độ độc nhất vô nhị trong văn học sử Finnegan thức dậy. Ở đây, các độc giả bằng lòng dựa theo yêu cầu của Joyce để làm, đồng thời với việc phát hiện một kho báu vô cùng vô tận, nhất định sẽ cảm thấy một cách mạnh mẽ sự quan trọng của kỹ xảo đối với đề tài và tính không thể phân cắt của hai cái.


Kỹ xảo của chủ nghĩa tự nhiên tất nhiên làm yếu đề tài, mà còn thưởng thường khiến đề tài dừng lại ở chỗ cũ, tức trong phạm trù kinh nghiệm xã hội định nghĩa không rõ. Nhà văn trưởng thành trong truyền thống đó nhiều nhất cũng chỉ từ góc độ tiểu thuyết hạ một định nghĩa cho kinh nghiệm xã hội - chính như Sherwood Anderson, William Carlos Williams, Erskine Cadwell, Nathaniel Vister v.v... có khi làm, cũng giống như Erra Wofter biểu hiện trong cuốn sách Những người ở Tucker (Tucker’s People), nhưng họ vượt khỏi rất lớn phạm trù của chủ nghĩa tự nhiên, đem chủ nghĩa tự nhiên đẩy đến bước một thứ biến hình cong queo lạ lùng đặc biệt. Có một số nhà văn, sử dụng phương pháp này, nhưng lại cảm thấy tuyệt vọng đối với cục hạn của nó, do đó Dos Passos về kết cấu nghĩ ra cái khác hẳn, Steinbeck sử dụng kể chuyện xen nghị luận kiểu trữ tình. Những cái đó đều là cử động khi vạn bất đắc dĩ mà liều thử một keo của họ. Họ là một số nhà văn phái tượng trưng bị bỏ sót, họ cuối cùng đều diễn biến làm nhà văn phúng dụ.


Nhưng, những nhà tiểu thuyết thành tựu cực cao lại không chút nào lưu lại cho người ấn tượng vùng vẫy tuyệt vọng, kỹ xảo tinh vi của họ, nỗ lực cố mong khiến văn tự tăng sắc cho đề tài mà tiến hành, là tiêu chuẩn đánh giá thành tựu của họ. Mặt trời vẫn mọc của Hemingway và Người hành hương Houck của Grenvi Vescote được công nhận là kiệt tác nghệ thuật, quyết không phải là bởi vì phù hợp với cách nhìn mà chủ nghĩa tân cổ điển ngoại tại giữ đối với hình thức, mà chính là bởi vì hình thức và đề tài của chúng ăn nhịp nhất trí, bởi vì trong phong cách của chúng bao hàm bình giá đối với đề tài.


Hemingway không lâu trước đây đã nói, cống hiến của ông đối với nhà văn thế hệ trẻ ở chỗ ông tiến hành một số thuần hóa cần thiết nào đó đối với ngôn ngữ, nhưng cách nói đó lại rất khiến người nghi ngờ. Cống hiến văn tự của ông là nhằm vào đề tài mà nói, tác phẩm thời kỳ đầu của ông nổi tiếng về giản dị gọn gàng, nhưng thứ giản dị gọn gàng ấy đã chết, không có giá trị gì nữa. Chính như cái quái dị mà rối loạn của Faulkner, cái lạnh lùng sâu xa mà mềm mại của Vescote vậy. Đề tài thời kỳ đầu của Hemingway là sự cạn kiệt của giá trị, văn phong chất phác không hoa mỹ của ông tiến hành sự tìm tòi kỹ lưỡng tế vi đối với đề tài, khiến cho nó tăng sắc rất lớn, một truyện của ông tiếp liền một truyện, bản thân phong cách của chúng là ám thị cái vô vị của đời sống, ngoài cái đó ra, bản thân tiểu thuyết thông thường mà nói, thứ phong cách đó lại là một thứ bổ sung kỹ thuật tốt nhất; nó biểu đạt và đánh giá cực tốt quan niệm đạo đức lạ lùng đặc biệt của những nhân vật thân thể khỏe mạnh mà nói năng ấp úng dưới ngòi bút của ông. Khi Hemingway tiến vào đề tài khẳng định đối với giá trị xã hội mà ông không mấy quen thuộc, phong cách của nó đứt đoạn nửa chừng, đó là một giáo huấn có ích: phong cách của ông đứt đoạn một cái, hiệu quả như đau khổ khó nói mà bớt chữ tiếc câu tạo thành liền biến mất, cá tính của nhà văn, một khi mất đi sự bảo hộ do phong cách thích đáng hình thành, liền lộ ra góc cạnh khiến người không thích, sự hoàn chỉnh và kết cấu của tác phẩm liền sẽ xuất hiện lỏng lẻo. Ngược lại, trong truyện và tiểu thuyết thời kỳ đầu của ông, phong cách của ông là sự thể hiện hoàn mỹ nhất của đề tài. Nó khiến hiệu quả và ý nghĩa của đề tài có được sự mở rộng kinh người.


Lời của Buffon([4]) nên sửa lại, nên nói phong cách tức đề tài. Người hành hương Houch của Vescote là một cuốn tiểu thuyết bởi thiếu đề tài rõ ràng mà khiến rất nhiều nhà phê bình có thiện ý cảm thấy hoang mang không hiểu. Trong cuốn tiểu thuyết này, đề tài và câu chuyện lại một lần biểu hiện ở phong cách. Quan điểm của cuốn tiểu thuyết này đầu đuôi nhất trí, đúng là khiến người khen là tuyệt hay, nhưng nếu chúng ta thử từ trong quan sát đối với nhân vật của người kể chuyện lấy ra một câu chuyện, thì nhất định sẽ nghĩ trăm cách mà không hiểu nổi. Mà một khi chúng ta đem quan sát của ông ta coi thành quan sát vô ý gián tiếp tiến hành đối với bản thân ông ta, thế thì một câu chuyện mạch lạc hết sức sáng rõ sẽ vọt ra trên giấy, lớp ý nghĩa của nó xuất ra dư vị không cùng, giống như thơ trữ tình xuất sắc nhất khiến người thấm thía dư vị vậy.


Hemingway thời kỳ đầu hết sức coi trọng phương thức biểu đạt, Vescote có lúc là như vậy, kết quả của việc làm như thế cũng có thể nhìn thấy ở bất kỳ nhà văn ưu tú nào. Phong cách rối loạn hỗn tạp của Fauklner hoàn toàn nhất trí với kết cấu siêu thoát của ông, hai cái hòa tan với nhau, tái hiện một cách tuyệt diệu mê cung của đạo đức mà ông thăm dò, tiểu thuyết của ông có thể hết lần này đến lần khác vời gọi ra một bức tranh thế giới đổ nát trong lòng độc giả, những mê cung đạo đức ấy tồn tại ở trong đó. Phong cách cao nhã mà cảm lòng người của Katherine Anne Porter giống như Eudora Welty và Jane Staford, đúng là hay không kể xiết, nhưng so với người sau, lại thiếu một thứ giá trị thiếu mỹ học; giá trị của nó ở chỗ bà dùng một thứ phương pháp vi diệu, đem các thứ chi tiết có thể cảm thụ hóa làm từng tượng trưng một, tượng trưng đan xen ngang dọc cấu thành câu chuyện, tác giả và độc giả đều có thể lĩnh hội một thứ kiến giải đạo đức thuần túy, mà còn có thể kiểm nghiệm nó chính xác hay không. William Saroyan chỉ coi trọng khí chất cá nhân, nếu chúng ta so sánh ông với những nhà văn kể trên, thì sẽ phát hiện một cách kinh lạ, phong cách của ông quá không chịu trách nhiệm, tác phẩm của ông cơ hồ hoàn toàn không có chủ đề, không có đề tài rõ ràng, khắp chốn đầy dẫy tình tự không chút liên can với nhau. Nhà văn như vậy thế tất thành một nhà cảm thương chủ nghĩa, bởi vì ông không có thước đo đo lường tình cảm của mình. Nói đến cùng, kỹ xảo là thước đo.


Từ Defoe đến Porter, tài năng của những nhà văn này cao thấp khác nhau, mà kỹ xảo và tài năng dứt khoát là hai chuyện. Joyce nói với chúng ta thế này, mà Lawrence dù cho coi là một bậc thầy kỹ xảo không đủ hoàn mỹ, ông lại nói với chúng ta thế kia, dù cho thường thường đi ngược lại với nghệ thuật. Chỉ là trong một số truyện nào đó và mấy bài thơ nào đó, khi yêu cầu của kỹ xảo không trước sau như một, khi đề tài của ông cũng không phải là mang tính tự truyện nữa, Lawrence mới dùng phương thức khác với Joyce đạt tới thành tựu mỹ học giống nhau. Emily Bronte hoặc có thể khi nhờ vào trực giác nắm được mâu thuẫn giữa đề tài và quan điểm mới đạt được thành tựu giống như vậy. Điều kỳ quái là, Hemingway cũng có tình huống giống như vậy, chỉ nhờ vào trực giác của mình, tác phẩm thời kỳ đầu của ông có thể trong một khoảng hư vô tái hiện ra lớp cảnh động lòng người.


Nhưng bất luận đối với tài năng và kỹ xảo bao dung như thế nào, người ta nói tiểu thuyết hiện đại nhiều nhất chỉ là có hiểu biết đặc biệt đối với tự thân và đối với phương thức biểu đạt cũng không dẫn tới có nguy cơ thông thường hóa. Yêu cầu kỹ xảo của tiểu thuyết hiện đại hết sức khắt khe, cái nó miệt mài tìm kiếm không chỉ là sự hoàn chỉnh của đề tài, cũng không chỉ là những đề mục và chủ đề nào đó, mà là toàn thể ý thức hiện đại. Nó phát hiện tinh thần hiện đại đan xen phức tạp, sự rối rắm về đạo đức cá nhân, và sự tồn tại của cái ác - tất cả mọi thành phần ẩn nấp mà khó nắm vững đều không phải là cái mà một thứ kỹ xảo bề mặt có thể ứng phó được. Nó nói cho chúng ta biết - dùng lời trong Thắng lợi của Conrad để nói - chúng ta đều ở vào một thời đại như thế này, “dường như khách trọ đặt mình trong một khách sạn sặc sỡ dị kỳ, ồn ào không ngớt bị làm cho luýnh quýnh” ánh đèn mạnh mẽ chiếu sáng bốn chung quanh chúng ta, lại giống như khí giới sắc bén, đâm thẳng vào nội tâm hoang mang bất an của chúng ta. Cái đó quyết không phải là hai chuyện, nhưng chỉ có kỹ xảo thích đáng mới có thể nhìn ra chúng là một chuyện. Ở Farrell hiện thực chủ nghĩa, chúng ta chỉ nhìn thấy hoàn cảnh, tức cái chúng ta từ trên báo chí nhìn thấy; ở Wolfe chủ quan chủ nghĩa, chúng ta chỉ nhìn thấy hoang mang bất an, tức cái chúng ta ghi chép trong nhật ký và thư từ. Nhà tiểu thuyết đích thực có thể khiến chúng ta kiêm được hai cái, từ đó mà tăng cường được hiệu quả của mỗi cái, và vạch rõ ra ý nghĩa hoàn chỉnh của mỗi cái.


Về tiểu thuyết hiện đại, Elizabeth Bowen([5]) khi bàn đến Lawrence nói: “Chúng ta cần lớp ngoài của chủ nghĩa tự nhiên, nhưng bên trong của nó cần phải đốt lên ngọn lửa. Ở Lawrence, mỗi một bụi cây nước đều đang cháy. Bụi cây nước ở một số địa phương sẽ cháy được càng vượng so với một số địa phương khác, khi tưởng tượng tràn đầy tình cảm mạnh mẽ khi khổ công tìm kiếm kỹ xảo mà đột nhiên phát hiện mục tiêu, ngọn lửa đó sẽ cháy đến mức sáng trắng. Nếu tưởng tượng không phát hiện được bất kỳ mục tiêu nào, giống như tác phẩm của Wolfe và Saroyan, thế thì chỉ có cháy mà không có cây nước. Những nhà hiện thực chủ nghĩa cứng nhắc của chúng ta, vì đời sống mà phủ định nghệ thuật, kỹ xảo của họ vừa giản đơn vừa thô vụng - thí dụ như Defoe, Wells và Farrell - cái ở đó là cây nước, nhưng không có ánh lửa, những cây nước đó thoạt nhìn là cây nước, nhìn lại lần nữa, thì ra là chết rồi.


(Dịch từ “Tuyển tập danh tác lý luận văn nghệ phương Tây”)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info








([1]) James T. Farrell (1904-), nhà tiểu thuyết Mỹ, tiểu thuyết bộ ba Anh thanh niên Lonigan ở đường phố Chicago rất nổi tiếng.




([2]) Thomas Wolfe (1900-1938), nhà tiểu thuyết Mỹ, nổi tiếng vì biểu hiện chủ nghĩa cá nhân cấp tiến.




([3]) Edora trong “Bọn  làm bạc giả” (1927) - Tác giả chú.




([4]) George Louis Buffon (1707-1988), nhà văn Pháp, ông đã nói “Phong cách là người” - Tác giả chú.




([5]) Elizabeth Bowen (1899-1948), nhà tiu thuyết Ireland.





 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »